ĐOẠT HỒN KỲ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Đoạt hồn kỳ - Chương 66 - Chương 70

Chương 66: Bắc kiếm ẩn tung

Về sợi chỉ tơ đỏ trên cây Lãnh điện tỉ thủ của Tỉ Vương ấy, nay vẫn còn được giữ cẩn thận bên người Nam Bút tiên sinh, nghe đồn rằng dị bảo trong võ lâm Lãnh điện tỉ thủ này có quan hệ mật thiết với nhân vật thần bí là Tỉ Vương và nhân vật thần bí này đã quí trọng đến báu vật Lãnh điện tỉ thủ và thậm chí cả đến những sợi chỉ tơ đỏ, cho nên sau này đã nhờ đến Tứ Hung họ Đinh trên Vô ảnh Phong để cướp đoạt lại! Nên chỉ sự đoán xét của Độc chỉ Thôi Bác không sai lắm, sau khi những sợi tơ đỏ của Lãnh điện tỉ thủ bị đứt ấy, Tỉ Vương hình như đã vì luyến tiếc vật cũ này, rất có thể sẽ không thay thế bằng vật mới! Nhờ thế mà giải tơ đỏ nhỏ này sẽ là manh mối để tìm ra Tỉ Vương và Lãnh điện tỉ thủ ấy!

Thầy trò Nam Bút sau hồi thảo luận và kể cho nhau nghe từ khi chia tay, cuối cùng Thượng Quan Linh mới mặt đỏ lên nói với Nam Bút tiên sinh về chuyện đính hôn của mình với Liễu Mi ở Lãnh Hương Các và được Độc chỉ Thôi Bác đứng ra làm trung gian trong cuộc lễ đính hôn ấy.

Thượng Quan Linh tưởng đâu thầy mình sẽ mắng cho một trận nên thân, vì mối đại thù còn chưa trả, đã ngang nhiên dám tính đến chuyện tư tình trai gái thế! Cha mẹ đã mất, chuyện cưới gả này, đáng lý phải bẩm rõ với sư tôn, đâu có lý nào lại đi chuyên hành như thế? Tin chắc thế nào cũng bị quở trách. Nào hay Nam Bút nghe xong, chỉ mỉm cười gật gù, không những không quở trách, trái lại có ý thông cảm là khác, và đã cho Thượng Quan Linh hay, sau khi trả thù cho song thân, với danh nghĩa sư phụ, Nam Bút sẽ đứng ra làm chủ hôn lễ này cho chàng, và sẽ đưa chàng vào Thanh Thông Cốc để thành thân với nhà họ Liễu. Được vậy sau này hai người có hành hiệp song song trên giang hồ, cũng danh chính ngôn thuận, không bị mang tai tiếng gì trong võ lâm. Thượng Quan Linh bất giác cười thầm trong bụng, thì ra thầy mình cũng muốn mình mau mau lấy vợ như ông ta, để lập gia lập thất cho có căn cớ.

Vào trung tuần tháng mười một và sắp đến tháng chạp, Nam Bút tiên sinh bèn hợp cùng với Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Sở Canh khởi trình lên miền Bắc, nghĩ đến chuyến đi này, tránh không khỏi cảnh binh hùng trận hiểm, Hạ Quyên không nên theo trong cuộc hành trình này thì càng hay, Đinh Tàn nay đã đi xa, chắc không còn trở lại làm gì, Nam Bút đành để vợ ở nhà.

Một cuộc hành trình bắt đầu ngược lên miền Bắc, bốn người ròng rã hơn một tháng mới tới miền Bắc. Hôm đó đã gần tới Khảo Thành, ở đây cách Thanh Thông Hội không xa lắm, Liễu Mi bỗng nhớ đến cha già, trong lòng nao nao không được vui.

Suốt dọc đường lên Bắc kỳ này, họ đã không ngừng thăm dò tin tức ngấm ngầm, và được biết gần miền biên khu sa mạc cực Bắc ấy, sắp sửa có chuyện quan trọng xảy ra, Nam Bút đoán phỏng, chắc lại một thịnh hội gì đây, lão bà bịt mặt thế nào chả có mặt tại đó, thế là mọi người hấp tấp tăng thêm tốc độ cuộc hành trình để mau đến kịp.

Tuy gần nhà mình, nhưng Liễu Mi không nỡ vì chuyện riêng của mình mà phá hỏng chuyện công, nhất là chuyện đó lại liên can đến người tình lang của mình, đành phải tự buồn riêng trong đáy lòng. Lúc này đã vào hẳn tiết mùa Đông, trời đất âm u buồn tẻ, vừa lạnh vừa thê lương, qua khỏi Khảo Thành, đến ngay sông Hoàng Hà, giờ đây chỉ thấy mặt sông đóng thành băng tuyết, cứng lạnh hơn sắt, đoàn người ngựa tám mạng lướt qua mặt sông băng tuyết, dẫn đầu là Nam Bút tiên sinh, tiếp theo là Liễu Mi, Thượng Quan Linh, Sở Canh...

Phục trang của bốn người lúc này dày cộm hẳn nhưng không vì thế mà mất hẳn những sắc thái đặc biệt của mỗi người, lưng Nam Bút đeo cây cổ cầm Bát long ngân, Thượng Quan Linh đeo theo bên người cây kiếm Lệ thủy tinh, Liễu Mi sẵn có sắc đẹp đảo quốc khuynh thành, Sở Canh trời phú cho thân hình hộ pháp xuất chúng, và những thứ đặc sắc ấy gồm chung lại trong đoàn người lữ hành này rất dễ gợi nên tính háo kỳ của người đi đường. Liễu Mi vì nhớ đến cha già, lúc này nàng đang trầm tư, không hề để ý gì đến mọi chuyện xung quanh mình, Nam Bút và Thượng Quan Linh đều để ý đến phía dưới chân. Chỉ riêng Phích lịch nhị lang Sở Canh chẳng biết sự nguy hiểm là gì, nay đang đi trên mặt sông, trong lòng chỉ biết có một cảm giác là lạ, hết nhìn bên trái lại nhìn bên phải, thỉnh thoảng mỉm cười, vì thú vị và hay hay của cuộc hành trình này. Bỗng Sở Canh cảm thấy trong đám người qua mặt sông đây, như có một đôi mắt đang theo dõi mình, đến khi chàng để ý bỗng lại không thấy.

Sở Canh tuy lỗ mãng, nhưng cũng có lắm khi chàng tỏ ra nhanh trí vô cùng, lúc này Sở Canh vờ như không để ý đến, chàng vẫn lo cúi đầu đi, chờ đến khi đôi mắt bí mật nọ ngó đến, thình lình chàng ngửng đầu lên! Đối phương hấp tấp thu ngay tia nhìn lại, nhưng trong cơn chớp mắt ấy, Sở Canh đã nhận ngay ra đối phương, thình lình chàng quát tháo:

- À! Ra là mày đó à! Thằng chết bầm!...

Dứt lời tung giò đuổi theo chí mạng!

Thì ra tên này là bộ hạ của Bắc Kiếm trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt tên gọi Tiêu Ngũ, xưa kia trong cuộc tranh chấp của Phổ Côn với Thanh Thông Bang tại Thanh Thông Cốc, Sở Canh đã từng đụng độ, sau lại gặp nhau tại Nhữ Nam một lần nữa, nên nay Sở Canh vẫn còn nhận ra y. Sau tiếng quát của Sở Canh, Liễu Mi cũng nhanh trí buột miệng:

- Là tên Tiêu Ngũ!

Nam Bút, Thượng Quan Linh cũng vội hấp tấp theo sau. Nhưng chỉ thấy đám Tiêu Ngũ có đến trên mười người, lo theo phía sau một chiếc xe, mà không chen chung vào một đám người, cả đoàn đang lo tiến sang đối ngạn, Sở Canh vẫn lẽo đẽo theo sau nheo nheo gọi la:

- Thằng chết bằm... Đừng có chạy chứ!

Tiêu Ngũ và một người râu dài, thình lình quay người lại, thấy Sở Canh đến sát gần, cả hai đồng thời ra tay, chỉ thấy hai làn ánh quang sáng chói của hai ngọn chỉa lớn bắn vọt ra?

Nam Bút tiên sinh thốt lên tiếng:

- Nguy mất? - Vội tung mình vọt ngay lên.

Sở Canh đâu biết lợi hại gì, chỉ thấy hai cây chĩa thép nặng này lại không đánh sang hẳn phía mình, mà lại rớt ngay xuống trước mặt mình, và cũng ngay lúc đó, mặt băng bị trống hổng hai lỗ lớn tướng. Sở Canh cả kinh, tính ngừng ngay thế đuổi của mình lại, nhưng vì đà chạy của mình quá mau, không sao hãm lại kịp, toàn thân bị ngã thụp ngay xuống hố băng tuyết, và chìm dần xuống với tảng băng... Cơn nguy kịch đang diễn, đám Tiêu Ngũ cất tiếng cười ha hả, thình lình có một bóng xanh lao nhanh tới, túm kịp ngay thân Sở Canh kéo ngay khỏi cơn nguy.

Lúc này, tảng băng đá nứt bể thành một diện tích khá lớn, đám người qua sông đang rối rít la hoảng để tránh nguy, ai nấy thấy bóng xanh cứu được Sở Canh, thế nào cũng không khỏi bị nhào xuống hố băng tuyết. Nhưng trong các đôi mắt đang hồi hộp theo dõi, chỉ thấy bóng xanh hai chân khẽ khom, thình lình bung mình vọt bay bổng hẳn nơi hiểm địa, tay quắp theo chàng Sở Canh ướt sũng vọt ngang qua. Tiêu Ngũ và người râu dài nọ cười gằn lạnh lùng, lúc này hai người bốn tay, ai nấy cầm đầy ám khí, sẵn sàng vung ra. Thình lình hai tên này cảm thấy trước mắt hoa lên ánh bạch quang nhoáng nhoáng, một ngọn trường kiếm đã áp gần ngay trước mặt Tiêu Ngũ và quát ngay:

- Này Tiêu Ngũ! Có muốn sống không?

Đồng thời lại có tiếng lanh lảnh như con gái:

- Kìa! Bộ râu của ông còn chưa bị dê gặm hết sao mà nay lại dài đến thế?

Tiếp theo tiếng nói, cánh tay ngọc nhoáng nhanh qua phía cằm của người râu dài, khiến cho người này kêu đau thét lên.

Tà áo xanh của Nam Bút đang phùn phụt bay tới với thân hình ướt mèm của Sở Canh, đồng thời lên tiếng:

- Linh và Liễu cô nương hãy khoan đã!... - Quay nhanh sang phía Tiêu Ngũ:

- Tiêu Ngũ! Chủ nhân các ngươi đâu?

Tiêu Ngũ bị cây kiếm Lệ thủy tinh của Thượng Quan Linh quét nhanh một đường, đôi lông mày rụng xuống tua tủa, mặt cảm thấy rất lạnh, Liễu Mi càng hung dữ hơn Thượng Quan Linh, cánh tay ngọc giơ ra, cả một chòm râu của Tư Đồ Cống lại bị bứt trụi trơn. Hai người vừa tức vừa giận, nhưng vì khiếp oai của Nam Bút tiên sinh, nên không dám giở hỗn, vội cung thần bẩm ngay rằng:

- Chủ nhân hiện đang tại kinh đô, nay bọn tiểu nhân đang lo áp giải mớ hàng qua sông!

Nam Bút vốn là kẻ quân tử, nghe xong không nghi ngờ gì, nhưng Thượng Quan Linh nghĩ thầm ngay, đám bộ hạ của Bắc kiếm Phổ Côn, nay xuất hiện như thế này, không phải là chuyện ngẫu nhiên, chắc có liên quan đến chuyện đồn đãi gì với cuộc thịnh hội với Mạc Bắc? Nay tình cờ gặp chúng tại đây, thế là đã có người đưa đường chỉ lối cho bọn mình khỏi tốn thì giờ!

Nghĩ vậy bèn nói nhỏ với Nam Bút, bốn người lo theo dõi ngay mười người của đám Tiêu Ngũ và Tư Đồ Cống. Sau khi qua khỏi mặt sông Hoàng Hà, đám Tiêu Ngũ lo lên ngựa, ra roi cho sải về hướng Bắc. Quả đúng sự dự đoán của Thượng Quan Linh, bốn người lo theo ngay phía sau. Liễu Mi đi sau thấy hai cỗ xe này có vẻ kỳ lạ chỉ thấy mui xe cao ngồng, nàng lập tức nghĩ ra được vài phần, cười nói ngay với Nam Bút tiên sinh rằng:

- Thưa Nam thúc thúc, nếu ngài ngồi trong cỗ xe, chắc không bị đụng đầu nhỉ?

Nam Bút sực hiểu ngay, hai người ngầm trao với nhau một nụ cười thông cảm, lập tức cho ngựa sái nhanh tới phía xe, thình lình chia nhanh sang hai bên tả hữu của xe, nhanh như chớp mở bung ngay cửa xe. Nhìn vào trong, chỉ thấy một người ngồi uy nghi bên trong...

Nam Bút lên tiếng ngay:

- Đại sư huynh!

Phổ Côn Bắc Kiếm ngượng ngạo, cười không hẳn cười chậm chạp nói:

- Ừ! Lão tứ, đi đâu vậy?

Nam Bút trả đòn ngay rằng:

- Tiểu đệ đâu có thể quên được mối tình thủ túc của sư huynh đệ, nên ngược mạn Bắc cũng chỉ cốt thăm xem tin tức của Nhị sư huynh và Tam sư huynh ra sao...

Phổ Côn lạnh lùng rằng:

- Lão Nhị và lão Tam chỉ khéo bày trò rối rắm, đừng nói là hiện nay hai người không có mặt tại miền Bắc, dù cho có đi nữa, với sức của lão Tứ ngươi cũng không sao cứu nổi họ...

Câu nói này vô tình đã vạch áo cho người xem lưng, khác nào như đang nói Tây Đạo và Đông Tăng đang gặp nạn tại miền Bắc.

Nam Bút máu nóng sôi lên rằng:

- Vì hai sư huynh, dẫu cho tiểu đệ có phải đạp trên lửa bỏng đi nữa, cũng không thể nào từ nan cho được?...

Phổ Côn thấy Nam Bút đã kiên quyết như thế, không biết nói gì hơn, Nam Bút lại nói tiếp thêm:

- Nay dám phiền đại sư huynh cho biết, hiện nay Nhị sư huynh và Tam sư huynh ở đâu?

Phổ Côn Bắc Kiếm đâm ra do dự, Liễu Mi lên tiếng khích ngay:

- Thưa Nam thúc thúc, người ta là Bắc kiếm Phổ Côn dù sao cũng là một tôn sư của danh phái, nếu biết, thế nào chả nói rõ ra, nhưng e cho ngài có ẩn tình bí mật bên trong nên cảm thấy không tiện thố lộ cũng nên...

Phổ Côn Bắc Kiếm nhìn ngay Liễu Mi, nở một nụ cười miễn cưỡng và hình như đang công nhận lời nói của Liễu Mi là đúng. Nam Bút tiên sinh và Liễu Mi bất giác giật mình, nếu vậy thì Tây Đạo và Đông Tăng chẳng đã bị người giam cầm rồi sao! Nhân vật này khiến cả đến Bắc Kiếm cũng phải ngần ngại không dám nói thẳng ra!

Nhưng Nam Bút vẫn nhớ hai sư huynh của mình nên không ngần ngại theo sát xe hỏi rõ nguyên do. Phổ Côn Bắc Kiếm đành lạnh lùng rằng:

- Này Lão Tứ, đời người ta, ai cũng có lần chết, nhưng nếu biết mình có thể sống thêm được vài ngày nữa, ta tin chắc không ai dại gì đi tìm ngay cái chết cho mau đâu! Này, theo ta được biết, Tây Đạo, Đông Tăng tuy chưa bị chết, nhưng sự gần cái thết đã hiển nhiên, nếu hai chúng ta không đi tìm họ thì thôi, còn không, thế nào cũng chết chung một lúc với họ! Thử hỏi, như thế có ích gì! Chắc ngươi tưởng rằng ta không niệm tình thủ túc chứ gì? Nhưng có lẽ ngươi chưa nghĩ đến, ta đâu phải kẻ vô tâm, mà chẳng qua là không đủ sức... ta... hiện nay... hiện nay...
Giọng nói Phổ Côn hạ thấp và liếc nhìn xung quanh, hình như Bắc Kiếm sợ có người nghe rõ ý nói của mình vậy. Lúc này xung quanh xe, ngoài trừ Nam Bút, Thượng Quan Linh, Liễu Mi và Sở Canh ra, thì toàn là những thủ hạ tâm phúc của Bắc Kiếm đương nhiên là không sợ có kẻ lạ nghe lóm! Mà nhất là tiếng nói của Phổ Côn lại nhẹ thấp, thậm chí cả đến Thượng Quan Linh và Sở Canh cũng không thể nào nghe rõ, kẻ nghe rõ được chỉ có Nam Bút và Liễu Mi, người trước nghe được nhờ công lực, nhưng Liễu Mi chỉ nhờ nhanh trí của mình.

- Hà... - Tiếng thở dài chán nản, nhưng cũng được Nam Bút và Phổ Côn phát ra một lúc...

Liễu Mi giật mình, trong thời gian chớp nháy này, nàng hiểu ngay, vị Bắc Kiếm tuy là từng gây tai ác đa đoan trong giang hồ, nhưng nay xem ra hình như lão cũng còn nghĩ đến chút tình hương hỏa chi giao (kết nghĩa đèn nhang).

Nhưng nhân vật nào mà lại có thể giam hãm nổi Tây Đạo, Đông Tăng như vậy kìa? Khiến nỗi cả Bắc Kiếm cũng không dám ra tay để cứu? Nghĩ vậy Liễu Mi càng lắng tai theo dõi tiếng nói trong xe...

- Ta còn muốn sống thêm vài ngày...

Liễu Mi suýt kêu rú lên, Phổ Côn không dám đi cứu hai sư đệ, cũng không muốn Nam Bút đi mạo hiểm, như vậy đối phương phải là một tay lợi hại. Tây Đạo, Đông Tăng chỉ còn nước chờ chết, dù cho đi cứu cũng không cứu vãn nổi tình thế. Vậy nhân vật ghê gớm này là ai kia?

Với trí thông minh, và kinh nghiệm hiểu biết của vị thứ nữ Thanh Thông Bang, Liễu Mi quả không thể nào tìm ra được một người đệ nhất nào trong làng Hắc Đạo giang hồ cả? Những kẻ hơi có chút tiếng tăm, chỉ có Độc Ma Vô Phong ảnh, lão bà bịt mặt bí mật, nhưng với nhóm này, Thượng Quan Linh và Liễu Mi cũng dám ngang nhiên ra mặt chống đối với họ, lẽ đương nhiên không phải là hai người này!

Liễu Mi nghĩ ngay đến Tỉ Vương! Hành tung thần xuất quỉ nhập như thế, không lý chính người này sao? Liễu Mi cứ lo nghĩ quanh quẩn mãi đến vấn đề này. Đoàn người vẫn đang tiếp tục đi về hướng Bắc. Nam Bút đã bỏ ngựa vào ngồi chung trong xe với sư huynh Bắc Kiếm. Liễu Mi càng để ý nghe lóm cuộc nói chuyện của hai người. Từ lúc Nam Bút vào ngồi trong xe, tiếng nói đâm nhỏ hẳn, Liễu Mi không làm sao nghe được, nàng bèn đem những thắc mắc của mình nói với Thượng Quan Linh. Nhưng vốn là người ngay thắng, chàng chỉ ước mong trong chuyến đi này, làm sao mà tìm cách để thay đổi được tác phong khó tính của vị sư bá, khiến cho ông ta có thể hợp tác chặt chẽ với thầy mình để lo tìm kế cứu nạn cho Nhị sư bá và Tam sư bá. Với danh lừng lẫy Càn Khôn Ngũ Tuyệt xưa kia, ai mà không biết họ thuộc vào trung kiên phần tử trong nhóm người nghĩa hiệp, chỉ vì sau này, bỗng Bắc kiếm Phổ Côn sư bá biến chứng thay đổi tính nết, ba hồi ác ba hồi thiện, thanh danh bị lan truyền ra, khiến cho Càn Khôn Ngũ Tuyệt bị ảnh hưởng lớn. Nếu ngày nay Đại sư bá có thể thay đổi lại tính nết xưa kia quả là một sự mong ước và lý tưởng nhất của mọi người, Thượng Quan Linh với danh nghĩa là người nối nghiệp của Càn Khôn Ngũ Tuyệt, chàng đang cố cầu nguyện cho sự suy nghĩ của mình thành sự thực!

Thỉnh thoảng có tiếng đàn của Bát long ngân từ trong vọng ra, những âm thanh thánh thót này như đang kể lại những mối tình kết nghĩa của sư huynh đệ nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt... suốt dọc đường, đám bộ hạ của Phổ Côn Bắc Kiếm trầm lặng, Thượng Quan Linh và Liễu Mi cũng đang mãi lo suy nghĩ theo tư tưởng rối rắm của mình, nên cũng mặc họ, chỉ riêng có Sở Canh, thỉnh thoảng lo kiếm chuyện gây gổ. Nhưng Tiêu Ngũ và Tư Đồ Cống cố nhịn, Liễu Mi cũng phải lên tiếng can khuyên Sở Canh. Đoàn người vẫn kéo thẳng về hướng Bắc, trung tuần tháng chạp, họ đã gần đến Cư Dung quan khẩu của Trường Thành, chỉ thấy thiên hạ ở đây ai nấy đang lo sửa soạn để đuổi năm cũ để nghênh đón một cái Tết sắp tới thế mà đoàn người lữ hành của mười mấy mạng bộ hạ của Phổ Côn, cộng thêm với bốn người phía Nam Bút, ngựa, xe, vẫn tiếp tục vượt quan khẩu để lên ngược mạn Bắc hoang lạnh.

Thượng Quan Linh mãi nghĩ đến cách phục thù, trong lòng băn khoăn rối loạn; Liễu Mi lại nghĩ đến gia đình, vì hễ mỗi lần hết năm Tết đến, trong Thanh Thông Cốc vui nhộn hơn đâu hết, nhất là hai cô gái Thanh Thông Cốc, dù bận gì cũng lo về nhà đoàn tụ với cha già để ăn Tết. Nhưng năm nay khác lệ hẳn, Liễu Mi không biết chị Liễu Văn theo vị phiên tăng Thiên Trúc ấy đi về phương trời nào? Chắc họ không về Thanh Thông Cốc rồi, năm nay vắng bóng cả hai cô gái trong nhà, lẽ đương nhiên cha già buồn lắm. Càng nghĩ, nàng càng buồn, nhưng vì chồng chưa cưới của mình đang bận chuyện thù oán bên người, mà lúc này mình không thể nào bỏ rơi được, nàng cố miễn cưỡng đè nén nỗi lòng nhớ nhà của mình để cùng chịu lo chia xẻ mối nguy nan với người yêu trong lúc vất vả này!

Hôm đó đoàn người ngựa của họ đã đến Cư Dung quan khẩu những người từ quan ngoại về khá đông, nhưng lúc này kẻ ra đi tuyệt không hề thấy ai, thành ra đám quân canh cổng quan nhìn họ với những đôi mắt ngạc nhiên. Ra khỏi quan khẩu, dãy Trường Thành từ từ biến dạng sau lưng họ, cuộc hành trình vẫn tiếp tục âm thầm tiến về miền hoang vu lạnh lẽo của mạn Bắc. Nam Bút bỗng chui ra khỏi xe để đi ngựa, đồng thời ra tay vẫy Thượng Quan Linh, Liễu Mi và Sở Canh lại.

Thượng Quan Linh vội lên tiếng hỏi ngay rằng:

- Thưa thầy! Chúng ta phải theo Đại sư bá đi mới biết đường lối chứ?

Nam Bút tiên sinh chưa trả lời, Liễu Mi đã phì cười ngay rằng:

- Nam thúc thúc đời nào chịu ra tay không. Lẽ đương nhiên là thúc thúc đã biết đường biết lối rồi, anh hỏi gì cho thêm lôi thôi vậy?

Nam Bút có vẻ trịnh trọng nói:

- Đại sư bá của con nói với ta, nay Nhị sư bá và Tam sư bá của con đều bị giam hảm tại Bách Linh Miếu của Đại Thành ở Mạc Bắc, và chính nơi đó sắp sửa có một thịnh hội, lão bà bịt mặt thế nào cũng sẽ tham dự cuộc thịnh hội này...

Thượng Quan Linh nghe vậy mừng rỡ, càng tăng mau thêm tốc độ để mong sao chóng đến nơi, lúc này mọi người đã tách rời đoàn của Bắc kiếm Phổ Côn.

Trong cuộc hành trình lạnh lẽo này, Nam Bút kể cho ba người nghe chuyện của Bắc Kiếm! Quả nhiên sư huynh mình đã có nỗi lòng thầm bí mà không thể nào thố lộ ra được, trên giang hồ chỉ biết Bắc kiếm Phổ Côn là một nhân vật khét tiếng lừng danh, vì nổi tiếng nên khó phân biệt thiện ác, nên chẳng ai là người không ngán nể đôi chút, nào có ai hay cho trong mấy năm gần đây sư huynh đang phải sống trong cảnh đau khổ. Bởi Bắc Kiếm nay mất hẳn tự do, bị người ta kềm hãm, biến thành con cờ cho người ta lợi dụng sai khiến, nói ra lẽ đương nhiên không ai có thể tin được, nhưng chính đó là sự thật. Bắc kiếm Phổ Côn xưa kia tính tình vốn kiêu căng, và hay chống đối với ý kiến của ba vị sư đệ, tự ý làm theo ý thích của mình, và đã gây nên một việc ác thứ nhất, và nhờ thế mà bị một tên Ma đầu mua chuộc ngay?!

Về sau, tiếng tăm trên giang hồ bị sa sút hẳn, nhờ được ba vị sư đệ thương tình cố nâng đỡ, trong lòng Bắc Kiếm đã ăn năn hối hận, tính thay đổi lại nếp sống, nhưng vì Bắc Kiếm hình như đã bị sa lầy mỗi ngày mỗi sâu thêm, phần biết sức mình không phải đối thủ, thế nào cũng bị người ta hạ độc thủ, phần lại tham lam lợi lộc nên không bao giờ cải tiến nổi bản tính của mình, từ đó không dám cải tà để qui chánh. Và chính Bắc Kiếm và bộ hạ đều phải phục vụ hết mình cho tên Ma đầu không biết danh ấy, chẳng những thế, mà cả đến tên Độc Ma trên Vô Ảnh Phong, và kẻ mới nổi danh là lão bà bịt mặt, cùng với phái Điểm Thương ở Vân Nam, và cùng với vô số nhân vật đã nổi danh của Hắc Bạch hai đạo, hình như đã hoàn toàn, hoặc trực tiếp hay gián tiếp, đều đã bị tên ác ma vô danh này thao túng ngấm ngầm hết.

Độc Ma tự hào với thiên hạ là trong võ lâm giang hồ chưa ai được thấy bộ mặt thật của y ra sao, nhưng đem so sánh với tên quái nhân ma đầu kia, thì càng thua người ta quá xa, vì tên này có thể hóa thân cả muôn ngàn bộ mặt khác nhau, thần xuất quỉ nhập, và chính đến những kẻ bị y kềm hãm và thao túng trong tay cũng đều không biết con người thật của y ra sao! Và lẽ đương nhiên không ai có thể biết tung tích đích xác của y ở đâu! Và quái nhân này chỉ trông cậy vào tín vật của y để truyền ban mệnh lệnh, và ai nấy phải lo thi hành cho đúng, nếu vô phúc cho ai có vẻ nghi ngờ hay chểnh mảng, ắt khó mà giữ nổi tính mạng, thủ đoạn lẽ đương nhiên là dã man tàn nhẫn, nên khiến cho những người lo phục vụ cho y đều phải nơm nớp lo sợ, và ai nấy cảm thấy mất hẳn tự do, tuy có lòng hướng thiện, nhưng lại không có sức để phản đối lại, nên liên miên ăn năn đau khổ trong những tội lỗi của mình gây ra.

Và chính trong sự an bài này của tên Ma đầu vô danh ghê gớm ấy, hạ lệnh cho Phổ Côn nhử ngay Thiên Si Tây Đạo ra quan ải, và bắt giam, tiếp sau là Đông tăng Túy Đầu Đà tìm đến cũng chung luôn số phận. Mục đích của tên Ma đầu là gì? Theo Bắc kiếm Phổ Côn nói, quái nhân này đã tính cả đến mưu kế để bắt Đông Phương Tướng, nhưng vì Đông Phương Tướng đã mất, nếu xét ra, hình như đang lo đối phó với Độc chỉ Thôi Bác, và dùng ngay Tây Đạo để làm vật ép buộc Thôi Bác phải ra mặt, và rất có thể vụ này có liên quan đến kho tàng vô giá của Hoàng Đảo! Gần đây, Phổ Côn lại được lệnh đi ngay về Bách Linh Miếu Mạc Bắc làm chuyện gì vẫn còn chưa rõ, nhưng có điều biết là có nhiều người tới đó lắm, hình như sẽ có một thịnh hội được cử hành tại đó thì phải! Nên khi Phổ Côn gặp sư đệ Nam Bút tại mặt sông băng giá của con sông Hoàng Hà, tâm tình buồn nản không muốn gặp mặt làm gì, nên cứ ngồi trong xe, sau bị phát giác, Nam Bút vào ngồi chung với đại sư huynh, và cuối cùng bị cảm tình của sư đệ khiến cho mủi lòng nên đã thố lộ bí mật.

Và sợ bị tên quái nhân phát giác, nên sau khi ra khỏi Cư Dung quan khẩu, Phổ Côn và Nam Bút đành chia tay nhau.

Chuyến đi cứu người và trả thù lão bà bịt mặt, cùng với sự tìm rõ manh mối xem ai là Tỉ Vương trong cuộc đi Bách Linh Miếu Mạc Bắc này, đương nhiên là một chuyến đi vô cùng nguy hiểm, chỉ e ngại với sức lực quá nhỏ của bốn người khó mà thành công cho được. Phổ Côn tuy rất muốn giúp đỡ, nhưng đã tỏ ý rõ là không dám mạo hiểm, vậy thì hy vọng càng trở nên mỏng manh. Lúc này, nếu có Độc chỉ Thôi Bác, thần ưng Đại Hắc và Chu Hoàng công tử đến, với sức hùng hậu như vậy, thế nào cũng có thể mở cuộc giao tranh với đám tà ma một trận kịch liệt, nhưng khốn nỗi Thôi Bác lại ở tít miền Ngọc Thụ của Thanh Hải, kẻ Nam người Bắc cả muôn ngàn dặm xa xăm như thế!

Thầy trò Nam Bút luôn luôn chỉ vì nghĩa quên sinh, thậm chí việc đó luôn nguy hiểm hay không, hai thầy trò chẳng cần nghĩ đến. Sở Canh vốn là con người cương trực chất phác, thấy hai thầy trò họ không hề tỏ ý chùn bước trước cảnh uy hiếp lớn lao như thế, máu anh hùng của Sở Canh lại càng sôi động hơn ai, chỉ thấy chàng hiên ngang lẫm liệt tiến đi như sắp sửa đối phó với đại kình địch đâu đây! Chỉ riêng nàng Liễu Mi, nàng tuy không phải là người sợ chết, mà vì nàng là người đắn đo kỹ lưỡng, nay chuyến Bách Linh Miếu thịnh hội này, rất có thể là vì quái nhân Đại Ma đầu vô danh đã triệu tập hết dư đảng, để mưu đồ chuyện gì đây, với thực lực tập trung đông đủ của họ như thế, bốn người phía mình quyết không thể nào là địch thủ của họ được. Nàng nghĩ chuyến đi này của bốn người, nếu bốn người không bị chết, ắt cũng không sao tránh khỏi số phận của Tây Đạo, Đông Tăng bị bắt trọn ổ hết!

Thêm vào đó, Mạc Bắc là một nơi hoang vắng lạnh lẽo xa xăm hẳn Trung Thổ, tin tức khó lưu thông, làm sao có ai đến để cứu? Dẫu cho Thôi Bác ra tay? Chỉ sợ thế lực bị cô đơn yếu ớt, cũng chưa chắc gì là đối thủ của chúng! Liễu Mi thậm chí nghĩ ngay cả đến vị quái nhân bí mật ấy rất có thể đã có một tâm chí lớn lao, muốn làm vua tất cả các phái trong giang hồ, chỉ xem cách hắn chi phối các thế lực và lợi dụng đám tà ma trong Hắc Đạo, nay ngang nhiên đã quản lãnh nổi một thế lực to lớn như thế thì đủ biết! Giờ đây, trong nhóm nghĩa hiệp chánh phái, kẻ công lực tuyệt cao và có thể ra mặt để lãnh đạo quần hào, đương nhiên chỉ có Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, nhưng Liễu Mi biết rõ hơn ai hết, nếu Độc chỉ Thôi Bác không có người giúp sức, cũng khó lòng mà thành công nổi. Vậy thì cuộc hành trình của bốn người cần phải đắn đo kỹ lại mới được!

Tiếp tục mạo hiểm một chuyến? Hay quay về Trung Nguyên, báo tin ngay cho Thôi Bác, kết hợp các tay hiệp nghĩa, rồi mới cử cuộc đại càn quét đám tà ma này. Liễu Mi cũng hoài nghi luôn cả về lòng thành thật của Phổ Côn Bắc Kiếm, nàng chỉ ngại chuyến đi của bốn người đây đã nằm hết trong chương trình dự tính của đối phương, bốn người có bị bắt cũng còn là chuyện nhỏ, nhưng quan hệ lớn nhất là phe bên chánh phái sẽ mất đi một lực lượng đáng kể, rất có thể vì thế mà gây nên hậu quả nghiêm trọng, khiến cho những âm mưu của kẻ dã tâm thành công, và trên giang hồ, chánh nghĩa sẽ bị tiêu trầm, tà ma hoành hành, và gây nên cảnh khủng khiếp của thảm kịch gió máu mưa tanh từ đây trong võ lâm.

Liễu Mi càng nghĩ càng cảm thấy kinh sợ! Nàng cảm thấy bốn người càng lúc càng tiến gần về cảnh ác mộng của tử thần. Nàng không sao nín nổi, bèn nói ngay ra những ý nghĩ của mình để mọi người suy nghĩ kỹ lại xem! Sau khi nàng Liễu Mi cố trình bày hết ý nghĩ lợi và hại của mình, Sở Canh không có ý kiến gì, xưa nay đều như là thiên lôi nghe sai đâu là đả đó, lúc này nghe nàng nói chỉ gật gù cho là nàng bàn đúng lắm!

Nhưng thầy trò Nam Bút chủ trương là cứ mạo hiểm thử xem, vì Nam Bút tin rằng Bắc Kiếm sư huynh không nói láo với mình, và lẽ đương nhiên cũng không tiết lộ tung tích của bốn người trong chuyến đi này! Liễu Mi đành chịu và theo ý hai người. Hôm ấy họ đến gần Mã Quần Sơn một sa mạc lớn là Khố Ngộ Đại Khắc, lúc này mọi người phải đổi ngựa để đi bằng lạc đà, đem theo những lều vải, lương thực và nước uống chuẩn bị cho một cuộc vượt sa mạc. Tối đến, họ căng ngay lều vải lên đi nghỉ, Thượng Quan Linh và Sở Canh lo đi kiếm đá để đè lên vải. Nhưng trong bãi sa mạc, đừng nói là không có cây cối, mà cả đến đá cũng khó thấy, hai người thất vọng, đang tính quay về. Sở Canh bỗng kêu lên:

- Thượng Quan Linh! Có đây rồi!
Thượng Quan Linh nhìn theo chỗ Sở Canh đang chỉ, quả nhiên cách đó không xa, có một mỏm đá nhô hắn ra mặt cát. Nhưng hòn đá này quá lớn, rõ ràng là không thể nào dùng được, Thượng Quan Linh đã không tính đi bê làm gì, nhưng Sở Canh bỗng nổi hứng, đòi thử sức với Thượng Quan Linh. Thượng Quan Linh cũng nổi hứng nhận lời ngay! Hai người đưa nhau lại tảng đá nhô trên mặt cát ấy, chỉ thấy đá này bị cát vùi lấp già nửa phía dưới, ước lượng cũng nặng đến sáu bảy trăm cân. Sở Canh ra tay trước, hai tay ôm vòng, cố sức rút, nhưng tảng đá lớn không hề nhúc nhích, bèn quay sang gọi:

- Thượng Quan Linh! Giờ đến phiên huynh lại thử xem sao!

Thượng Quan Linh hớn hở bước ngay lại, đứng vững ngay tấn, giang hai tay ra ôm chắc ngay vào tảng đá lớn, chàng hét lớn lên một tiếng:

- Lên!

Quả nhiên sức công hiệu của Tuyết bi tiên hoa như công tái tạo, nay Thượng Quan Linh đã nghiễm nhiên trở thành tay thần lực cái thế, tảng đá chôn sâu nơi mặt cát, đã bị chàng nhấc bổng hẳn lên! Sở Canh vỗ tay hoan hô.

Thình lình phía dưới tảng đá bay vọt lên một vật... Cả hai kinh ngạc nhìn theo, trong ánh chập choạng của buổi tối vật ấy là đà hạ ngay trên bãi cát ngay trước mặt Sở Canh và Thượng Quan Linh. Hai người nhìn kỹ lại, bất giác tròn xoe mắt và hả miệng ngẩn người, ai nấy trong bụng nghĩ thầm: Quái lạ! Sao lại có thể kỳ lạ như thế kìa!?

Thì ra đó là một người. Đúng là một người! Đứng cạnh họ xa lối hai thước! Càng kỳ lạ hơn nữa là người này lại ăn mặc theo sắc phục của miền Trung Thổ, toàn thân nho phục huyền đen, trông nhã mắt vô cùng. Tuổi lối ngoài ba mươi, da mặt trắng, đôi mắt long lanh đang nhìn vào mặt Thượng Quan Linh, trong cái nhìn vừa đượm vẻ kinh ngạc và vừa như hờn giận... Lúc này cả hai bên đều ngẩn ra, Sở Canh nóng tánh chịu không nổi, chàng cũng không muốn cho người kia nhìn trừng mãi Thượng Quan Linh như thế, lên tiếng ngay rằng:

- Ê này! ông bạn nhìn gì mà có vẻ hung tợn đến thế Có biết nhìn như vậy là mất lịch sự lắm không?...

Người nọ không trả lời, chỉ hừ một tiếng bằng giọng mủi!

Sở Canh đã muốn nổi ngay cơn tam bành, Thượng Quan Linh vội ngăn ngay lại. Hình như chàng hiểu ngay dưới phiến đá to lớn này, chắc có một huyệt động nhỏ, và huyệt động nhỏ này chính là một nơi ngủ tránh gió tránh lạnh lý tưởng của miền sa mạc mênh mông này, nay mình vô tình ôm nhổ hòn đá này lên, khác nào như đi rỡ ngôi nhà che mưa mưa nắng của người, hỏi ai mà không giận cho được! Nghĩ vậy chàng vội niềm nở thi lễ rằng:

- Tại hạ Thượng Quan Linh, vô ý nên đã đắc tội với các hạ, vậy mong cắc hạ thứ lỗi đột ngột cho...

Vừa nôi vừa khom lưng thi lễ, nhưng người kia ngang nhiên không thèm trã lời chỉ nghe hắn lại lạnh lùng hừ lèn một tiếng bằng giọng mũi.

Sờ Canh nắm ngay tay lại tính bước lên động võ, Thượng Quan Linh vội ngăn ngay lại và vẫn niềm nỡ hỏi:

- Dám hỏi các hạ tôn danh đại tính?

Người nọ bị sự khiêm tốn ôn tồn của Thượng Quan Linh, hình như cũng cảm thấy ngượng nghịu lạnh lùng rằng:

- Ta là Bắc Ưng Lãnh Lạc...

Bắc Ưng Lãnh Lạc! Thượng Quan Linh quen lắm, vốn là một vị đại hiệp của miền quan ngoại Cư Dung Quan đây, nay không ngờ lại được gặp đây, Thượng Quan Linh ngạc nhiên ồ lên một tiếng, vội rằng:

- Hóa ra là Lãnh tiền bối! Vãn bối Thượng Quan Linh, và người này là Sở Canh huynh của vãn bối...

Bắc Ưng Lãnh Lạc quả đúng với tên họ Lãnh! Lúc này lên tiếng lạnh lùng:

- Biết rồi! Nhưng ngươi là môn hạ của ai?

Đối với những vị tiền bối hiệp nghĩa, Thượng Quan Linh cung kính thưa:

- Vãn bối là môn hạ của Càn Khôn Ngũ Tuyệt, gia sư là Nam Bút tiên sinh Gia Cát Dật, còn Sở huynh đây là Hương chủ của Thanh Thông Bang...

Bắc Ưng Lãnh Lạc, khẽ ừ một tiếng, đầu gật gù, sắc mặt có vẻ hòa nhã hơn trước... Sở Canh cũng từng nghe danh của Bắc Ưng Lãnh Lạc, chàng biết rằng trên giang hồ có một người khét tiếng lừng danh như thế, nhưng bảy tám năm về trước, người này bỗng nhiên ẩn tích hẳn miền sa mạc, không còn thấy xuất hiện tung tích miền Trung Thổ nữa, và thiên hạ ai nấy đã tưởng người này qua đời! Lúc này Sở Canh cũng tỏ vẻ kính trọng nói:

- Thưa Lãnh tiền bối, đáng lẽ bọn cháu không nên kinh động đến giấc nghỉ của ngài mới phải... Nhưng vì chuyện vô tình, vậy tiện thể xin mời ngài qua lều bọn cháu nghỉ cho vui!

Bắc Ưng Lãnh Lạc đang phân vân, Thượng Quan Linh lại càng cảm thấy áy náy về hành động phá ổ của mình để khiến cho người ta mất nơi nghỉ lý tưởng, vội nói rõ thêm bên lều có gia sư Nam Bút và có thứ nữ Thanh Thông Bang cùng đi trong chuyến này, và họ đang dựng lều để nghỉ ngơi, mời ngay vị Lãnh Lạc tiền bối rời bước sang cho vui.

Bắc Ưng Lãnh Lạc mặt lộ vẻ vui rằng:

- Thôi cũng được. Nay hai cậu đã phá mất nóc nhà của ta rồi, đêm nay cũng chả biết phải dung thân vào đâu chẳng thà sang chen chung với hai cậu cho ấm cũng hay!

Thượng Quan Linh lo đi chung với vị tiền bối họ Lãnh, Sở Canh lo chạy về trước để thông báo. Nam Bút tiên sinh và Liễu Mi vội bước ra khỏi lều để nghênh đón, và vị Bắc Ưng Lãnh Lạc này đã vì lâu không ở miền Trung Thổ, nên đối với nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt chưa hề quen mặt nhau, chẳng qua đôi bên chỉ được nghe tiếng nhau mà thôi, nay được gặp trong lều, Liễu Mi dọn thức ăn và rượu ra, rồi mọi người vào tiệc vui vẻ. Trong bữa ăn, ai nấy trò chuyện vui vẻ. Bỗng Bắc Ưng Lãnh Lạc hỏi mọi người chuyến đi này có mục đích gì, thấy là người đồng đạo hiệp nghĩa trong giang hồ, Nam Bút cũng tình thật bày tỏ tự sự, nhất là đi tìm hai vị sư huynh và đi gặp lão bà bịt mặt.

Vị Bắc Ưng Lãnh Lạc tuy là thổ địa của miền sa mạc này, nhưng lại chẳng hay biết gì về những chuyện này, chỉ lên tiếng hứa là sẽ tận lực giúp sức trong việc thăm tin, lời ăn tiếng nói đều tô ra vẻ vô cùng thành khẩn, rồi câu chuyện dần dà chuyển hướng sang đến phía Thượng Quan Linh. Lãnh Lạc bất giác giơ ngón tay cái lên khen ngay vị cao túc của Nam Bút tiên sinh, quả là bực thần lực cái thế, chỉ trong chớp nháy, mà đã ngang nhiên cử nổi một khối đá nặng sáu bảy trăm cân! Thượng Quan Linh vội khiêm tốn cảm tạ, còn vị Nam Bút bề ngoài tuy khách sáo khiêm tốn, nhưng nghe ái đồ mình được khen trong lòng sung sướng vô cùng, sau những câu khen lẽ dĩ nhiên cũng nhiều câu hỏi thắc mắc về thần lực của Thượng Quan Linh do đâu mà được vậy. Sở Canh đang đứng cạnh nghe vậy, bèn khai toạc hết những sự kỳ ngộ của Thượng Quan Linh, nào được ăn Tuyết bi tiên hoa, nào không sợ đao kiếm phạm tới v.v... Khiến cho vị Bắc Ưng Lãnh Lạc ngưỡng mộ vô cùng. Nào ngờ câu chuyện của Sở Canh đã vô tình gây nên mầm họa cho Thượng Quan Linh sau này! Quả là một chuyện mà nào ai có thể lường trước được?

Trong khi mọi người đang ngon giấc nồng, đã có một người âm thầm len lén bò dậy, và mò dần đến phía Thượng Quan Linh chăm chú ngó chàng. Mắt thấy mọi người đang ngủ say, chỉ nghe tiếng người này lảm nhảm rằng:

- Nếu quả là kỳ dị như thế, để ta thử ra tay xem sao?

Một làn ánh quang nhoáng nhanh bả vai Thượng Quan Linh... Sáng hôm sau... khi Thượng Quan Linh tỉnh dậy, lúc mặc áo, Liễu Mi bỗng thất kinh rú lên. Nhảy vụt ngay sang xem bả vai bên trái của Thượng Quan Linh, chỉ thấy một vết đao thương dài lối năm tấc, tuy không sâu và rộng, cũng không thấy máu me, lại một vết sẹo hơi bầm.

Liễu Mi hỏi ngay phải chăng đó là vết thương bị đao chém? Thượng Quan Linh cho hay là chàng xưa nay đâu có bị thương bả vai vậy đâu, vết thương này có vẻ kỳ lạ, hình như mới có gần đây, chàng còn nhớ tối qua cởi áo đi ngủ, trên vai nào đâu có dấu vết gì đâu, sao lại có một đêm, mà lại xảy ra chuyện quái gở đến thế? Hai người bàn thì thầm với nhau, nhưng khi nhìn đến vết thương, rõ ràng là vết của đao kiếm gây nên, một nơi xa vắng hoang vu như sa mạc đây, có ai tới đây để ám sát Thượng Quan Linh kìa? Không lý ngoài cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ có thể gây thương tích cho Thượng Quan Linh ra, lại còn thêm một báu vật khác có thể hại nổi chàng nữa sao? Nhưng điều lạ hơn hết mọi người không ai hay biết đã đành, mà chính cả bản thân của Thượng Quan Linh cũng không hay biết gì mới lạ, nếu đó là hành động của người gây nên, vậy thì đủ biết thân pháp và thủ thuật của người ấy đáng sợ đến mực nào, đồng thời về thủ pháp và binh khí cũng quá sức tưởng tượng kỳ lạ của nó!

Nếu bảo là người ta có ý giết hại, sau khi đã được lợi thế như vậy, tại sao họ lại không đoạt luôn mạng chàng cho rồi? Thượng Quan Linh nghĩ mãi không vỡ lẽ. Chàng bèn cho rằng: đây không phải là vết thương bị đâm chém gì, mà có lẽ bị loại sâu bọ kỳ quái gì của miền sa mạc gần đây, vì miền sa mạc luôn luôn có những chuyện quái gở không thể nào giải thích nổi! Riêng phần Liễu Mi, nàng lo vô cùng, bất cứ chuyện gì của Thượng Quan Linh, nàng còn lo hơn là chuyện của bản thân mình, nàng nghĩ thầm, vụ này không những lạ lùng quái gở mà còn đáng sợ là khác! Liễu Mi có tưởng tượng đến một giả thuyết rùng rợn nhất cho rằng một người bí mật nào, nhân đêm khuya đã len vào lều vải, đã ngang nhiên che nổi tai mắt của các tay cao thủ để gây thương tích cho người yêu, đã thế mà không để lại máu tích, vết thương kỳ lạ, người này là ai? Binh khí này là loại binh khí gì?

Càng nghĩ Liễu Mi càng cảm thấy ái ngại lo lắng! Không dám sơ ý, nàng chỉ còn cách cẩn thận đề phòng. Cuộc khởi trình bắt đầu, Bắc Ưng Lãnh Lạc và Sở Canh cùng ngồi một lạc đà. Đoàn người rong ruổi trên bãi sa mạc. Xa xa một trang viện xuất hiện trước mặt mọi người. Trên lưng lạc đà, Bắc Ưng Lãnh Lạc lên tiếng:

- Thưa chư vị, đó là Lãnh Ưng Viện của Sa La Tinh, nay được tạt qua tiện xá, Bắc Ưng Lãnh Lạc tôi ít nhất cũng phải tận chút tình địa chủ để mời quí vị ghé vào nghỉ ngơi chút cho vui...

Mọi người đương nhiên không nỡ làm phật lòng địa chủ, lại nữa cuộc hành trình cũng đã khá lâu rồi, ai cũng cảm thấy mệt mỏi cần phải tạm nghỉ.

Khi đến trước Lãnh Ưng trang viện, chỉ nhìn tổng quát bên ngoài quả nên thơ thật, một miền sa mạc như đây thế mà cũng mọc cây cối xanh um và một con suối vây quanh trang viện khá đồ sộ. Ngôi Lãnh Ưng Trang xây cất ngay trong đám rừng cây, một đường con đưa thẳng vào trong, mặt đường lót bằng đá vụn, hai bên đường toàn cây lớn, tiếng gió vi vu, lá rụng từng đợt, tăng thêm vẻ trang nghiêm và nên thơ cho con đường vào trang viện.

Lạ cái trong trang viện không thấy có ai ra nghênh tiếp. Mọi người tiếp tục đi thẳng vào, khi đến cửa trang, thấy lối xây cất quá hùng vĩ, một tấm biển đen đã bạc màu với ba chữ mạ nhũ vàng Lãnh Ưng Viện, hình như vì lâu đời quá nên các chữ tích bên trên đã mờ hẳn. Lúc này chỉ thấy cổng viện đóng kín, ai nấy phân vân, không lý trong trang viện này không có người! Nghĩ vậy, nhưng không ai nói ra vội, càng không tiện đường đột hỏi Bắc Ưng Lãnh Lạc làm gì... Khi tới cửa viện, chợt Bắc Ưng Lãnh Lạc hú lên một tiếng sáo, hình như để thông báo với người bên trong! Chẳng mấy chốc, cánh cửa lớn của Lãnh Ưng Trang mở dần ra, Bắc Ưng Lãnh Lạc đưa ngay khách vào. Chỉ thấy toàn là nô bộc thị nữ, đứng xấp thành hàng ngay tắp, số người ước gần đến trăm, khi mọi người đi ngang, họ đều cúi mình kính cẩn thi lễ.

Bốn người phía Nam đều lấy làm lạ. Đám nô bộc tuy đông đảo như thế mà sao không hề có một tiếng nói nào để hoan hô đoàn khách. Chờ khi đám nô bộc này ngửng đầu nhìn lên, bốn người thất kinh suýt rú lên thành tiếng! Sắc mặt đám nô bộc này trắng nhợt như thây ma người chết, trông ngây dại và lạnh lùng. Thượng Quan Linh đang kinh ngạc, chàng lập tức cảm thấy tay Liễu Mi đang nắm mạnh vào bàn tay mình một cái, ý như Liễu Mi dặn phải thận trọng với lối cổ quái của trang viện Lãnh Ưng Viện này! Nam Bút cũng ngấm ngầm đề phòng mọi biến chuyển. Chủ nhân Bắc Ưng Lãnh Lạc lo chỉ huy đám nô bộc tiếp khách đi tắm gội thay quần áo, lo thức ăn!

Sau khi mọi người sửa soạn xong xuôi, trên sảnh đường của Lãnh Ưng Trang đã dọn sẵn bàn tiệc. Thượng Quan Linh, Liễu Mi, đều cảm thấy trong trang viện này tất cả cái gì cũng quái lạ, nhà cửa to lớn âm u, dụng cụ trong nhà đều màu đen, ánh nắng thì bị các cây um tùm bên ngoài che khuất, tất cả mọi nơi trong trang viện đều cảm thấy không khí âm người lạnh lẽo của nó, lúc này đang ban ngày, thế mà trong đây phải thắp đèn lạp.

Nhưng điều lạ nhất là đám nô bộc, suốt từ lúc vào đến giờ, Thượng Quan Linh chưa hề nghe họ phát ra một tiếng nói nào, và đám người này, bất kể là già, trẻ, lớn, bé, đàn ông, đàn bà, toàn thân họ đều mặc toàn một màu đen, họ âm thầm làm việc, chỉ có tiếng cọ sát của quần áo họ lúc di chuyển gây nên. Ngoài ra, động tác và lối hành động của họ đều tỏ ra vẻ chậm chạp và thận trọng. và tất cả những khuôn mặt của đám nô bộc này, hình như họ đeo mặt nạ cả, thần sắc trông quái dị... cả đến mí mắt cũng không hề thấy chớp động qua lần nào. Bốn người đều có một cảm giác, sau khi vào Lãnh Ưng Trang này, thật chẳng khác nào như đang vào một huyệt mộ của thế giới u minh vậy!

Nhưng chủ nhân đối với sự nghi ngại của khách không hề giải thích gì, trong bữa tiệc, Bắc Ưng Lãnh Lạc chỉ nói về các tập tục phong thổ nhân tình của miền trại ngoài sa mạc, tiếng cười hào phóng, và câu chuyện đã thu hút ngay sự chú ý của bốn vị tân khách. Khi Bắc Ưng Lãnh Lạc nói đến chuyện, cứ mỗi năm vào mồng mười Tết, lại có thịnh hội tại Bách Linh Miếu vô cùng náo nhiệt, có thể nói là một cuộc hội nhiều trò chơi tiêu khiển nhất, nào đua ngựa, nào các đám thần thánh, nào các cao tăng giảng kinh v.v... Nghe đâu năm nay, tổ chức còn có vẻ linh đình hơn các năm trước là khác, ngoài trừ các hoạt động trên ra còn mới xây cất thêm một ngôi Tự đường mới, để cho Hoạt Phật nhục thân thăng thiên (Phật sống về trời). Câu chuyện này được thoát ra từ cửa miệng của Bắc Ưng Lãnh Lạc, mọi người nghe xong đều kinh ngạc, vì chuyện này rõ ràng có liên quan đến cuộc thịnh hội trong võ lâm, nhưng không biết rằng tên đại ma đầu vô danh bí mật kia có chọn vào ngày này không!

Nam Bút không vội đả động đến vấn đề, quả nhiên Bắc Ưng Lãnh Lạc lại nói tiếp, là vào ngày mồng mười Tết ấy, có cả các tay võ lâm tập trung tại Bách Linh miếu, và chính Bắc Ưng Lãnh Lạc cũng chuẩn bị đi xem cho vui. Đã cuối tháng chạp, và chỉ còn hai ngày nữa là Tết đến, Bắc Ưng Lãnh Lạc cố mời mọi người ở nán lại Lãnh Ưng Trang để ăn Tết, sau ngày Tết sẽ thân hành cùng đi với mọi người để dự cuộc thịnh hội vào ngày mùng mười Tết tại Bánh Linh Miếu.

Sau khi Nam Bút biết rõ ngày hội của Bách Linh Miếu, trong lòng mừng thầm, đồng thời Nam Bút tiên sinh cũng tiếp nạp luôn ý lưu khách của chủ nhân, mọi người đều đồng ý ở lại. Một đêm vô sự trôi qua.

Sáng hôm sau, Thượng Quan Linh dậy, chàng cảm thấy ngôi trang viện Lãnh Ưng này vẫn có một vẻ gì là lạ bí mật. Màu tường đen, và tất cả các vật dụng trong nhà cũng đen, thậm chí cả đến mền gối cũng màu đen, toàn màu âm u tối lạnh, mặc dù là ban ngày nhưng vẫn khiến cho cám giác là đêm! Tất cả trang viện, mặc dù có gần trăm người làm việc, ấy thế mà vẫn im lặng như tờ, không một tiếng nói hay một tiếng động lớn. Thượng Quan Linh cảm thấy buồn bực khó chịu, chàng cố tìm cơ hội, chờ khi có hai thiếu nữ bước vào phòng, chàng cố hàn huyên để bắt chuyện, nào hay hai thiếu nữ không hề trả lời, dù cho Thượng Quan Linh hỏi gì đi nữa, họ chỉ gật và lắc đầu để đáp lại. Xem tuổi họ chỉ lối độ hai mươi, khuôn mặt cũng khá xinh, chỉ tội nước trắng nhợt và ngây dại mà thôi, đôi mắt không được linh động. Thượng Quan Linh càng cố gắng khám phá lại càng thất vọng! Vì hễ mỗi lần Thượng Quan Linh hỏi dồn tới, hai thiếu nữ nọ như cảm thấy rắn độc tấn công mình, cả hai vội mau mau rút ngay ra khỏi cửa phòng chàng. Thượng Quan Linh chỉ có một cảm giác như mình đang sống trong một thế giới u minh lạ lùng, đây không phải lối sống của người trần gian.

Thượng Quan Linh vội đi tìm ngay Liễu Mi, thấy nàng đang tựa người trên lan can nhìn cá bơi nhởn nhơ trong hồ nước. Đây tuy có chút ánh sáng, nhưng cũng yếu ớt lạ, trông chẳng khác nào như trời sắp đổ cơn giông tố xuống vậy Thượng Quan Linh thấy người yêu dang suy tư trước hồ cá, chàng nghĩ: chắc nàng cũng đang nghĩ như mình, làm cách gì để khám phá ra sự bí mật của màu đen trong Lãnh Ưng Trang này?

Chương 67: Bí mật của màu đen

Một không khí đầy rẫy cổ điển và trầm buồn ấy, khiến cho hai người trẻ như Thượng Quan Linh và Liễu Mi không sao chịu đựng nổi, hai người đều biết rằng đây không phải là một chuyện ngẫu nhiên, làm cách gì để khám phá đây? Nhưng họ vẫn cố lòng chờ đợi, riêng chàng Sở Canh đã bực bội lắm, nằng nặc đòi ra ngoài đi loanh quanh, khiến cho Thượng Quan Linh và Liễu Mi phải rối lên khuyên can mới tạm yên. Phần Bắc Ưng Lãnh Lạc, hình như đang bận nhiều chuyện, những lúc rảnh, cùng tìm Nam Bút tiên sinh để trò chuyện, và chỉ họp mặt lúc cơm nước mà thôi, bởi vậy Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Sở Canh, trong nội tâm của ba người đều lo ngại, và luôn luôn tìm nhau để tụ họp, tối phải ngủ riêng biệt, nhưng ai nấy cũng cẩn thận lo đề phòng.

Đã hai mươi tám Tết, tuy Bắc Ưng Lãnh Lạc đã giữ mọi người lại để ăn Tết, trong ngôi trang viện âm u lành lạnh ảm đạm này, tất cả đều đượm vẻ tịch mịch, trầm lặng, cổ quái, và cộng thêm sự rờn rợn của bầu không khí, lúc này trong trang viện, chẳng có một vẻ gì gọi là không khí đón Tết cả! Lại càng không có một cảnh tượng gì vui nhộn của ngày trước Tết.

Ngày giờ vô liêu và buồn tẻ vẫn nặng nhọc trôi đi, Thượng Quan Linh, Liễu Mi vẫn không hề bỏ qua vụ khám phá bí mật của màu đen, may là trong trang viện họ được tự do đi chơi các nơi trong trang, nhưng không vì thế mà khám phá manh mối gì, trái lại bí mật vẫn hoàn bí mật. Hai người đã từng lần mò vào đến trong thư phòng lớn thiếu ánh sáng, ở đây họ đã thấy những bức họa của những vị trang chủ của ngôi Lãnh Ưng mấy đời trước, bức cuối cùng là bức chân dung của Bắc Ưng Lãnh Lạc, trong thư phòng, bày la liệt nhiều vật kiện, bao gồm cả những loại binh khí của các bực tiền trang chủ, và những vật kỷ niệm đi tung hoành trên giang hồ, và mỗi vật kiện ấy đều có văn tự chú thích bên cạnh. Trong các sự tích ấy, có nhiều chuyện hai người đã biết từ xưa kia, và trong số chuyện ấy đều có Lãnh Ưng Trang tham gia, quả nhiên xưa kia từng là một vị đại hiệp khét tiếng trong giang hồ.

Nhất là vị Bắc Ưng Lãnh Lạc, trước bức chân dung của người này lại bày la liệt khá nhiều vật, có cả binh khí kỳ hình quái trạng là cây liềm ưng trảo, tuy đã lâu không dùng đến, nhưng ánh sáng của nó vẫn óng ánh chập chờn trong thư phòng ảm đạm này. Bày chung với cây liềm ưng trảo này, có khá nhiều các đao gãy, kiếm gãy, ám khí, quần áo v.v... và bên cạnh mỗi vật như thế, đều có để giấy ghi chú cẩn thận, toàn là các chiến lợi phẩm mà xưa kia Bắc Ưng Lãnh Lạc đã tung hoành dọc ngang trên giang hồ, trong số đó có khá nhiều các nhân vật khét tiếng xưa kia, toàn là các danh sĩ kỳ nhân của Hắc Bạch đạo của cả hai miền quan nội và quan ngoại thời đó. Ba người thấy những vật kiện này bất giác đều sinh ra lòng khâm phục vị Bắc Ưng Lãnh Lạc này, quả không hổ danh là một bậc đại hiệp, chỉ nội nhìn những chiến lợi phẩm đây, cũng đủ biết người ta xưa kia rất có thể là một tay vô địch trong làng võ lâm.

Trong họa thất này, chỉ riêng có bức họa của Bắc Ưng Lãnh Lạc là sống động hơn các liệt vị trang chủ xưa kia, đem so với trang chủ bây giờ, không những trai trẻ, anh tuấn, oai phong lẫm liệt, trông thật hiên ngang khí phách lạ. Nhưng đây chỉ là bức họa vẽ khi còn trẻ hoặc tối thiểu cũng là hồi tráng niên, nay Bắc Ưng đã nghiễm nhiên tóc điểm hoa râm, tuy còn hao hao giống với bức họa, nhưng các nét oai phong dã khác xưa khá nhiều. Thời gian không bao giờ tha tuổi xuân của đời người, chúng luôn luôn lôi cuốn tất cả vào cõi hư vô...

Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Sở Canh, ba người sau khi tìm hiểu được chút ít lai lịch vinh quang của vị Bắc Ưng Lãnh Lạc, họ chỉ biết kính phục và không còn một mối hoài nghi gì, nhưng không biết vì duyên cớ gì mà lại khiến cho vị đại hiệp phải tiêu trầm và ẩn cư một miền hoang vu của đất sa mạc này, và không bao giờ chịu quay về Trung Nguyên? Hình như Bắc Ưng Lãnh Lạc không vợ, không con, mà chỉ có toàn đám nô bộc như xác sống không hồn vậy; tất cả những cảnh tịch mịch âm người nơi đây phải chăng là trang chủ đã cố tình tạo ra cảnh như thế? Nếu đúng là do Bắc Ưng Lãnh Lạc sắp xếp, như vậy có ý nghĩa gì?

Còn cả đến bí mật của màu đen, một màu mà không được đa số người thích cho lắm, tại sao vị Bắc Ưng Lãnh Lạc lại có thể thích như thế? Liễu Mi bỗng như phát giác thêm một điều lạ, tất cả các bức họa của các vị trang chủ mấy đời xưa kia đang treo đây đều toàn bận áo màu đen cả! Không lẽ mấy đời nhà họ Lãnh này đều tương truyền cho nhau phải thích màu đen này sao?

Thì ra, trong Lãnh Ưng Trang này, trong mấy đời nay đều là thế giới màu đen cả, đây chẳng qua là một sự háo thích quái gở, nhưng cũng không có gì lạ lùng lắm. Ba người đang tính rút lui ra, khi đến cửa ngõ, Liễu Mi lại sực nhớ ra chuyện gì, nàng bước vào ngắm nhìn kỹ lại mấy bức họa một chập rồi mới chịu về. Ra đến ngoài, Sở Canh và Thượng Quan Linh đều tin vị Bắc Ưng Lãnh Lạc này là người anh hùng hiệp nghĩa, không nên nghi ngờ gì nữa, e làm mích lòng chủ nhân Lãnh Ưng Trang, đôi bên chuyện trò vui vẻ. Nhưng riêng có điều lạ: Liễu Mi không hề tỏ lời nói gì, sắc mặt có vẻ đăm chiêu suy tư điều gì! Thượng Quan Linh lấy làm lạ, hỏi nàng, Liễu Mi đành khẽ trả lời:

- Anh Linh! Vừa rồi em đã xem kỹ về các bức chân dung ấy, kết quả là khám phá ra những màu đen trên ấy hình như mới bôi lên gần đây thì phải?!

Thượng Quan Linh không hiểu nàng muốn ám chỉ gì, ba người vội đưa nhau đi tìm một nơi vắng vẻ để bàn tán.

Liễu Mi nói rất có lý, những bức họa ấy, đã là những chân dung lâu năm của các bực trang chủ đời trước, theo lý ra đâu phải cùng được họa ra một thời gian, về điểm này, chỉ cần tỉ mỉ nhìn xem loại giấy trên bức họa cũng rõ ngay, nếu theo thứ tự, bức này sẽ cũ hơn bức nọ mới đúng! Tuy trong thư phòng thiếu hẳn ánh sáng, nhưng với đôi mắt tinh ranh của Liễu Mi, và hơn nữa nàng đã đưa tay ra sờ mó chứng minh tất cả các bức vẽ đó đều có một khoảng cách biệt của thời gian cả!

Nhưng có điều tất cả những áo trên các bức chân dung ấy đều bị bôi thành màu đen, dấu vết vẫn còn vẻ mới. Về điểm này tuy không lấy gì làm quan trọng, nhưng nếu nghĩ kỹ ra có thể chứng minh rõ một điều, tức là những màu áo trước kia của các bức chân dung ấy, vốn không phải là màu đen như bây giờ! Sự phát giác tuy nhỏ của Liễu Mi, nhưng rất có lý!

Nam Bút tiên sinh đã nhận ra ba vị hậu bối không thích thú gì với lối cảnh sắc âm u ở đây, trong đầu óc ông ta cũng đã an bài sẵn, hết đêm nay, mai đã là mồng một Tết rồi, cuộc thịnh hội tuy đến ngày mồng mười Tết mới bắt đầu, nhưng đây cách Bách Linh Miếu không phải là gần gì. Nam Bút tiên sinh bèn tính đưa ngay ba vãn bối hôm sau lên đường trước, tới sớm vài ngày, như thế có dịp để ngắm xem phong cảnh miền trại ngoại! Mọi người nghe vậy đều mừng quýnh trong lòng.

Nhưng cả ba lại lo ngại chủ nhân đòi giữ khách, sau khi Nam Bút nói rõ ý định! Ba người chăm chú theo dõi thần sắc của vị Bắc Ưng Lãnh Lạc. Chỉ thấy chủ nhân trong ánh mắt hơi lộ vẻ kinh dị, nhưng chỉ thoáng mà thôi. Thượng Quan Linh ngầm than thầm trong lòng, xem ra thế nào chủ nhân cũng đòi giữ khách lại. Nào ngờ lại khác hẳn với ý nghĩ của chàng, Lãnh Ưng trang chủ cười hào phóng lên tiếng rằng:

- Nếu quí khách quả đang bận việc bên người, tôi đâu dám giữ, mai đây nguyện sẽ lo chuẩn bị mọi việc cần thiết để tiễn đưa quí khách khởi trình!

Lời nói này vừa thoát ra khỏi cửa miệng của Bắc Ưng Lãnh Lạc, cá ba kẻ hậu bối Thượng Quan Linh, Liễu Mi, Sở Canh đều cảm thấy tạm yên lòng.

Lúc này Bắc Ưng Lãnh Lạc cho thay rượu mới đến và thân hành rót để mời bốn người rằng:

- Tại hạ đây, đáng lẽ cùng đi chung với quí vị cho vui nhưng không ngờ quí khách lại vội vã đến vậy, phần tại hạ lại còn bận rộn chút việc riêng, nên mai này không thể nào cùng đi với quí vị, thật là đáng tiếc! Đáng tiếc! Và tại hạ cũng không thể tiện đưa xa quí vị, nay gọi là chút rượu thành tâm thân chúc quí vị bình an trong cuộc hành trình sắp đến...

Mời hết Nam Bút, quay sang Thượng Quan Linh, chủ khách đôi bên, sau khi hai làn nhãn tuyến nhìn nhau, Thượng Quan Linh cảm thấy đôi mắt Bắc Ưng Lãnh Lạc lạ lùng, nhưng chàng không để ý cho lắm, sau khi về phòng chàng vùi đầu ngủ kỹ.

Cũng chẳng biết là bao lâu nữa trong làng mộng, bỗng Thượng Quan Linh cảm thấy trong người hơi lành lạnh Chàng đưa tay ra kéo mền, quái lạ! Mền đâu? Bỗng chàng như ngửi thấy mùi mốc và ướt... Từ ngày chàng ăn Tuyết bi tiên hoa, công lực đã tiến triển không thể nào ngờ được, có gì hơi lạ là chàng cảm nhận ra ngay, lúc này chàng giật mình lập tức biết ngay có điều gì không lành đang xảy ra, chàng biết mình không còn nằm trên giường mà nằm vào một nơi xa lạ nào đây! Chàng vội tung mình dậy nhưng lập tức cảm thấy toàn thân mệt mỏi làm sao chịu nổi, đầu óc nhức như búa bổ, ùng một tiếng lại ngã ngửa ngay xuống. Tứ bề tối đen như mực, nhưng Thượng Quan Linh vẫn còn có thể nhận ra nơi mình đang nằm đây hình như là một đường ngầm bí mật... Ngoài cái tối như bưng ra còn có cảm giác ươn ướt là khác, lúc này nằm dưới đất Thượng Quan Linh cảm thấy lạnh đã xâm nhập vào cơ thể! Xưa nay chàng chưa bao giờ bị ớn mình lạnh như thế này bao giờ, và sau khi ăn Tuyết bi tiên hoa, công lực tăng mạnh không biết bao nhiêu lần mà kể, thế mà nghiễm nhiên không thể nào chịu nổi sức lạnh tầm thường này! Chàng sực nghĩ đến lúc mình nhìn vào đôi mắt quái dụ của Bắc Ưng Lãnh Lạc, biết ngay mình đã bị trúng mưu gian của người ta!

Suốt từ khi bước chân vào Lãnh Ưng Trang kỳ lạ này, Thượng Quan Linh không lúc nào là không lo cẩn thận đề phòng, ấy thế mà chỉ còn có một buổi chót nhất mà bị mắc mưu gian của người ta. Chén rượu chúc của Bắc Ưng đã tác quái! Toàn thân chàng lúc này cám thấy mệt mỏi, đầu óc hôn mê nặng nhức, hình như công lực trong người đã bị tiêu tan đi mất vậy. Chàng nghĩ đến thầy, đến vợ chưa cưới Liễu Mi, bạn thân Sở Canh, chắc họ cũng bị chung số phận như mình, chàng rối quýnh trong lòng! Chàng cố gượng gạo đứng dậy, loạng choạng tìm đường ra...

Sau hồi tìm kiếm, chàng phát giác đây là một đường hầm khá dài, cũng không rõ bên nào là lối ra, Thượng Quan Linh đành chọn bừa lấy một hướng, miễn cưỡng lần bước đi, những bước chân xiêu vẹo té lên ngã xuống, nhưng chàng không hề nản chí, vẫn cố gắng lần mò đi! Chàng cũng không quên cất tiếng hết thầy ơi, lại em Liễu Mi, hết em Liễu Mi chán lại gọi đến Sở Canh!... Nhưng tiếng hồi âm của hang tuyệt vang lại rợn người và thê lương, âm thanh lạ hẳn, Thượng Quan Linh không thể ngờ được đến giọng của mình cũng bị biến đổi. Chàng thất vọng lại vừa hoảng hốt... Sau khi gọi được mấy tiếng nữa, bỗng có một tiếng ho truyền lại... Thượng Quan Linh vội ngừng tay lại lắng tai, chàng nghe cách mình không xa, một giọng nói lạnh lùng vang lên:

- Còn nheo nhẻo cái gì nữa, trời sáng họ đã đi hết cả rồi...

Thượng Quan Linh nghe tiếng nói này lạ tai, rõ ràng không phải thầy Nam Bút, càng không phải giọng của Liễu Mi hay Sở Canh. Chắc là người trong trang viện của Lãnh Ưng! Lúc này tuy kẻ địch ngay trước mặt, dù cho chàng có sôi gan cũng đành chịu, vì toàn thân của Thượng Quan Linh đã mềm như bún. Chàng chỉ còn nước bực mình hỏi:

- Ngươi nói sao?

Tiếng nói nọ có vẻ ôn hòa rằng:

- Tôi nói: Thầy của anh và mọi người bạn thân của anh đã đi từ tờ mờ khi trời còn chưa sáng rõ kìa, có lẽ giờ này họ đã đi được trên mấy chục dặm đường rồi cũng nên, dù cho anh có kêu gào đến bể cuống họng nào ai mà nghe cho...

Thượng Quan Linh nửa tin nửa ngờ hỏi:

- Ngươi là ai? Phải chăng là người của trang viện đây?

Tiếng nói người nọ bỗng lại trở nên lạnh lùng, hình như câu hỏi của Thượng Quan Linh đã chạm đến lòng tự ái của người nọ vậy, chỉ nghe tiếng ấy trả lời:

- Đương nhiên là người trong trang này, chẳng lẽ với tư cách Lãnh Ưng trang chủ của ta, lại không đáng là người ở đây sao?

Lãnh Ưng trang chủ, Thượng Quan Linh cảm thấy phân vân, chuyện gì lạ vậy kìa! Rõ ràng Lãnh Lạc đã ám hại mình, nhưng tại sao y lại còn ở chung trong hầm bí mật này với mình? Mà lạ hơn nữa là giọng nói của y cũng biến đổi khác hẳn! Thượng Quan Linh ngấm ngầm quyết định, làm sao khôi phục lại công lực đã, rồi sẽ tóm cổ y lại để hỏi mọi nguyên do và bắt y đưa mình ra khỏi huyệt đạo này. Nghĩ vậy chàng ngấm ngầm vận khí lực, nhưng cảm thấy không sao thông suốt, trong tạng phủ thấy đau nhói khó chịu. Biết ngay công lực của mình đã bị trở ngại, trong thời gian ngắn, không thể nào khôi phục cho lại được trong lòng càng thất vọng và ức hận...

Thình lình chàng quyết định, ráng cắn răng chịu đau, cố gắng loạng choạng đứng dậy bước lại và hỏi:

- Thế ngươi hiện ở đâu?

- Ta đây! Anh hãy lại đây!

Thượng Quan Linh nghe theo tiếng nói bước gần lại vài bước, chàng chập chờn nhìn thấy một người lùn đang ngồi dưới đất, vì mặc quần áo trắng, nên càng dễ nhận ra. Thượng Quan Linh tuy đã bị kềm hãm công lực, nhưng chàng vẫn không hề tính ra tay đánh lén, bèn lên tiếng kêu ngay rằng:

- Tại sao ngươi lại ám hại ta? Hãy mau đứng ngay lên và tiếp nhận đòn của ta?...

Người Bạch y dưới đất vừa động đậy, Thượng Quan Linh đã dồn hết toàn lực của mình phạt ra một chưởng, và toàn thân nhào ngay tới, hy vọng là có thể bắt ngay địch thủ, tuy trong người đang bị yếu sức, nhưng lối ra tay của chàng vẫn quả là bất phàm. Người bạch y dưới mặt đất ối lên một tiếng thất kinh, vội vàng giơ ngay song chưởng ra đỡ. Trong cơn tóe lửa ấy, Thượng Quan Linh chỉ thấy đôi bàn tay của người này trắng nõn vô cùng, lúc này đỡ ngược hẳn lên, Thượng Quan Linh lập tức cảm thấy những tàn lực của mình đã tiêu tan đâu hết, tiếp theo là một tiếng pắc tác vang lên, toàn thân ngã lăn nhào ngay xuống đất, ngay bên cạnh của Bạch y nhân!

Ngay lúc ấy, Thượng Quan Linh bất tỉnh nhân sự luôn. Không ai biết là bao lâu, rồi Thượng Quan Linh từ từ tỉnh lại, chàng cảm thấy có một đôi tay đang thoa bóp cho mình, và bàn tay ấy thoa đến đâu ấm tới đó, khiến chàng cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Chàng mở mắt ra nhìn, từ đôi bàn tay trắng đến bộ áo toàn trắng, Thượng Quan Linh nhìn ngay lên mặt người này, tóc dài kinh khủng, nhưng khuôn mặt người này vẫn còn nhận rõ ra được chính là Bắc Ưng Trang chủ Lãnh Lạc. Những điểm khác biệt với ngày hôm qua, tóc ngắn áo đen, mà nay lại áo trắng tóc dài râu dài. Mà đâu có người nào trong một đêm trời mà lại có thể mọc râu tóc nhanh kinh khủng đến thế đâu? Thượng Quan Linh cảm thấy phân vân lạ lùng, chàng tự lảm nhảm:

- Liễu Mi! Em! Em! Chuyện gì quái lạ thế này?...

Thượng Quan Linh xưa nay vẫn phục tài về trí tuệ của Liễu Mi, mỗi khi gặp chuyện gì khó khăn phân vân, chàng thường hỏi đến Liễu Mi, nay trong cơn rối trí, bất giác cũng thốt lời ra gọi tên người yêu để hỏi manh mối!

Người áo trắng nọ vẫn lo việc thoa bóp cho Thượng Quan Linh, chàng lên tiếng hỏi ngay:

- Tại sao ngươi đã định hại ta mà nay lại còn cứu ta?

Người áo trắng rằng:

- Nào tôi có hại gì anh đâu, người hãm hại anh chính là người mặc áo đen hôm qua, chứ đâu có phải tôi...

Thượng Quan Linh trầm lặng rồi lại hỏi:

- Không lý lại có hai người là Lãnh Ưng trang chủ sao?

Người áo trắng rằng:

- Đúng thế! Anh đã đoán trúng phong phóc!

Thượng Quan Linh lại hỏi tiếp:

- Nghĩa là trong Lãnh Ưng Trang này, đồng thời có hai người cùng một một danh Bắc Ưng Lãnh Lạc, nhưng người mặc áo trắng thì bị nhốt dưới huyệt đạo bí mật không ai biết tới, còn kẻ nọ mặc áo đen và tha hồ phát lệnh thủ hạ, nhưng lại thường không có mặt trong trang viện... Và kẻ mặc áo đen là tên Bắc Ưng Lãnh Lạc giả mạo và chính tiền bối đây mới là Bắc Ưng Lãnh Lạc chính cống, vậy dám hỏi tiền bối kẻ mặc áo đen giả mạo tên ngài đó là ai vậy?

Sau khi Thượng Quan Linh đã tìm ra manh mối và truy hỏi, người áo trắng bèn thở dài rằng:
- Ta sống tại nơi ẩm thấp tối tăm đây đã sáu năm trời nay, trong thời gian này thân thể của ta tuy đã bị tàn phế, nhưng lòng tin của ta vẫn không sao tắt, ta vẫn hằng mong ước một ngày nào đó, ta sẽ trở về trên mặt đất có ánh nắng, và sẽ lột ngay mặt nạ tên ác đồ ấy, và sẽ tìm cách để tiêu diệt nó...

Thượng Quan Linh lúc này đã quen với không khí xung quanh của huyệt đạo, từ từ chàng đã thấy rõ các vật xung quanh, và cũng chính lúc này, chàng thấy người mặc áo trắng này, từ đầu gối trở xuống, bị cụt hẳn, vì thế nên chỉ có thể ngồi bệt dưới đất, thoạt nhìn có thể tưởng lầm ngay là người lùn.

Thượng Quan Linh động lòng trắc ẩn, và chàng thấy cảnh thảm này của người áo trắng, quên hẳn nỗi đau đớn của mình. Người áo trắng lại nói:

- Thoạt tiên, ta hy vọng có thể khôi phục lại sức, rồi luyện riêng một ngọn tuyệt kỹ, để rồi chính tự tay mình đây sẽ trừng trị tên ác nhân đó, nhưng sau một thời gian trôi qua, ta đã hiểu rằng đó chỉ là một ảo tưởng, vì thực ra ta không làm sao ra khỏi được đường tuyệt đạo này, và nhất là công lực của mình lại kém hẳn tên ma đầu ấy. Cho nên, sau khi thất vọng chán nản, ta đã hy vọng thêm là người khác sẽ trả thù hộ cho ta, cuộc chờ đợi của ta cứ kéo dài mãi, nhất là làm sao có ai lại thình lình, mà vào được một nơi bí mật kín đáo như đây?

Nghe tới đây, Thượng Quan Linh sôi máu hiệp nghĩa, tính ra tay giúp, nhưng chàng lập tức đụng chạm ngay với thực tế trước mắt, toàn thân mình nay đã bị mất sức đâu còn làm được trò trống gì! Chàng thất vọng thở dài, vì trong cảnh bụt lội qua sông này bản thân còn khó giữ vậy, thì sức đâu mà giúp cho người khác!

Người áo trắng thở dài một tiếng, và bắt đầu thuật lại mọi chuyện...

Thì ra, chính vị tiền bối áo trắng này mới thực sự là Bắc Ưng Lãnh Lạc. Bắc Ưng vốn là người gia học uyên thâm, từ năm mười tuổi, đã bắt đầu dấn thân vào giang hồ, tiếng tăm lừng lẫy quan nội và quan ngoại, cả hai làng Hắc Bạch đạo trong võ lâm, đều kính phục ngưỡng mộ tiếng tăm. Vì xử thế công bình chánh đạo, hay giúp đỡ kẻ khó, và hễ có việc tranh chấp xảy ra trong làng võ lâm, đều hiên ngang đứng ra làm trọng tài, và nhờ chính trực không thiên vị ai, nên đã phục lòng thiên hạ, nhiều khi chỉ một vài câu nói, cuộc thù hận đôi bên lập tức tiêu giải ngay, nhờ thế mà đã vô tình bảo toàn một nhóm người xuất sắc của võ lâm lúc bấy giờ! Nhưng sáu năm về trước, Bắc Ưng đứng ra để dàn xếp một việc tranh chấp nọ thì xảy ra lôi thôi rắc rối trong vấn đề.

Số là trong lần ấy, Hắc Sơn Ngũ Hào của miền quan ngoại đã xảy ra cuộc tương tranh với Thượng Hải Quân của tỉnh Hà Bắc, đôi bên hẹn quyết đấu với nhau tại gần Sơn Hải Quan, nguyên nhân của vụ tranh chấp này là do tên út nhất của Quan Ngoại Ngũ Hào là Lão ngũ Thiết Kiến Sơn gây nên, tại gần Thương Châu, hắn đã gây ra án tiền gian hậu sát (hiếp trước giết sau) với một thôn nữ trong vùng, tuy quan phủ có lệnh tróc nã ráo riết, nhưng họ đành thúc thủ với những nhân vật cao thủ đi mây về gió này. Lão ngũ Thiết Kiến Sơn sau khi gây ra vụ án làm chấn động quan phủ này, hắn đã ỷ tài cao tới lui lên tiếng hống hách với các nhân vật giang hồ trong vùng, nói rõ nếu ai không phục, cứ việc tới tìm. Hắn đã chờ tại Thương Châu ba ngày, và đám nhân vật giang hồ vùng Thương Châu, quả khiếp oai của Thiết Kiến Sơn, không ai dám ho he gì.

Khi mãn ba ngày, Thiết Kiến Sơn ung dung rời khỏi Thương Châu; không ai dám ra ngăn chặn, không ngờ ngay lúc đó, con trai duy nhất của Thượng Hải Quân là Hoàng Văn đi ngao du đến miền Thương Châu, sau khi nghe được tin này, cả tức, hấp tấp đuổi theo tên Thiết Kiến Sơn. Một cuộc kịch chiến được diễn ra, vì đôi bên đều là hạng đệ nhất lưu cao thủ, một trận sinh tử chiến diễn ra tưng bừng, nhưng sau chót, Hoàng Văn quả là võ học uyên thâm, tài nghệ cao hơn một bực, khi ngoài trăm hiệp, cây trường kiếm xẻo ngay một tai bên trái của Thiết Kiến Sơn, khiến cho tên này ôm cổ chạy luôn. Hoàng Văn tuổi trẻ háo thắng, chuyến này vì trượng nghĩa ra tay, được thiên hạ hết lời ca ngợi, chàng hiệp sĩ anh hùng hí hửng vui vẻ về nhà, nào chàng ta ngờ đâu mình đã rước họa vào thân. Thượng Hải Quân hỏi ra, mới biết con mình ra tay trừng quân ác nhưng đã nương tay bằng cách xẻo đi một tai bên trái của quân ác, xem ra tên Thiết Kiến Sơn sau khi nhận lãnh bài học này sẽ tự ăn năn sám hối cải tính ác của hắn! Nào ngờ sau khi hắn đào tẩu về Hắc Sơn, khóc thảm thiết với bốn vị nghĩa huynh, cố tình bóp méo sự thực, xuyên tạc câu chuyện: cha con Thượng Hải Quân ỷ thế hiếp người, khiến cho bốn vị nghĩa huynh xung gan nổi tiết, thế là anh em Ngũ Hào miền Hắc Sơn kéo nhau về Nam tìm ngay Hoàng Văn, và năm anh em bắt sống Hoàng Văn, chặt đứt luôn tứ chi (hai cánh tay hai cẳng chân) cho người khiêng ngay về nhà Thượng Hải Quân. Tội nghiệp cho Hoàng Văn chỉ còn miễn cưỡng giữ chút hơi thừa, khi về đến nhà gặp được cha già, chỉ thốt ra được năm tiếng: Cha báo thù cho con rồi tắt thở luôn. Thượng Hải Quân vừa uất vừa đau đớn, ngất xỉu mấy lần, ngay lúc đó Ngũ Hào cho người đem thơ lại mời đến Sơn Hải Quan quyết đấu, Thượng Hải Quân bèn nhận ngay lời thách. Vị đại hiệp đã qui ẩn lâu năm, vì cái chết thảm thiết của con trai độc nhất của ông ta, khiến nỗi ông ta không muốn sống nữa, quyết ý cùng liều chết với kẻ thù, và đã đơn thân độc mã lên miền Bắc để phó hội Sơn Hải Quan.

Tin tức lan truyền ra, trong làng võ lâm đều nổi công phẫn, các tay hiệp nghĩa đồng đạo, ngấm ngầm ra quân, âm thầm bảo vệ cho Thượng Hải Quân đi phó hội! Đồng thời họ cũng nghe đồn Hắc Sơn Ngũ Hào dám ngang nhiên ngông cuồng vậy, chắc đã dựa vào thế lực của một tay lợi hại nào. Các bạn thân của Thượng Hải Quân chỉ sợ thực lực không đủ, nên đã vội lo phi báo ngay tin cho Bắc Ưng Lãnh Lạc, mời người này ra mặt để làm chủ trì công bằng. Khi Bắc Ưng Lãnh Lạc đến Sơn Hải Quan, đôi bên đương sự đã tới đủ mặt, một bên toàn là những tên bại loại Hắc đạo hợp với Hắc Sơn Ngũ Hào, đông đến trên năm chục người, một bên toàn những bạn hữu hiệp nghĩa của Thượng Hải Quân, số đông cũng năm mươi trở lại, thế lực đồng cân ngang nhau, mắt thấy một trận huyết chiến khó lòng tránh khỏi!

Thượng Hải Quân lúc này đã tức không nói được câu gì chỉ còn biết sẵn sàng giao chiến, nhờ mấy người bạn đưa ngay điều kiện ra, bắt Ngũ Hào Hắc Sơn lập tức phải tự tử để tạ tội! Nhưng Ngũ Hào Hắc Sơn đâu chịu, trong khi sắp sửa giao tranh, Bắc Ưng Lãnh Lạc ra mặt can thiệp, xin cả đôi bên tạm ngưng một ngày, để ông ta nghĩ một biện pháp công bằng dàn xếp.

Bắc Ưng Lãnh Lạc vốn đều được người trong võ lâm trọng vọng, đôi bên sau khi nghe lời, đều đồng ý chờ đến ngày hôm sau đó Bắc Ưng đứng ra quyết định.

Nếu phải xử cho công bằng, thì đám Ngũ Hào Hắc Sơn ít nhất lão Đại và lão Ngũ phải tự tử, mới kết liễu được nhưng Ngũ Hào nào chịu nhục thua. Đêm đó, Lãnh Lạc đi loanh quanh trong phòng một mình. Bỗng thình lình, trong bóng tối, có tiếng uy hiếp Bắc Ưng Lãnh Lạc, bắt ngày mai phải cố bênh vực cho phía Ngũ Hào, đứng ra hòa giải bằng cách: Ngũ Hào sẽ cử hành trọng lễ để mai táng Hoàng Văn, và đôi bên kể như hòa trong vụ này. Đồng thời còn nói rõ, số mạng sống chết của Bắc Ưng đã nằm trong tay họ, nếu mai đây mà không ngoan ngoãn theo lời, thủ cấp sẽ không cánh mà bay ngay. Bắc Ưng đường đường là một đại hiệp, xưa nay đâu từng để ai bắt chẹt mình bao giờ, nghe xong liền nổi giận quát người kia hiện ra để gặp nhau.

Trong bóng tối, tiếng nói nọ vẫn lạnh lùng rằng:

- Ta không thể nào ra, và ngươi cũng đừng hòng thấy nổi mặt ta. Người trên thế gian này, chưa hề có ai thấy qua mặt ta, họ chỉ thấy bộ mặt hóa trang của ta, nếu vô phúc cho ai thấy nổi mặt thật của ta, người đó lập tức phải chết ngay! Nay ta chưa kịp hóa trang, nên không thể nào ra gặp ngươi! Và bây giờ ta đếm từ một cho đến mười, nếu ngươi không chịu, ta chỉ khẽ ra tay, hồn ngươi lập tức báo danh ngay tới quỉ phủ!

Tiếng nói kia từ trong bóng tối đã bắt đầu đếm những tiếng lạnh lùng và chậm chạp! Bắc Ưng Lãnh Lạc nghe những âm thanh kiêu hùng và hình như nắm chắc cái thắng trăm phần trăm ấy, như có thể dồn ngay đối thủ vào ngõ tử địa ngay vậy, trong lòng hoảng lên, chợt nghĩ ngay đến một người...

Chính là người đã được thiên hạ đồn đãi ghê gớm, không ai khác hơn là Tỉ Vương. Bắc Ưng Lãnh Lạc vội từ trong người hấp tấp lấy ra một vật, choàng nhanh ngay vào cổ.

Tiếng lạnh lùng trong bóng tối vừa đếm hết mười thấy Bắc Ưng Lãnh Lạc không chịu khuất phục, cười gằn lên một tiếng, một làn bạch quang bắn tung ngay ra! Bắc Ưng Lãnh Lạc biết ngay là võ lâm dị bảo Lãnh điện tỉ thủ đây tương truyền rằng xưa nay không ai thoát chết khỏi với ngọn Tỉ thủ ghê gớm này. Lúc này thấy Lãnh Lạc vận hết công lực bình sinh của mình, song chưởng đẩy cùng ra một lượt đánh hẳn vào ngọn Tỉ thủ.

Công lực của Lãnh Lạc vốn là hạng đệ nhất lưu trong giang hồ, ra tay trong cơn tức giận này, đâu phải tầm thường gì, chỉ nghe kình phong ào ào kinh trời động đất. Quả nhiên thấy ngọn Lãnh điện tỉ thủ hơi ngập ngừng lại, Ngũ Hào Hắc Sơn chợt lại bắn vọt tới như một con bạch long. Lãnh Lạc không sao chống cự nổi, chỉ cảm thấy làn bạch quang nhoáng hoa trước mắt, trên cổ như bị thắt chặt lại, sức lạnh thấu xương! Bắc Ưng Lãnh Lạc hồn vía muốn bay luôn khỏi xác, chỉ còn nước nhắm mắt chịu chết.... Ngũ Hào Hắc Sơn nào hay ngay lúc đó lại có kỳ tích xuất hiện, làn bạch quang tắt hẳn, trong phòng xuất hiện một người, toàn thân áo màu đen. Lãnh Lạc nhìn rõ mặt người này, bất giác lại rợn tóc gáy nổi da gà thì ra khuôn mặt ấy không phải là khuôn mặt của người tầm thường, một khuôn mặt chỉ thấy toàn đen và đen... Ngoài ánh mắt sáng lạnh ra, tai, mũi, má, gần như đã mất đâu hết...

Lãnh Lạc đã nhờ báu vật tổ truyền là Kỳ lân bảo đới (chiếc đai báu) cuốn chắc nơi cổ, nên không hề bị rụng đầu, nhưng nay được thấy Tỉ Vương, tuy chưa rõ hẳn bộ mặt thật sự của y ra sao, nhưng với bộ mặt này, Bắc Ưng Lãnh Lạc cũng đã bủn rủn chân tay, không còn sức đâu để kháng cự nữa. Lúc này Tỉ Vương đứng ngay trước mặt Bắc Ưng lạnh lùng rằng:

- Xưa nay chưa ai có thể thoát mạng khỏi về ngọn Tỉ thủ của ta, nay không ngờ lại ngoại lệ như thế, thôi cũng được! Ta tha chết cho ngươi, nhưng ngươi đã thấy ta, chuyện này ta không thể nào buông xuôi cho được...

Bắc Ưng Lãnh Lạc tự biết mình không phải đối thủ, trong lúc Tỉ Vương đang nghĩ cách để xứ trí với Bắc Ưng, thế mà Lãnh Lạc đành tuyệt vọng không dám nhân cơ hội để chạy trốn.

Tỉ Vương trầm tư một lúc rồi rằng:

- Ta sẽ chặt hai cẳng ngươi và đem giam cố tại...

Bắc Ưng Lãnh Lạc nhận ngay lời và cũng đưa ngay điều kiện ra để đánh đổi, đó là Tỉ Vương không được can dự vào việc oán thù của Hắc Sơn Ngũ Hào và Thượng Hải Quân. Không ngờ vị ma đầu Tỉ Vương giết người không chớp mắt này, đã bị cảm động về dũng khí và chánh nghĩa của Bắc Ưng. Tức khắc, Tỉ Vương nhoáng nhanh tay điểm ngay vào huyệt hôn mê của Bắc Ưng. Vị ma đầu này bèn quắp ngay Bắc Ưng Lãnh Lạc rời khỏi Sơn Hải Quan về luôn Bắc Ưng Trang. Sau khi chặt hai chân của Bắc Ưng Lãnh Lạc, Tỉ Vương lấy thuốc cầm máu băng bó lại cho Lãnh Lạc, từ đó vị đại hiệp Bắc Ưng trở thành người tàn phế, rồi bị đưa vào mật đạo của Lãnh Ưng Trang này giam cầm cố, ăn uống có người lo hết, nhưng Tĩ Vương có lời hứa từ trước, trừ phi Bắc Ưng Lãnh Lạc có thể ra thoát khỏi nơi huyệt đạo này, cứ việc lại tìm Tỉ Vương để mà trả thù hay liều mạng, còn không, sẽ phải sống suốt đời tại đây cho đến khi mãn kiếp! Trong Lãnh Ưng Trang, từ đó gặp luôn một kiếp tai ương, cả trên trăm mạng nô bộc trong trang đều bị câm hết, thần tình quái dị, muốn sống không xong muốn chết cũng không được.

Trang viện Lãnh Ưng vốn là một thế ngoại đào viên của miền quan ngoại sa mạc, các tay võ lâm khi phải vượt qua bãi sa mạc mênh mông, đều phải ghé vào đây để nghỉ chân, nhưng ngày nay, tất cả đều đã thay đổi, đây đã trở thành một nghĩa địa màu đen, vì màu đen là màu tiêu biểu của Tỉ Vương, nên chi tất cả mọi vật dụng trong Lãnh Ưng Trang đều được trang điểm thành màu đen hết, không có một sự phản quang, ban ngày cũng như ban đêm. Cả trăm tên nô bộc, đều bị ép mặc áo đen, sau khi uống thuốc, chúng đã mất bản tính đặc biệt của mình, sắc mặt như ngây dại, tất cả mọi động tác trở nên nhẹ nhàng và chậm chạp, chẳng khác nào như các bóng ma đang chập chờn theo sự sai khiến của ma quân.

Trong lúc đó, vị Tỉ Vương ma quân đã hóa trang nghiễm nhiên trở thành một vị Bắc Ưng Lãnh Lạc để xuất hiện công khai trên giang hồ, nhưng Tỉ Vương ma quân lại thường vắng mặt tại Lãnh Ưng Trang, nhưng cũng không hề lấy danh nghĩa của Bắc Ưng Lãnh Lạc để gây các vụ án tàn ác khác.

Vị Tỉ Vương ma quân không những tung tích quỉ xuất thần nhập mà lại còn giỏi cả về cách hóa trang, Bắc Ưng Lãnh Lạc biết mình không sao thắng nổi người này được, đành ôm hận ngồi trong hang huyệt này chờ đợi một kỳ tích xuất hiện, vì chính Bắc Ưng Lãnh Lạc cũng thừa hiểu rằng, nếu mình có thoát ra, cũng không làm sao tránh khỏi tai mắt của những tên chó săn của Tỉ Vương ma quân. Cuộc chờ đợi đã kéo dài ra suốt sáu năm trời và mãi đến khi Thượng Quan Linh đã kéo dài ra suốt sáu năm trời và mãi đến khi Thượng Quan Linh cũng bị giam vào trong mật đạo của Lãnh Ưng Trang!

Sau khi nghe hết đoạn sự tích của Bắc Ưng Lãnh Lạc kể, Thượng Quan Linh như si như tỉnh; trong lòng vô cùng kính phục vị đại hiệp này, nhất là với tấm thân tàn ma dại mà đã kiên nhẫn chờ đợi suốt trong sáu năm trời ở một nơi địa ngục ẩm thấp, trong cảnh âm u tịch mịch đau khổ ấy, đã không sao xóa mờ được ý chí quyết trừ quân gian ác, không thể nói đây không phải là một kỳ công! Nhắc đến chuyện trên giang hồ về sáu năm trước, vụ tranh chấp giữa Ngũ Hào Hắc Sơn và Thượng Hải Quân ở Sơn Hải Quan, đó là một vụ án đã làm chấn động dư luận khắp trong thiên hạ lúc bấy giờ. Thượng Quan Linh cũng biết kết quả cuộc giao tranh kịch liệt ấy, cuối cùng Thượng Hải Quân đã thí luôn mạng chung với anh em Ngũ Hào, nhân vật trong hai phái Hắc Bạch đạo chết cũng không ít. Bắc Ưng Lãnh Lạc sau khi kể xong câu chuyện, nét mặt tỏ ra vô cùng xúc động cảm thương!

Thượng Quan Linh cũng kể lại những việc trên giang hồ đã xảy ra trong sáu năm gần đây cho Bắc Ưng Lãnh Lạc nghe một lượt. Bắc Ưng Lãnh Lạc chăm chú nghe xong, bèn cho Thượng Quan Linh hay là, tên Tỉ Vương ma quân này dã tâm vô cùng, và những nhân vật trong Hắc Đạo bị y mua chuộc rất nhiều, và còn khá nhiều nhân vật hiệp nghĩa bị y bắt chẹt đành phải nghe theo lệnh của y!

Tên Tỉ Vương ma quân này vốn là người đa mưu túc trí tuyệt vời, luôn luôn cải trang hóa dạng, dưới tay lại có sẵn đám tử đảng, thay mặt y để giám sát hành động mọi người, sau đám tử đảng ấy, lại có các tay bí mật khác coi chừng, nghĩa là canh chừng nhau theo hệ thống từng từng lớp lớp và lẽ dĩ nhiên là không ai biết ai ngoài một cao thủ có thể đưa mình vào ngõ chết? Bởi tổ chức chặt chẽ nghiêm minh, các đàn em, hoặc trực tiếp hay gián tiếp, chưa có ai đã được thấy bộ mặt thật của Tỉ Vương ma quân ra sao, nếu có thấy chỉ toàn những bộ mặt đã được cải trang hóa dạng sẵn, hoặc là một tín vật, một đạo hiệu lệnh, và không ai dám chống lệnh! Nếu không, ắt khó giữ mạng sống. Nói tới đây, Bắc Ưng Lãnh Lạc tự nhìn nhận mình không phải địch thủ của Tỉ Vương ma quân. Nay chỉ còn cách tập trung hết các tay nghĩa hiệp trong thiên hạ để mà triệt hạ tên ma đầu ghê gớm ác đức này mới được. Trong sự chọn, xem ra chỉ có vị kỳ nhân được tôn là cao thủ đệ nhất trong thiên hạ là Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác là người xứng đáng ra đảm nhiệm chức minh chủ võ lâm! Nhưng nay xem ra, Tỉ Vương ma quân đã ngấm ngầm chuẩn bị các bè phái của y để dự cuộc thịnh hội tại Bạch Linh Miếu vào ngày mùng một Tết đây, rất có thể thâm ý của Tỉ Vương ma quân khi mở cuộc khiêu chiến với nhóm người nghĩa hiệp miền Trung Nguyên cũng nên. Theo lời thuật lại của Thượng Quan Linh hay rằng: trong đêm ngủ ngoài bãi sa mạc ấy, bả vai là hành động kiệt tác của Tỉ Vương ma quân. Chắc là trong lúc vô tình nghe nói Thượng Quan Linh được ăn tiên hoa, binh khí không thể nào làm gì chàng được, Tỉ Vương ma quân không phục, nên mới dùng đến ngọn binh khí ghê gớm là Lãnh điện tỉ thủ để thử xem sao!Với thủ đoạn thần xuất quỉ nhập như thế, đương nhiên Tỉ Vương ma quân đã hoàn thành một cách thuận lợi không bị ai phát giác, đồng thời vết thương Thượng Quan Linh lại không thấy máu và liền ngay lại sau khi đó. Chính vết thương ấy là triệu chứng của Lãnh điện tỉ thủ gây nên.

Nay đoán ra, việc mạo xưng Bắc Ưng Lãnh Lạc của Tỉ Vương là cốt để dò thăm tin tức của đám thầy trò Thượng Quan Linh đang mưu tính đến giải cứu Tây Đạo và Đông Tăng, đồng thời cũng tìm lão bà bịt mặt để trả thù, nhưng Thiên Si và Túy Đầu Đà đã bị giam hãm, còn lão bà bịt mặt chính là một trong số những bộ hạ trung tín nhất của Tỉ Vương, nay tương kế tựu kế, nhử hết thầy trò Thượng Quan Linh vào Lãnh Ưng Trang để hãm hại.

Nhưng tại sao lại ra tay để đối riêng với Thượng Quan Linh vậy? Bác ưng Lãnh Lạc ráng phân tích tìm hiểu, một ý nghĩa rùng rợn: Vì Thượng Quan Linh lúc này trở thành con người bất phàm vì ăn tiên hoa nên Tỉ Vương e kỵ ngại ngùng, nên ra tay trước là mạnh hơn. Nhưng nếu không giết Thượng Quan Linh, cũng không xong chuyện, chắc có lẽ Tỉ Vương ma quân cũng muốn bắt chước lối ẩm huyết (uống máu tươi) của Tả Pháp Thụ xưa kia chăng. Vị Tỉ Vương thế nào chả muốn công lực của Tuyết bi tiên hoa truyền sang người mình, nhất là trong tay lại có sẵn binh khí Lãnh điện tỉ thủ, công việc dễ như trở bàn tay.

Thượng Quan Linh càng nghe càng ớn lạnh, Bắc Ưng Lãnh Lạc lại cho rằng: Tỉ Vương vốn là người thông minh tuyệt vời, và rất có thể trong những thời gian tiếp xúc ngắn ngủi ấy, Tỉ Vương ma quân có thể bắt chước tất cả những cử chỉ cũng như lời ăn tiếng nói, và nay chắc chắn đã hóa dạng thành một Thượng Quan Linh giống đúng như tạc để cùng đi chung với nhóm Nam Bút đến Bách Linh Miêu. Và chính trong bữa tiệc đêm qua, Tỉ Vương chả đã nói là bận việc riêng, không thể nào đi chung được cùng chuyến, điều ấy đủ chứng tỏ Tỉ Vương sẽ xuất hiện với lối thế thân của Thượng Quan Linh. Bởi tên ác nhân này không thể cùng một lúc xuất hiện thành hai nhân vật được!

Nói vậy ra, Nam Bút tiên sinh, Liễu Mi, Sở Canh cả ba người này đều chưa phát giác âm mưu của Tỉ Vương đang đi cạnh họ chính là hóa thân của Thượng Quan Linh, trời ơi! Như thế chuyện sẽ tai hại đến chừng nào...

Thượng Quan Linh quýnh lên, đôi mắt chàng tối sầm lại rầm, một tiếng ngất té luôn xuống mặt đất... Nhưng đến khi mặt chàng đụng vào nền đất ướt và lạnh ấy, chàng lại hồi tỉnh lại ngay, nay chỉ còn mình với Bắc Ưng Lãnh Lạc là biết rõ âm mưu thâm độc này của Tỉ Vương ma quân. Bắc Ưng đã thành người tàn phế, đương nhiên không còn hy vọng đắc lực gì mấy, giờ chỉ còn trông cậy vào còn mỗi mình, làm sao lột trần âm mưu của Tỉ Vương ma quân để tránh cho thầy, cho người yêu, người bạn khỏi bị mắc mưu gian.

Thượng Quan Linh cố dồn hết tàn lực của trí óc, chàng cố gắng ngồi dậy, cất tiếng hỏi Bắc Ưng Lãnh Lạc rằng:

- Kính thưa tiền bối, từ đây lại Bách Linh Miếu, phải bao nhiêu lộ trình?

Bắc Ưng Lãnh Lạc rằng:

- Mau nhất cũng phải mất bốn ngày hành trình.

Bắc Ưng như chợt hiểu ngay câu hỏi của Thượng Quan Linh, nên lại bổ túc thêm rằng:

- Cuộc thịnh hội của Bách Linh Miếu vào mùng mười tết đây, đó chính là ngày quyết định tất cả mọi việc, nay mới là mùng một Tết, nếu chậm lắm anh cũng phải khởi trình vào ngày mùng năm Tết thì mới kịp được.

Thượng Quan Linh cố thử đứng dậy, nhưng chàng cảm thấy đầu óc nhức nhói khó chịu, trong mình buồn bực, toàn thân lảo đảo, mới bước được hai bước, lại đành phải ngồi ngay xuống vì chóng mặt. Chàng nản chỉ buồn thảm nói:

- Thưa Lãnh đại hiệp, vãn bối lúc này quả thật muốn chết quá!

Bắc Ưng Lãnh Lạc điềm nhiên khuyên rằng:

- Sao anh bạn trẻ lại nói thế! Đến thân tàn ma dại như tôi đây, còn đang cố vùng vẫy để sống, huống hồ anh là người còn nhiều tương lai rực rỡ đang chờ đợi. Sao vội nản chí thế!

Thượng Quan Linh đau khổ rằng:

- Nay bị giam hãm tại đây, tệ hơn nữa là công lực của vãn bối chưa khôi phục, không sao kịp để ngăn chặn âm mưu hiểm ác của Tỉ Vương, xem ra một trận tai ác khó lòng tránh khỏi, vãn bối nay biết xoay sở ra sao?

Thượng Quan Linh càng nghĩ càng quýnh, vì Nam Bút thầy mình, vợ chưa cưới Liễu Mi, Sở Canh, nay họ đang cùng đi chung với Thượng Quan Linh giả, mà đâu có hay? Làm sao mà tránh khỏi chuyện hung ác sẽ đưa đến cho họ, sợ nhiều khi bị hại mà vẫn còn chưa hiểu nguyên cớ tại sao là khác! Càng nghĩ chàng càng cảm thấy tuyệt vọng bi ai, và đầu óc lúc này chỉ còn nghĩ đến chết.

Chàng đưa tay rờ ngay cây Lệ thủy tinh kiếm bên mình để tính tự tử, nhưng nào còn thấy kiếm quí đâu nữa! Thì ra Tỉ Vương ma quân quả là tên ma đầu suy tính cẩn thận, đã đóng vai Thượng Quan Linh, làm sao có thể thiếu sót được một chi tiết quan trọng ấy? Thượng Quan Linh bực mình, nhưng chàng lại lập tức nghĩ ngay: lao đầu vào vách động đây cũng chết được lắm, nhưng ác nỗi lúc này toàn thân yếu như sên, đến chút sức nhỏ nhen này cũng không còn làm nổi!

Thượng Quan Linh đành thở dài não nề: trong bóng tối âm u của huyệt động, Bắc Ưng Lãnh Lạc không động đậy, hình như ông ta đang suy nghĩ gì, chẳng hề lên tiếng khuyên can hay an ủi Thượng Quan Linh. Một không khí nặng nề đang bao phủ xung quanh hai người, bỗng Thượng Quan Linh lên tiếng:

- Thưa Lãnh đại hiệp, ngài có biết tên khốn kiếp ấy đã cho vãn bối uống thuốc độc gì không? Sao vãn bối cảm thấy như không bao giờ còn khôi phục lại được sức lực của mình vậy?

Bắc Ưng Lãnh Lạc từ từ rằng:

- Tuy tôi không thể nào nói rõ tên chất độc của Tỉ Vương nhưng tôi nghĩ rằng đó là một thứ độc dược ghê gớm, đương nhiên bị nhốt trong này thì làm gì mà có thuốc cứu nổi...

Thượng Quan Linh bỗng lớn tiếng rằng:

- Thưa Lãnh đại hiệp! Vãn bối xin ngài giúp cho một việc, vãn bối xin ghi ơn muôn đời...

Bắc Ưng Lãnh Lạc rằng:

- Anh cứ việc nói, nếu sức lực của Bắc Ung này có thể đạt đến, quyết không trừ khước!

Thượng Quan Linh vẫn lớn tiếng:

- Thưa Lãnh tiền bối, chuyện vãn bối yêu cầu đây không có gì khó khăn lắm! Vì nay vãn bối đã chán nản và tuyệt vọng, duy chỉ còn tìm cái chết để giải thoát nỗi khổ lòng, vậy kính xin ngài hãy mở lòng từ bi, tặng cho vãn bối một chưởng. Vì công lực của ngài vẫn còn, và chuyện này dễ như trở bàn tay, vãn bối thành khẩn xin ngài tội nghiệp ra ơn cho!

Nhưng Bắc Ưng Lãnh Lạc đã khiến cho Thượng Quan Linh phải ngạc nhiên, chỉ nghe Bắc Ưng nói rằng:

- Nay công lực của anh đã mất, quả là một chuyện buồn, cuộc tai ác này quả không thể nào tránh khỏi. Theo tôi nghĩ, anh có sống, thêm đau khổ nhiều, nhất là những kẻ trẻ trung như anh, làm sao chịu nổi sự dày vò đau khổ của những ngày tháng liên miên buồn thảm thế, chẳng thà chết quách đi cho được việc...

Thượng Quan Linh nghe vậy, hiển nhiên Bắc Ưng đã có ý muốn giúp mình, chàng yên trí.

Bắc Ưng Lãnh Lạc lại rằng:

- Này anh bạn trẻ, ta sẽ làm vừa lòng anh, nhưng phải tìm một phương pháp nào mới được! Nếu muốn hạ chưởng đánh chết anh, anh cũng biết rằng nay ta đã thành người tàn phế, công lực thua xa trước, đồng thời anh đâu phải là kẻ thù gì với ta, lỡ ta không nổi được cơn ác khùng thực sự, chừng đánh ra một chưởng, khiến cho anh nửa sống nửa chết, chừng đó lại càng đâm khổ tâm thêm cho nhau là khác!

Thượng Quan Linh vội rằng:

- Vãn bối sẽ quì ngay trước mặt tiền bối, sẽ do đại hiệp phát chưởng đánh thẳng cánh vào ngực hoặc bửa thẳng ngay thiên linh cải, như thế chắc ăn trăm phần trăm, quyết không còn gì trở ngại...

Bắc Ưng Lãnh Lạc vẫn phản đối rằng:

- Như thế cũng không được, nếu đánh vào ngực, thế nào anh cũng bị thổ huyết mà chết, nếu bửa thẳng trên đầu chiếc sọ của anh sẽ bể tan tành, hai cảnh chết ấy đều rùng rợn dễ sợ cả. Anh cũng biết tôi suốt đời này, không còn ra khỏi huyệt động này, nếu anh chết rùng rợn kinh người như thế, anh bảo tôi làm sao không sợ thây ma của anh cho được, lỡ oan hồn anh về phá phách... Hai cẳng tôi đã mất, mà người chết đâu biết nghe lời kẻ sống bao giờ đâu?... Thôi! Thôi!... Tôi ngán ma lắm!...

Thượng Quan Linh cười khóc dở dang, chàng nghĩ Bắc Ưng Lãnh Lạc đáng lẽ tàn tật như thế phải tự tử từ lâu rồi mới phải, ấy thế mà vẫn còn quyến luyến cuộc sống! Lạ thật!...

Tuy chàng nghĩ vậy nhưng không nói ra, và lúng túng hỏi rằng:

- Thưa tiền bối... theo ý ngài... ngài có ý kiến gì?

Bắc Ưng Lãnh Lạc rằng:

- Ta có một cách, anh nằm ngay bên cạnh ta đây, và bạch ngực ra, ta sẽ ra tay điểm vào tử huyệt của anh, để sau khi anh chết, vẫn có thể giữ được một sắc thái tự nhiên và hiền hòa; như thế ta sẽ có cảm giác anh là một bạn thân đang nằm ngủ cạnh bên người ta, mà không phải là một thây ma!

Thượng Quan Linh chỉ cần chết cho chóng, bất luận là phương pháp gì cũng được, chàng nhận ngay lời, lết gần lại cạnh Bắc Ưng Lãnh Lạc, nằm ngửa và bạch ngay ngực ra chờ đợi. Lãnh Lạc giơ ngay ngón trỏ và ngón giữa ra để sửa soạn điểm vào tử huyệt, Thượng Quan Linh chỉ còn nước nhắm mắt chờ chết... Nhưng mãi vẫn chưa thấy Bắc Ưng ra tay, Thượng Quan Linh chờ đợi, và chờ đợi... chàng bất giác hé mắt ra nhìn thử, chỉ thấy Lãnh Lạc đại hiệp đang chăm chú nhìn mình, tay đang giơ lên, hình như còn đang tìm xem điểm vào huyệt nào mới đúng?

Chàng lại cố gắng nhắm mắt để chờ đợi, nhưng Lãnh Lạc vẫn chưa ra tay, suýt nữa Thượng Quan Linh đã buột miệng chửi, nhưng chàng vẫn cố chịu đựng, vì mỗi lúc một tăng thêm phần căng thẳng trong sự khủng hoảng tinh thần của chàng, khiến cho Thượng Quan Linh toát đầy mồ hôi và đã rên lên những tiếng nhỏ... và chàng đã ngất đi luôn. Bỗng chàng cảm thấy một bàn tay khác luồn ngay vào sau lưng mình, một cảm giác lành lạnh truyền ngay vào trong mình. Thượng Quan Linh lúc này lại tỉnh ngay trí, và chàng cho rằng chắc Bắc Ưng xích gần thân mình lại để dễ bề hạ thủ đây. Thôi! Mình sẽ chết tức tối giờ đây! Tuy lúc này, chàng không dám nghĩ thêm gì, nhưng óc chàng lúc này lại phức tạp vô cùng, bao nhiêu hình bóng và sự việc đã dồn dập đưa cả lại một lúc! Chàng cắn răng nhắm chặt mắt, chàng ức và rủa thầm, sao giờ phút này mình lại không ngất đi cho đỡ đau đớn, ác hơn nữa là vị Bắc Ưng Lãnh Lạc này, tại sao ra tay chậm chạp thế không biết... Nhưng cánh tay của Bắc Ưng Lãnh Lạc lại khởi sự ra sức truyền tới sau lưng của Thượng Quan Linh, chàng cảm thấy người mình như lại được nhích bổng lên một ít.

Có ai mà không sợ chết đâu? Chàng Thượng Quan Linh lúc này cũng khẩn trương đến cực độ, chàng có tỏ ra một khí khái của kẻ anh hùng để cố đè nén lòng hoảng sợ kinh hãi hồi hộp của mình, nhưng chàng không sao làm nổi. Chàng đã run như sốt rét, mắt tuy nhắm chặt, môi trắng nhợt, đầy mình toát mồ hôi lạnh, một thời gian chịu đựng quá sức dài, không phải là Bắc Ưng không muốn giúp đỡ mình, mà chính ông ta còn đang cố chuẩn bị cho mọi việc chu tất theo đúng lý tưởng của ông ta, nghĩa là sẽ dồn mình vào một cái chết rất thận trọng!

Chương 68: Tự giả loạn chân

Những người đang sống, đều sợ chết! Thượng Quan Linh cũng không tránh khỏi lệ ấy, chàng hồi hộp chờ đợi giây phút đó tới... Bỗng Bắc Ưng Lãnh Lạc thình lình quát lên một tiếng: Trúng, hai ngọn chỉ đâm xỉa nhanh ngay xuống. Thượng Quan Linh co rúm người lại, hồn vía như đã vất vướng khỏi ngoài xác. Nhưng tri giác của chàng vẫn chưa bị tuyệt hẳn, chàng cảm thấy bàn tay đang luồn vào lưng của mình bỗng từ sức cực lạnh trở sang sức ấm dần... Nhưng chỉ trong thời gian nháy mắt, tri giác của Thượng Quan Linh đã mất hẳn, toàn thân chàng rụng rời hẳn... Động hang của Bắc Ưng Trang trở nên tịch mịch hư vô...

Cách Bắc Ưng Trang lối bốn mươi dặm đường, một đoàn lữ hành bốn người, ba trai một gái đang rong ruổi tắm ánh nắng ban mai của mùa đông, cả đoàn vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Cô gái duy nhất trong đoàn đang ngồi trên lưng lạc đà, trông càng hiển hiện sự bé nhỏ của nàng, lúc này nàng đương đi sát với một chàng thanh niên anh tuấn đẹp trai, đôi lạc đà đi song song với nhau, còn hai người đàn ông kia, đi cách xa phía trước đến bốn năm trượng.

Hai người đàn ông phía trước không hề quay đầu lại, hình như họ rất biết điệu với đôi tình nhân đang đi phía sau; đi được một chập, hướng đi bắt đầu chuyển dần về phía Tây Bắc, sau khi vượt khỏi một đồi sa mạc tương đối cao, tay cương của thiếu nữ như có vẻ uể oải! Nhưng sự thực nàng đâu mệt mỏi gì, chẳng qua vì lúc rời khỏi Bắc Ưng Trang đến giờ, ông chồng chưa cưới nàng không hề lên tiếng với nàng một câu nào, lòng dạ cô nàng đã cảm thấy không vui, nên lúc này vờ bộ uể oải để làm nũng với người yêu, mục đích là để cho người yêu quan tâm chăm chú đến mình, và nhất là chuyện trò cho đỡ ghiền. Nàng đưa mắt tống tình, ấy thế mà ông tình lang phải gió lại không chịu hiểu cho đáy lòng thiếu nữ mới khổ; thiếu nữ đã bực bội, nàng bắt đầu làm nũng thực sự:

- Anh Linh ơi!...

Chàng thanh niên anh tuấn quay sang đầu lại, nhẹ giọng hỏi ngay:

- Gì thế em Liễu Mi?

Liễu Mi gắt yêu:

- Cứ lo đi trước một mình, đường dốc thế này mà không chịu kéo giúp người ta một tay.

Chàng Linh nhà ta đi đàng trước bụng nghĩ thầm: Con đòi con khéo nũng nịu thật, mình phải cẩn thận hơn, nhỡ lộ tẩy thì hỏng chuyện hết...

Nghĩ xong, chàng Thượng Quan Linh bèn đứng ngay lại đưa tay ra để kéo cương cho cô thứ nữ đanh đá của Thanh Thông Bang leo lên gò cát, lúc này Liễu Mi ung dung ngồi như một bức tượng bồ tát trên lưng lạc đà, mà chờ Anh Linh ra sức kéo cương lôi lên gò. Anh Linh sau khi qua khỏi gò, bụng lại thầm nhủ: Con bé này tai quái thật, công lực của nó đâu phải là không có cách qua khỏi gò này, rõ ràng cố tình làm nũng để bắt tội người yêu. Hừ! Lẽ đương nhiên đâu biết mình là Thượng Quan Linh giả, trò chơi này kể cũng thú vị thật! Hà hà!...

Liễu Mi thấy ông tình nhân của mình vẫn câm như hến, lại lên tiếng:

- Anh Linh! Sao không nghe anh nói chuyện gì cả, bộ trong người khó chịu sao?

Anh chàng Linh này tương kế tựu kế cất giọng khản tiếng rằng:

- Nào em đâu có hay, ngu huynh tối qua bị quá chén, chiều bị cảm gió, chứ em không nghe tiếng anh bị khản giọng đó sao?

Liễu Mi nghe vậy cảm động cho người yêu, thì ra anh Linh của mình đã khó ở trong người, hèn gì chàng ta không được vui lắm, nàng vội cho lạc đà tiến sát ngay bên chàng, và phi thân ngay qua ngồi chung trên lưng lạc đà của Thượng Quan Linh. Giọng thỏ thẻ êm dịu hỏi:

- Anh Linh! Chỗ nào khó chịu đâu! Có phát nóng không? - Nói xong nàng vừa đưa tay bá ngay vào cổ chàng và áp lưng bàn tay lên má chàng thăm xem nhiệt độ.

Thượng Quan Linh không thể nào ngờ được Liễu Mi lại có cử chỉ thân mật đến thế, lúc này tâm hồn chàng cảm thấy chìm đắm vào ý nghĩ say sưa, trống ngực đập thình thịch. Thầm nghĩ: Đây mới thật là số đào hoa của trần gian. Trời ơi, sao không ghen với tên Thượng Quan Linh cho được, một người đẹp ngọc ngà thế này mà mê hắn... đi đâu mà tìm được một người thứ hai như nàng... Nhưng may, đời thằng oách con ấy đã hết vận, cứ để hắn chịu cảnh trong Bắc Ưng Trang một thời gian rồi sẽ hay, sau này ta trừng trị hắn cẩn thận hơn, giờ đây luân đến phiên mình hưởng phúc cái đã! Hà... Hà...

Liễu Mi khẽ thủ thỉ bên tai chàng:

- Anh Linh... lỗi tại em vừa bắt anh ra sức kéo con lạc đà của em, nên anh mới mệt thế... thôi em xin lỗi anh... và em sẵn sàng đến anh một cái... hôn. - Nàng nói rất nhỏ... và nàng lớn dần tiếng rằng: - Nếu anh thích bắt đền!

Lẽ đương nhiên chàng Thượng Quan Linh không phải là người gỗ, chỉ nghe tiếng Liễu Mi thủ thỉ hỏi:

- Sao anh đỡ mệt rồi chứ?

Chàng Thượng Quan Linh giả cười tình rằng:

- Em Liễu Mi đã cho anh thứ linh đơn tuyệt diệu như thế, lẽ đương nhiên là khỏi ngay tức tốc!

Trong cái động tác nóng bỏng nhấp nháy này, Liễu Mi cảm thấy như có gì là lạ, không nói lần hôn này khác hẳn các lần khác, vì trong các kỷ trước, cứ mỗi lần có những động tác thân mật ấy, chàng đều tỏ ra mất bình tĩnh và áy náy, và không bao giờ chàng lại kịch liệt như lần này. Và còn điểm quan trọng, ấy là cá tính đặc biệt của Thượng Quan Linh, Liễu Mi hiểu rõ hơn ai hết.

Thượng Quan Linh vốn là người thật thà, chàng không hề bao giờ biết châm biếm văn vẻ trong chuyện tình, nhưng lần này chàng lại biết nói đùa phong nhã, cái hôn bằng thứ linh đơn tuyệt diệu... Tuy người nói câu này là vô tâm, nhưng người nghe lấy làm lạ, sao một anh chàng khờ về chuyện tình như Thượng Quan Linh, nay bỗng lại trở nên một tay có vẻ sành như thế! Mẹ nàng Liễu Mi, Thanh Thông phu nhân, vốn là quốc sắc thiên hương, thông minh tuyệt đỉnh phò tá chồng Thanh Thông bang chủ Liễu Khải, giải quyết mau chóng các việc khó khăn, có nhiều chuyện trước khi chưa phát giác, phu nhân đã tiên đoán được ít nhiều của sự việc, và luôn luôn khéo léo dàn xếp mọi chuyện được vuông tròn, đó hoàn toàn nhờ ở bộ trí óc thông minh tuyệt đỉnh của phu nhân. Suốt thời gian sống với chồng, đã giúp chồng ứng biến không biết bao nhiêu chuyện khó khăn, trong số những người quen biết phu nhân, có người khâm phục, cũng có kẻ ghen ghét, và những kẻ ghét ấy đã nói xấu phu nhân, cho là người đa nghi, và họ đã lén tặng một biệt hiệu cho phu nhân là Thiên Hồ! (con hồ ly). Dòng máu thông minh tuyệt đỉnh ấy, hình như phu nhân đã di truyền vào huyết quản cho hai cô con gái sinh đôi, và nhất là cô em lại bị ảnh hưởng mạnh hơn cô chị, nhờ vậy nàng Liễu Mi tinh ranh tuyệt đỉnh, thường đoán trúng phong phóc được những việc sẽ xảy ra, lại nữa nàng có một đôi mắt quan sát khá tinh vi. Nhưng kỳ này, việc xảy ra lại chính trên thân người chồng chưa cưới, dù sao Liễu Mi cũng không thể nào nghi ngờ đến người yêu Thượng Quan Linh của mình, lúc này nàng lại tự cười thầm với tính đa nghi của mình.

Bỗng một lạc đà xuất hiện, cách trước mặt hai người không xa. Sở Canh vừa cười vừa gắt:

- Xin hai người làm ơn nhanh cho chút được không? Nam thúc thúc chờ mãi không thấy đến, tưởng là đã xảy ra chuyện gì rồi...

Liễu Mi sực tỉnh, nàng mỉm cười với Thượng Quan Linh nhảy về lạc đà của mình, giật ngay dây cương hấp tấp khởi trình và tươi cười nói rằng:

- Sở đại ca hãy đi trước đi! Chúng ta sẽ theo ngay sau...

Sở Canh tính móc đùa vài câu để chọc hai người, nhưng chàng sực nghĩ nhị cô nương miệng lưỡi ghê lắm, e mình không địch lại thì dại, nghĩ vậy Sở Canh bèn lo đi trước cho xong.

Liễu Mi cười và ra dấu với người yêu:

- Anh Linh! Thôi chúng mình nên đi mau lên, nếu không Nam thúc thúc lại trách chúng mình.

Thượng Quan Linh không trả lời chỉ mỉm cười gật đầu hai người vội đuổi theo Nam Bút và Sở Canh, sau khi nghỉ ngơi một chập, Liễu Mi lo lắng về sức khỏe của Thượng Quan Linh, tính nói với Nam Bút về sự khó chịu của chàng, nhưng bị Thượng Quan Linh ngăn ngay lại, và chàng đã tỏ ý khỏe hẳn rồi, đừng làm kinh động đến thầy, tránh sự lo phiền của ông ta.

Sau khi nghỉ ăn uống, bốn người lại tiếp tục khởi trình tiến về Bách Linh Miếu, trời bắt đầu về chiều, trên bãi sa mạc, gió bắt đầu thoang thoảng, mây trời cũng biến động. Đi thêm một chặp, Thượng Quan Linh bỗng biến đổi tính tình khác xưa kia, chàng không còn đi chung cạnh với Liễu Mi, lúc nào chàng cũng theo sát ngay sau phía thầy Nam Bút và bạn Sở Canh. Liễu Mi đi cạnh chăm chú quan sát, dần dần nàng lại phát hiện một sự lạ, tất cả những cử chỉ của anh Linh mình đã khác trước nhiều.

Không lẽ những sự kiện này không đáng nghi ngại sao? Liễu Mi tự hỏi lòng mình. Nhưng kinh nghiệm đã cho nàng hay, tất cả những sự kiện nguy hiểm gì đã xảy ra, phần đông đều do những chi tiết nhỏ nhất gây nên cả!

Trong lòng Liễu Mi bắt đầu lo lắng, tiếng nói của Anh Linh cũng đã thay đổi! Cái hôn lạ lùng khác thường, biết nói bông đùa văn hoa, cử chỉ thay đổi, tất cả những sự kiện này, không lẽ đều có nguyên nhân gì bên trong sao? Hoặc chỉ là một sự ngẫu nhiên, hay tại mình đa nghi?

Nếu nói bị cảm mà khản tiếng nói, có thể được lắm, nhưng về thói quen cử chỉ, làm sao có thể cải biến được. Lúc này trông chàng có vẻ ít nói mà lại cố ý lẩn tránh mình! Tại sao vậy? Nàng tìm nhiều giả thuyết, nhưng không một cái nào đứng vững! Âu chỉ là việc ngẫu nhiên... Nàng nghĩ lại đến Bắc Ưng Trang, một trang viên bí mật màu đen. Toàn những khung cảnh quái lạ kỳ dị, tuy lúc này bốn người đã thoát khỏi nơi trang viện màu đen khá xa, nhưng ai nấy vẫn còn bị ám ảnh, không lẽ do ám ảnh đó gây ảnh hưởng gì cho Thượng Quan Linh. Không lý Bắc Ưng Lãnh Lạc trước khi chia tay, đã giở thủ đoạn mờ ám gì trên người Thượng Quan Linh, khiến chàng nội trong một đêm mà đã biến đổi tất cả tính nết của chàng!

Nhưng sao Bắc Ưng Lãnh Lạc lại hành sự như thế! Sao không giết chàng, mà chỉ biến đổi tánh tình của người ta là dụng ý gì? Bỗng Liễu Mi lại nhớ sực đến đêm ngủ ngoài sa mạc mà bả vai bên trái của chàng đã mang vết thương như dao chém lạ lùng, mà chính Thượng Quan Linh chỉ ngờ rằng loại sâu bọ gì của miền sa mạc gây nên thương tích lạ lùng ấy mà thôi, không hề quan tâm cho lắm, nhưng với Liễu Mi, nàng cho rằng trong này thế nào cũng có lý do, chỉ tại mình chưa tìm ra lý do. Nàng nghĩ đến vết thương ấy phải do một thứ đao lợi hại nhất mới gây nên nổi trên người Thượng Quan Linh, mà loại lợi khí này chỉ có một ngọn trong thiên hạ, mà chủ nhân của nó lại là một tên đại ma đầu lợi hại quỉ xuất thần nhập trên giang hồ. Nếu nàng đoán không sai, từ khi tại Bắc Ưng Trang ra đến nay, Thượng Quan Linh đã bị thất thường, chắc thế nào cũng liên quan đến tên đại ma đầu bí mật ấy, nếu vậy, cả đoàn bốn người vô tình đã lọt vào cạm bẫy âm mưu của đại ma đầu rồi cũng nên, mà người xui xẻo nhất và bị hy sinh trước lại là người yêu của mình.

Liễu Mi nghĩ sự việc lạ lùng bắt đầu ngay từ lúc gặp Bắc Ưng Lãnh Lạc, và chính Bắc Ưng trang viện là chung điểm, trước lúc vào trang trại và sau khi rời trang trại, tất cả đều thay đổi một cách đột ngột, cũng có thể nói là âm mưu đang bắt đầu khởi sự. Rất có thể là chàng Thượng Quan Linh đi với mình đây là thứ giả mạo?? Khi Liễu Mi mạnh bạo tự nghĩ ra một giả thuyết như vậy, nàng lại tự cảm thấy mình quá nhiều óc tưởng tượng! Nhưng nàng vẫn lo lắng suy nghĩ để khám phá mọi bí mật nàng đang nghi ngờ.

Liễu Mi bỗng hớn hở chen vào hàng ngũ ba người, cố bám vào Thượng Quan Linh hỏi này hỏi nọ, và tất cả chuyện đều là chuyện cũ đã qua, và nàng chăm chú để nhận xét câu trả lời. Quả nhiên Thượng Quan Linh giả bị lộ tẩy, chỉ thấy chàng ấp úng nói, hình như đã quên hết chuyện dĩ vãng vậy, nàng càng hỏi, Thượng Quan Linh càng tránh trả lời! Liễu Mi thất kinh trong lòng trời ơi!

Nguy!... Thượng Quan Linh xưa nay đâu có bao giờ kỳ lạ thế này, chắc đã xảy ra chuyện gì! Nàng bèn lên tiếng hỏi thêm:

- Anh! Anh còn nhớ trò chơi câu đố, mà kết quả anh đã thua cho em mấy đóa hoa cúc không?

Nàng biết Thượng Quan Linh rất yêu mình, những trò chơi trẻ con này tuy không đáng kể gì. Nhưng chàng ta nhớ và lưu luyến đến chuyện này lắm, và kỳ tại Đại Ngũ Trì, chàng bị thong manh nhờ câu nói này mà chàng mới dám nhận mình, nay mình lợi dụng hỏi ngược lại xem chàng trả lời ra sao, nếu chàng là Thượng Quan Linh thiệt, thế nào cũng đáp trúng là thua mình hai đóa hoa cúc. Nào hay sau câu hỏi này của nàng, Thượng Quan Linh giả đếch chịu trả lời, vờ hẳn người lãng tai, Liễu Mi lại cất tiếng lớn hỏi đủng đỉnh rõ ràng từng tiếng một.

Với giọng khản tiếng, Thượng Quan Linh giả nói rằng:

- Kìa em Liễu Mi, sao hôm nay em quấy rầy anh đến thế? Chúng ta nên đi cho nhanh, em không thấy trời đang chuyển gió đó sao, nói năng nhiều trong lúc này, chỉ tổ cát bay vào miệng chứ ích gì, có chuyện để tí nữa nghỉ rồi nói sau!

Nam Bút tiên sinh đương nhiên là không rõ dụng ý của Liễu Mi, nghe Liễu Mi có vẻ hơi quấy phiền ái đồ của mình thật, cũng lên tiếng:

- Linh nhi đã nói đúng. Liễu cô nương chịu khó đi nhanh thêm cho kịp nơi nghỉ...

Liễu Mi lặng thinh, nhưng nàng đã nhủ thầm: Ngươi dù gian xảo đến đâu, chỉ có thể lừa bịp mắt người khác, đối với thứ nữ của Thanh Thông Bang này, đừng có hòng qua mặt ta nổi, chờ ta sẽ lột mặt nạ của người cho biết Liễu Mi Nhị cô nương đây không phải là tay vừa!Cuộc hành trình vẫn lẳng lặng tiến bước, nàng thầm nghĩ: Nếu quả như lời tiên đoán của nàng, người trước mặt này là Thượng Quan Linh giả, vậy anh Linh thiệt của mình hiện ở đâu? Bị thủ tiêu rồi chăng? Nhưng sau khi anh ấy ăn tiên hoa toàn thân đã trở nên bất phàm trong thiên hạ, đao kiếm thường không làm gì nổi. Nhưng nàng lại nghĩ, trên giang hồ này thế nào cũng có loại binh khí có thể gây tai hại cho chàng! Ngoài Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ra, hãy còn có thêm một vật nữa, mà rất có thể ở ngay bên cạnh mình đây cũng nên. Nếu vậy, Thượng Quan Linh tám phần mười có thể bị hại rồi, trong lòng nàng đau khổ, khi nghĩ đến người yêu bị hại Liễu Mi tính quay về Bắc Ưng Trang để thám hiểm xem sự thực ra sao, nhưng ác nỗi Nam Bút tiên sinh và Sở Canh vẫn chưa hề biết gì về anh chàng Thượng Quan Linh giả, nếu nói ra, đời nào họ chịu tin, nguy cơ đang chập chờn như thế, nàng đâu dám bỏ đi.

Mà nếu quả người yêu bị hại, mình có tuyệt vọng đau khổ quay về Bắc Ưng Trang cũng vô ích, nay chỉ còn cách theo dõi ngay manh mối này để trả thù cho người yêu là thượng sách! Liễu Mi quyết định tùy cơ hành sự, nàng sẽ dùng hết tài trí thông minh để ngấm ngầm đối phó với địch thủ lợi hại, một cuộc săn âm thầm bắt đầu, ý nghĩ của Liễu Mi: Vậy chúng mình chờ xem ai chết về tay ai cho biết.

Tối đến, bốn người tìm đến một chỗ khuất gió để tạm nghỉ, Liễu Mi không đá động gì, sau khi ăn uống xong, nàng bèn ngồi chung với Thượng Quan Linh giả để trò chuyện và quan sát các câu trả lời của chàng, và tất cả cử chỉ và lời nói đã tăng thêm sự nghi ngờ của Liễu Mi, nàng chợt nghĩ ra một kế, thình lình kéo ngay bá vai chàng, tươi cười nói rằng:

- Anh Linh! Hãy để em xem lại vết sẹo trên bả vai anh coi?

Không chờ sự đồng ý hay không, nàng đã vạch toạc ngay áo đối phương ra xem, nhưng nào có thấy sẹo siết gì đâu? Liễu Mi cười nhạt, và tính khởi sự làm khó dễ.

Nhưng chàng Thượng Quan Linh giả đã từ vén cao áo lên, để lộ hẳn một vết sẹo dài gần năm tấc. Cất giọng khản tiếng nói rằng:

- Sao em chóng quên thế, vết sẹo của anh nằm bên bả vai cánh trái kia mà!

Trong câu nói có ý chế giễu này Liễu Mi nản lòng ngồi xuống, thầm nghĩ: Trời ơi! Lạ thật. Chuyện sao quái gở thế này! Mặc dù nàng biết Thượng Quan Linh trước mặt mình đây là giả mạo, nhưng sự giả mạo của người này quá là cao tay ấn không hề quên một chi tiết nhỏ nhen thế. Liễu Mi nghỉ không ra cách gì để đối phó có hiệu lực, nàng rối trí và quýnh lên.

Khi bốn mắt của hai người tiếp giáp nhìn nhau, Liễu Mi đã cảm thấy trong ánh mắt của đối phương lạnh lùng và ác ý, còn chứa chan nhiều cái phức tạp lạ lùng.

Cảnh tượng này, đôi bên đã biết tẩy của nhau, và họ đang nghi kỵ và xét đoán ý nghĩ của đối thủ, một sự nhìn trầm lặng ấy, chính lại là ngọn giao tranh cao độ của các tay cao thủ bằng lối nhìn, đôi bên đều căng thẳng tuyệt đỉnh. Thứ nữ Thanh Thông Bang, cảm thấy đôi mắt này uy hiếp mình lạ lùng, công lực tuyệt cao, rõ ràng mình không phải địch thủ của người ta. Chỉ nghe nàng khẽ hự một tiếng nhẹ rồi ngất luôn trong lều vải. Người nọ tính sấn ngay lại, nhưng rút cục y không thi hành ý nghĩ ấy, nếu là một cô gái khác, chắc y chẳng cần suy nghĩ mà tiến sát lại ngay, nhưng với cô bé tinh ranh của thứ nữ Thanh Thông Bang này, nàng vốn túc trí đa mưu, biết đâu trong cái ngất xỉu lại có trò gì bên trong. Tứ bề im lặng, bên ngoài lều, tiếng gió rít từng hồi, trong lều, ánh đèn soi chập chờn một bóng người đang đứng ngẩn nhìn nàng Liễu Mi, trên sắc mặt người này chỉ hiện toàn sắc thái âm u lạnh lùng.

Đôi mắt lanh lẹ của y vẫn không ngừng chăm chú nhìn vào toàn thân Liễu Mi khá lâu, khi y đã biết đích xác thiếu nữ quả đã bất tỉnh thật sự, y mới cẩn thận bước lên gần một bước. Trong lòng thầm nhủ: Con bé này quả thông minh tinh ranh quá sức tưởng tượng. Nếu để nó sống, thế nào cũng là cái họa lớn lao cho mình, rất có thể còn hỏng hết những kế hoạch của mình... chẳng thà nhân ngay lúc này hạ thủ cho yên trí... Chỉ thấy y thò tay vào trong mình lấy ra một bao bằng da, từ từ mở ngay ra, bên trong một làn ánh quang nhấp nháy sáng chóa...

Người này đang do dự, y lại bước thêm lên một bước, theo kinh nghiệm cho biết y đã đoán đích xác thiếu nữ đã hôn mê bất tỉnh thật sự, giờ đây chỉ việc dốc ngược bao da xuống, dù cho là tay đệ nhất cao thủ trong thiên hạ đi nữa, cũng khó mà tránh khỏi tai ách rùng rợn này. Dưới ánh đèn chập chờn của lều vải, chủ nhân của Lãnh điện tỉ thủ đang say đắm nhìn vẻ đẹp lộng lẫy trước mắt, bỗng y nổi lòng tiếc rẻ, chi nghe y lảm nhảm:

- Quả là một thân hình tuyệt đẹp! Đúng là tượng phẩm kiệt tác của tạo hóa... nhưng, đâu có thể giữ mãi được thời gian sẽ tàn phá tất cả và tất cả... vài năm, vài chục năm, nàng cũng sẽ có những lớp da già cùng mình, và tóc bạc răng móm, mọi vật đều bị nước thời gian cuốn đi hết...

Chủ nhân Tỉ thủ bỗng sinh ra một kỳ tượng quái gở y nghĩ sau khi dùng Lãnh điện tỉ thủ giết chết nàng Liễu Mi, y sẽ chuyển ngay xác người đẹp đi, dùng thuốc ngâm để giữ nguyên cỗ xác cho khỏi bị rã, bên ngoài xác tử thi, sẽ dùng một lớp sáp đặc biệt để bao giữ, khiến cho một thân hình tuyệt đẹp này được giữ mãi mãi... Chủ nhân Tỉ thủ bèn quyết định ngay trong lúc ra tay cắt cổ Liễu Mi, phải nương tay không cho đầu lìa khỏi cổ, và sau khi người ngọc chết, sẽ dùng thuốc hàn gắn vết tích bị cắt lại để giữ nguyên trạng cái đẹp... Nghĩ vậy y bèn từ từ giơ ngay bao da lên... chỉ cần y vung mạnh tay, cây dị bảo võ lâm lập tức nhoáng nhanh ra như một làn điện, chớp mắt có thể hoàn thành ngay sứ mạng của chủ nhân.

Một lần ra tay, chỉ cần một thời gian ngắn và nhanh, nhưng chuyến này quá lạ lùng, bao da trên tay y vẫn không vung mạnh ra. Bởi chính đôi mắt y không hề rời khỏi khuôn mặt quá bắt mắt của nàng Liễu Mi, trong lòng y lúc này vô cùng mâu thuẫn, y đã tự hỏi lòng: có nên đang tay xé nát đóa hoa biết nói này không? Xưa kia, dù công khai hay bí mật, Lãnh điện tỉ thủ cũng đã giết bao nhiêu là nhân mạng, và các cô bị chết về ngọn Tỉ thủ cũng không phải ít ỏi gì. Nhưng xưa nay, chủ nhân Tỉ thủ chưa bao giờ cảm thấy hoài tiếc như trường hợp này, chỉ có một lần, cách thành Nhạc Châu lối mười dặm, tại nhà Thượng Quan Linh, đúng ngay vào đêm rằm, chủ nhân Lãnh điện tỉ thủ ra tay tàn sát một lúc chớp nháy mười mạng người.

Trong lúc gia đình người ấy đang đoàn tụ vui vẻ trong hoa viện, thình lình tai họa thảm khốc bay tới, bạch quang sáng nhóa lên như một giải lụa trắng xóa, bay nhanh qua cổ mọi người trên bàn tiệc, đầu người rụng như sung chín! Những kẻ bị nạn không kêu lên được một tiếng nào, vì dị bảo võ lâm này nhoáng lên nhanh như làn chớp! Nhưng trong khi chín chiếc đầu người rụng lộp độp xuống bàn tiệc ấy, đôi mắt chủ nhân Tỉ thủ đã vô tình chạm với một tia nhìn cuối cùng còn sót lại.

Dù cho chủ nhân Tỉ thủ giết người không gớm tay đến đâu đi nữa, lúc này cũng không khỏi ngẩn người ngạc nhiên, vì người sót lại đó, chính là một thiếu nữ đôi chín xuân xanh, nhan sắc tuyệt đẹp, dưới ánh trăng, chỉ thấy đôi mắt thiếu nữ như vô cùng tức giận và đầy những tia thù hận. Nhưng trong lúc ấy, chủ nhân Tỉ thủ không thể mất thì giờ suy nghĩ hay do dự, tay vung nhanh ngay lên, hồn ngọc thiếu nữ qui tiên cánh ngay khi đó. Và cũng chính từ đó trở di, chủ nhân Tỉ thủ bắt đầu ân hận trong lương tâm. Nay đứng trước vẻ đẹp của Liễu Mi, đem so với thiếu nữ nhà họ Thượng Quan, càng khiến ta phải mến thích. Nhất là suốt cuộc hành trình với nàng từ Bắc Ưng Trang, thiếu nữ này đã tỏ ra thông minh tuyệt vời, tất cả những thái độ, lúc ôn tồn, lúc trân trọng, đều đã ghi sâu vào lòng dạ chủ nhân Tỉ thủ một ấn tượng khó phai mờ! Chủ nhân Tỉ thủ lúc này cất ngay bao da, và lặng lẽ rời khỏi lều vái.

Sáng hôm sau, Thượng Quan Linh giả đã cưỡi lạc đà đi trước, Liễu Mi vẫn còn ngủ li bì trong làng mộng. Nam Bút tiên sinh thấy vậy, bèn nói với ái đồ hãy chờ cùng đi chung với nhau, nhưng chàng Thượng Quan Linh giả đã viện cớ đi dò đường trước, và ngang nhiên cưỡng lệnh thầy, Sở Canh thấy vậy chàng lại giở ngay đến thông minh vặt của mình nghĩ: chắc hai anh chị lại gây trò hờn mát nhau đây, chàng viện cớ đi dò đường, nàng lại vờ ngủ trễ giấc. Tình nhân trẻ rõ lắm chuyện thật!...

Nam Bút tiên sinh cảm thấy lạ, vội sai ngay Sở Canh vào thăm Liễu Mi, vào đến nơi, thấy nàng vẫn chưa tỉnh giấc, cất tiếng gọi, nhưng vẫn không thấy tỉnh.

Sở Canh xưa nay vẫn kính nể Nhị cô nương lắm, xem nàng như một vị bồ tát tôn nghiêm, tính đưa tay lay gọi, nghĩ đi nghĩ lại, rút cục vẫn không dám, sợ nàng tỉnh dậy trách mắng lại đâm dại. Sở Canh vội chạy báo ngay cho Nam Bút tiên sinh, Nam Bút tiên sinh vội vào, phát giác ngay nàng đang bị hôn mê liên miên, bèn lập tức cấp cứu mãi mới tỉnh lại. Thấy nàng không sao, mới tạm yên trí, vội hỏi phải chăng đã cãi vã với Thượng Quan Linh sao mà ngủ mệt thế?

Sau khi khôi phục lại trí nhớ, nàng giật bắn người, thì ra mình đã bị mê mẩn trong suốt đêm qua đến giờ này! Một sự hoảng sợ nhất của những cô gái còn trong trắng đã nảy bật ngay trong đầu óc đa nghi của Liễu Mi, nàng vội mời ngay Nam Bút và Sở Canh hãy tạm tránh ra ngoài để nàng thay quần áo, mượn cớ này nàng hồi hộp lo kiểm tra hạ thể của mình xem có gì khác lạ, nhưng không có một dị tượng gì xảy ra. Nàng hú vía thở khoan thai.

Sau khi thay xong quần áo khác, nàng thản nhiên bước ra ngoài lều hỏi Thượng Quan Linh đâu. Sở Canh vội cho hay là đã đi dò đường trước rồi. Nam Bút thấy Liễu Mi đã xong xuôi, bèn hối thúc lên đường ngay.

Liễu Mi đang quyết định lựa chọn kế hoạch. Nay Thượng Quan Linh giả đã biết bị lộ, nên đã đi trước để dụ địch vào bẫy, thế nào cũng có những cạm bẫy kỳ nguy hiểm đang chờ đợi họ!

Nếu quay về Bắc Ưng Trang để tìm kiếm Thượng Quan Linh thiệt, đương nhiên là thượng sách, nhưng cũng có đều e ngại quan trọng, vì nếu Thượng Quan Linh bị thủ tiêu thật, chẳng hóa ra mình bỏ mất một cơ hội theo dõi kẻ thù. Và sau này biết đâu mà tìm ra cho nhân vật Tỉ Vương ghê gớm này! Chỉ trong thoáng mắt, Liễu Mi quyết định ngay ý nghĩ của mình, chọn ngay con đường theo dõi tung tích của Tỉ Vương ma quân. Lúc này Liễu Mi càng trở nên buồn bực, nàng cũng thừa biết đem việc này bàn với Nam Bút và Sở Canh, lẽ đương nhiên họ không thể nào chấp nhận có chuyện giả mạo Thượng Quan Linh như vậy được.

Trừ phi Liễu Mi khai toạc, may ra Nam Bút tiên sinh có thể tin ngay, nhưng chuyện mắc cỡ chết người ấy, đối với một thiếu nữ như Liễu Mi, đâu dám hé răng thuật lại. Lúc này Sở Canh đã thu gọn lều vải và vật dụng, cuộc hành trình lại bắt đầu tiếp tục, Liễu Mi đành thở dài cưỡi lên lưng lạc đà! Ba người khởi trình suốt dọc đường, chỉ có Sở Canh là hí hửng vui hơn ai hết, nào chàng trai chất phác này đâu có biết nguy cơ đang ẩn hiện tứ bề quanh mình đâu. Nam Bút đã cảm thấy có chuyện lạ thường, tiên sinh dùng lời ôn tồn để thăm hỏi Liễu Mi, thực ra đôi bên đã có chuyện xích mích gì với nhau?

Liễu Mi không phải không muốn nói ra, nhưng vì tâm thần nàng rối loạn, cũng không biết nên bắt đầu nói như thế nào cho phải! Nam Bút tiên sinh chờ mãi, thấy nàng vẫn buồn, muốn nói lại thôi, tiên sinh cho ngay rằng ái đồ mình đã bắt nạt con bé đây, chuyện gây gổ của tình nhân trẻ làm sao tránh khỏi được, nhưng trong bụng tiên sinh đã tính sẵn tí nữa sẽ quở trách ái đồ vài câu và bắt phải xin lỗi Liễu Mi, như thế chắc sẽ vừa lòng ngay cô bé ưa hờn mát này. Nam Bút càng nghĩ càng cho ý kiến của mình là đúng! Nên tiên sinh cũng không màng truy hỏi cặn kẽ thêm làm gì!

Suốt dọc đường, đã đến giờ ngọ, ba người vẫn chưa bắt gặp Thượng Quan Linh đâu cả, tuy chàng đi trước mọi người lối hai tàn nhang, nhưng dù sao cũng phải chờ đợi mọi người chứ, nay ngang nhiên đi mất tăm mất tích như vậy Nam Bút tiên sinh đã nổi giận trong bụng! Nghĩ đến chuyến này sẽ chỉnh giáo cho chàng một mẻ nên thân mới được, ba người đều ăn uống luôn trên lưng lạc đà, cuộc hành trình vẫn tiếp tục, họ không nghỉ ngơi. Các dấu chân lạc đà mới xuất hiện trên mặt cát không lâu.

Nam Bút thấy vậy hối thúc ngay Liễu Mi và Sở Canh đuổi nhanh theo. Mãi đến xế chiều, bỗng Sở Canh đi phía trước lên tiếng gọi ngay. Nam Bút và Liễu Mi lại coi, chỉ thấy một lạc đà đứng ngay đằng xa. Những đồ đạc lủng lẳng trên lưng con vật hai gò lưng ấy, rõ ràng lạc đà của Thượng Quan Linh!Lạc đà không hề nhúc nhích, Sở Canh lấy làm lạ, nhưng Liễu Mi đã rõ ngay và cho Sở Canh biết, con lạc đà đã chết lâu rồi. Sở Canh không tin, đi tới nơi và đưa tay ra sờ con vật, đầu con lạc đà rớt bịch ngay xuống mặt đất, khoanh cổ không hề thấy có chút máu nào để lại.

Nam Bút tiên sinh lớn tiếng kêu hoảng:

- Nguy to!... Lãnh điện tỉ thủ!

Sở Canh tuy là anh chàng lỗ mãng nhất, nhưng cũng biết oai danh của Lãnh điện tỉ thủ, ngay lúc đó giật nẩy mình nhảy thót ngay về sau. Nam bút Gia Cát Dật, một trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt lúc này lo ngay đến sự an nguy của ái đồ Thượng Quan Linh, không cần suy nghĩ, soạt một tiếng, rút ngay cây trường kiếm bên mình ra. Dưới cảnh trời đất bao la này, vị đại hiệp sắc mặt vô cùng trịnh trọng và hấp tấp nói:

- Liễu Mi, Sở Canh, chúng ta đuổi theo cho nhanh, có lẽ Linh nhi bị bắt không lâu...

Dứt lời, Sở Canh lại bạo gan phóng nước đại cùng với Nam Bút hấp tấp mở cuộc truy tầm! Trong ba người, duy có Liễu Mi am hiểu nội vụ hơn ai hết, nàng biết rõ đây là một kế quỉ quyệt của Tỉ Vương ma quân, nếu hấp tấp đuổi theo, thế nào cũng bị trúng kế địch.

Liễu Mi vội lớn tiếng:

- Nam Bút thúc thúc, Sở đại ca, xin hãy ngừng ngay lại đã đó là quỉ kế của người ta, chớ vội vàng mà bị mắc bẫy, hãy nghe Liễu Mi bày tỏ...

Lạc đà của Nam Bút và Sở Canh đã xa ngoài ba trượng, nghe tiếng Liễu Mi nói, Nam Bút vội hỏi:

- Liễu cô nương, có chuyện gì lạ sao? Cứu người như cứu lửa, Linh nhi nay đã nguy cấp, càng mau càng hy vọng nhiều hơn.

Nam Bút vẫn nghĩ rằng Liễu Mi còn giận Thượng Quan Linh, nên nàng ta không muốn ra tay cứu ái đồ, nào hay Liễu Mi lúc này đang đau khổ trong lòng vì người yêu nay bỗng nhiên lại bị hiểu lầm, nàng nghẹn ngào trong cuống họng, sắc mặt tái hẳn và không sao nói lên lời.

Nam Bút lớn tiếng gắt:

- Ơ kìa! Còn do dự mà không mau lên?

Liễu Mi cố gượng gạo rằng:

- Thưa... Thưa... đó là chàng... Thượng Quan Linh... giả mạo...

Nam Bút và Sở Canh đều kinh hoảng về câu nói này, chỉ nghe tiên sinh lại gắt:

- Nói nhảm nào!

Sở Canh lắc đầu lia lịa...

Liễu Mi bèn trình bày tóm tắt câu chuyện đêm qua xảy ra, và cũng lấy làm lạ là sao đối phương không ra tay hạ độc thủ trong lúc nàng còn đang hôn mê bất tỉnh, mà lại âm thầm bỏ đi trước như vậy?

Thứ nữ Thanh Thông Bang vốn là cô gái lanh lợi, mặc dù trong cơn bối rối tột độ như lúc này, nàng vẫn trình bày vấn đề một cách đơn giản nhưng rất rành mạch, khiến nỗi Nam Bút tiên sinh và Sở Canh kinh hãi không ít, và cả hai không thể nào mà không tin cho được.

Sau khi nói rõ, Liễu Mi còn suy đoán, rất có thể Thượng Quan Linh đã bị thiệt mạng, hoặc bị giam cầm bí mật, nhưng dù sống hay chết, lúc này thế nào cũng còn tại Bắc Ưng Trang, nếu may mắn không bị chết, thì thế nào công lực cũng bị người ta hạn chế hẳn. Còn đến người Thượng Quan Linh giả mà đi trước kia, lẽ tất nhiên là một sự hóa trang quá tuyệt của địch thủ, rất có thể là nhân vật khét tiếng Tỉ Vương ma quân! Dù cho không phải thì cũng là loại bộ hạ đắc lực của Tỉ Vương và chắc tên này cũng giỏi về lối dị dung thuật (sửa đổi sắc mặt), về tài thông minh thì khỏi cần bàn tới, chỉ coi nội hai việc hóa trang Bắc Ưng Lãnh Lạc và Thượng Quan Linh cũng đủ rõ trí tuệ người ta rồi.

Nay ra tay giết chết lạc đà như vậy, rõ ràng đang dụ địch, và cũng là kế khích tướng, tên ma đầu này không những cơ mưu cao cường, kế hoạch hiểm ác tuyệt luân, nếu ba người không đuổi theo thì thôi, còn trái lại, làm sao tránh khỏi tai biến? Liễu Mi chủ trương, lúc này nên tránh nặng để chịu cái nhẹ, quay ngay về Lãnh Ưng Trang tìm ngay Thượng Quan Linh, rồi sẽ định lại các kế hoạch sau để đối phó. Đề nghị đưa ra, chàng Sở Canh lại gật lia lịa, nhưng riêng Nam Bút tiên sinh lại tỏ trầm tư...

Nam Bút tiên sinh bày tỏ ý kiến mình, chủ trương phân công ra hợp tác với nhau, đợt này may mắn lắm mới biết được chút manh mối của Tỉ Vương ma quân, và hai sư huynh của mình là Tây Đạo, Đông Tăng đều phải trông cậy vào vụ này mới mong tìm ra được tung tích. Mùng mười Tết Tỉ Vương cử hành cuộc thịnh hội tại Bách Linh Miếu, thế nào tới ngày ấy y cũng tham gia, nay đã mùng ba Tết, Nam Bút tiên sinh quyết định, sai ngay Liễu Mi và Sở Canh, hai người quay ngay về Lãnh Ưng trang viện thám thính về vụ Thượng Quan Linh, còn phần mình sẽ tương kế tựu kế tiếp tục đuổi theo địch, và sẽ dốc hết toàn sở trường của mình ra để lo chống đối với Tỉ Vương, làm sao cũng phải thăm cho ra tin tức của Thiên Si đạo trưởng và Đông tăng Túy Đầu Đà.

Hẹn với Liễu Mi và Sở Canh, sau khi thăm rõ vụ bí mật tại Bắc Ưng Trang, thế nào cũng phải về ngay Bách Linh Miếu để tụ hợp. Nếu trời thương, chưa ai bị thiệt mạng, tất cả mọi người sẽ tụ tập tại Bách Linh Miếu. Nhân ngay cuộc thịnh hội đó, hãy hợp sức đại náo cho chúng một trận Lạc hoa lưu thủy (hoa rụng nước cuốn tung). Nếu chẳng may Thiên Si Tây Đạo và Túy Đầu Đà Đông Tăng đều bị hy sinh, Nam Bút cũng tỏ rõ lập trường là không thiết sống, và sẽ quyết tâm theo dõi tung tích của Tỉ Vương để trả thù cho hai sư huynh, và căn dặn Liễu Mi và Sở Canh, sau khi đến Bách Linh Miếu, nếu thấy Nam Bút để lại ám hiệu, chớ nên đi theo để hiệp sức khác nào châu chấu đá xe, đâu ăn nhằm gì, lúc đó phải mau rời ngay quan ngoại, hỏa tốc về ngay Trung Nguyên báo tin cho Độc chỉ Thôi Bác, và sẽ do nhân vật Đệ nhất cao thủ trong thiên hạ này ra mặt triệu tập các tay cao thủ nghĩa hiệp lên miền Bắc để càn quét hết những yêu khí miền này.

Liễu Mi đã khóc sướt mướt khi nghe lời của Nam Bút tiên sinh, nhưng nàng thay đổi một điều: Sở Canh phải tức tốc khởi trình đi ngay về miền Trung Nguyên, về ngay miền Ngọc Thụ Thanh Hải, yết kiến ngay Độc chỉ Thôi Bác và báo cáo rõ mọi việc đang xảy ra, và thỉnh cầu ông ta tập hợp các nhân vật đồng đạo, hoả tốc kéo ngay lên miền quan ngoại để cấp cứu. Còn phần mình, nếu sau khi đến Bắc Ưng Trang cứu được Thượng Quan Linh không chết, cố nhiên là chuyện may lớn, và cũng sẽ kéo ngay đến Bách Linh Miếu để nhân cơ hiệp trợ. Nếu người yêu một ngắn hai dài vì rủi ro, nàng cũng quyết liều để truy đuổi tên Tỉ Vương ma quân để trà thù cho người yêu...

Nam Bút tiên sinh cởi ngay cây đàn Bát long ngân giao cho Sở Canh dặn rằng:

- Sau khi anh đi xong việc Ngọc Thụ, mong anh giao lại cây cổ đàn này cho tiện nội (vợ Nam Bút - Hạ Quyên) để làm một vật kỷ niệm...

Sở Canh cảm động gật đầu... Nam Bút căn dặn xong bèn chia tay cưỡi ngay lạc đà đi trước về hướng Tây Bắc.

Sở Canh và Liễu Mi rơi lệ nhìn cho đến khi khuất dạng Nam Bút, chàng Sở Canh mới ấp úng nghẹn ngào nói với Nhị tiểu thư của mình:

- Thôi, tôi cũng xin kiếu từ Nhị cô nương để lên đường, vậy mong cô hay tự bảo trọng, xong việc tại Ngọc Thụ, thế nào tôi cũng ghé về Thanh Thông Cốc, và bẩm rõ tự sự với lão bang chủ, vì ngài vẫn thương mến cô nhất, thế nào ngài cũng đem theo đồng đạo đến giải cứu cô.

Lúc này rối trí quá, Liễu Mi cũng không biết nên nói gì hơn, may là Sở Canh đã nghĩ đến việc báo tin cho cha già, nàng chỉ còn nói:

- Sở đại ca, cám ơn anh nhiều, chúc anh lên đường thuận lợi! Cũng mong rằng chúng ta sẽ chóng gặp lại nhau?

Hai người đều cưỡi lên lạc đà của mình, một lướt về hướng Đông, một nhắm về hướng Tây!

Mặc dù trời đã tối, cảnh sa mạc vắng tanh và buồn rờn rợn. Liễu Mi vẫn cố gắng khởi trình, tất cả chuyện nàng đều nóng lòng vì người yêu Thượng Quan Linh.

Không hề có một cảnh hãi hùng gì có thể ngăn cản bước tiến của nàng. Dần dà, giơ tay đã không thể nào nhận ra năm ngón, tối như bị bưng mắt, lúc này nàng cố muốn đi thêm cũng không được nữa, con thuyền miền sa mạc - lạc đà - nó đã nằm ỳ ngay mặt cát, không chịu đứng dậy, dù Liễu Mi đã nặng tay roi, nhưng vô hiệu, giữa bãi sa mạc vắng hoang, hung kiết chưa biết ra sao, trong lòng Liễu Mi đã cảm thấy bối rối...

Đang lúc Liễu Mi chuẩn bị nằm ngay tại trận để nghỉ, thình lình, con lạc đà lại giở chứng chướng, nó bỗng đứng ngay dậy và bước đi. Liễu Mi hoảng người chăm chú, cả một bầu không khí đen ngòm ấy, cách mặt đất lối bốn năm thước bề cao, bỗng xuất hiện một đám ánh bạch quang to bằng bàn tay, ánh sáng nhấp nháy và tung tăng chập chờn đi phía trước dọn đường cho con lạc đà đi theo sau.

Liễu Mi không thể nào ngăn bước tiến của lạc đà, trong lòng nàng thất kinh, mặc dù đã chăm chú hết sức, nhưng vẫn không nhận ra đám trắng nhấp nháy ấy là gì, ánh sáng ấy cứ nhảy múa chập chờn đi trước, nhưng xung quanh ánh sáng ấy lại không nhận ra có gì lạ lùng thêm.

Nếu bảo là ánh sáng chập chờn ấy do tay người múa may, không thể nào có thể được. Chắc là loài động vật quái dị ở miền sa mạc! Liễu Mi chỉ thấy qua ánh sáng lập lòe của những con đom đóm, nhưng nàng chưa bao giờ được thấy loại động vật nào lại có ánh đom đóm to gần bằng bàn tay như thế, Liễu Mi cố vững dạ, nàng nghĩ thầm, chắc không phải loại thú dữ thần kỳ gì đâu mình cũng chẳng nên hoảng sợ làm gì, nhưng nàng băn khoăn, không hiểu ánh sáng tung tăng này sẽ dẫn một thú và một người đi đâu vậy?

Nhưng chẳng mấy chốc, Liễu Mi đã giật bắn người! Vì ánh sáng này nhảy múa có qui tắc đều đặn, hiển nhiên không phải là sinh mạng của động vật, mà do người chế ngự hẳn hoi. Những lúc tốc độ của ánh sáng nhịp chậm lại, nàng hình như cảm thấy có những giải tơ lụa chập chờn xung quanh. Nàng thất kinh, chợt nhớ ngay đến kỳ bảo của võ lâm Lãnh điện tỉ thủ! Trời ơi! Liễu Mi lập tức cố ghìm ngay cương lạc đà lại, tụt nhanh xuống khỏi lạc đà chuẩn bị nghênh địch.

Lãnh điện tỉ thủ nay thình lình xuất hiện tại đây, chẳng cần đoán cũng dư biết là Tỉ Vương ma quân đã có mặt gần đâu đây, không thể nào ngờ được, hắn đang bị Nam Bút theo dõi mà lại có thể thình lình xuất hiện nơi đây Liễu Mi vừa kinh vừa mừng.

Mừng vì Tỉ Vương đã ở đây, như vậy là Nam Bút tiên sinh khỏi lo ngại gì, với võ công và cơ trí tài năng của ông ta, rát có thể chiến thắng nổi các bộ thuộc của Tỉ Vương, và không chừng còn có thể cứu được hai vị sư huynh Tây Đạo và Đông Tăng cũng nên.

Cái hoảng của nàng là: Tỉ Vương nay xuất hiện đây để nhử mình, lẽ đương nhiên là không có hảo ý gì. Liễu Mi tuy đã cố sức dũng cảm và ỷ hết vào tài trí khôn ngoan của mình để xoay sở đối phó, nhưng nay cô thân độc mã, trong lòng không khỏi khơm khớp rờn rợn!

Liễu Mi cố gắng miễn cưỡng tập trung hết tinh thần, nắm chắc ngay thời cơ thuận tiện để đối phó. Nàng chăm chú theo dõi ánh sáng lập lòe, nàng cũng cảm thấy hình như một con quái vật vậy... Thình lình, ánh sáng lạ lùng ấy tan biến mất. Xa xa, lối vài chục bước, bỗng có ánh đèn xuất hiện...

Chương 69: Bệnh tật quái dị

Thì ra đó là một ngôi lều vải dựng trên mặt cát của sa mạc, lúc này thình lình xuất hiện, chẳng cần phải đoán già đoán non, biết ngay đó là một cạm bẫy của tên đại ma đầu. Liễu Mi suy nghĩ nhanh, rồi ngang nhiên nàng dắt theo con lạc đà của mình tiến thẳng về ngay lều vải. Vì nàng nghĩ rằng: chống cự hay hơn là lẩn trốn, dẫu Tỉ Vương cao giỏi đến đâu đi nữa cũng chỉ là một người mà thôi, trí tuệ con người tuy có khác biệt nhưng không đến nỗi nào quá chênh lệch. Vậy là Liễu Mi quyết tâm so sánh một chuyến với Tỉ Vương. Khi đến gần, ánh đèn trong lều sáng trưng, càng khiến cho Liễu Mi thất kinh là ngôi lều này hoa lệ và to lớn khác thường, bên ngoài mỹ quan bắt mắt, bên trong ẩn hiện như có người. Liễu Mi dừng bước, nàng cố ý gây tiếng động bằng chuỗi nhạc (những trái chuông nhẹ đeo trên cổ lạc đà) trên cổ con thuyền sa mạc, trong lều lập tức có người ra nghênh tiếp.

Kẻ bước ra là hai thiếu nữ ăn mặc theo lối Mông Cổ tay xách đèn bão, khi thấy Liễu Mi đến phủ phục quì ngay xuống, với giọng nói oanh vàng thô thẻ bằng Hán ngữ rằng:

- Bọn nô tì chờ đây đã lâu, nay kính mời phương giá Nương Nương vào trong nghỉ ngơi!

Tỉ Vương vốn là nhân vật thần kỳ quỉ dị tuyệt luân, giỏi về dị dung thuật, hai thiếu nữ Mông Cổ này đây, không chừng lại là trò ma quái của y cũng nên, nhưng Liễu Mi tinh mắt, lúc này nhận ngay ra hai thiếu nữ trước mắt mình đây quả là phái nữ trăm phần trăm, cổ không thấy cục yết hầu, da trắng mịn, cử chỉ khoan thai yểu điệu. Vậy là Tỉ Vương có giỏi đến đâu cũng không thể nào hóa trang đến mức như thế được.

Liễu Mi bỗng lên tiếng quát:

- Hãy đứng dậy! Trong kia còn có ai nữa không?

Hai thiếu nữ thất kinh, một nàng lật đật đáp ngay:

- Dạ thưa chỉ có hai nô tì chờ hầu Nương Nương tại đây ngoài ra không còn ai nữa...

Vừa nói hai thiếu nữ vừa cung kính khom mình lùi dần vào trong để dẫn nàng Liễu Mi vào. Bên trong trang hoàng sang trọng, mùng mền gấm vóc, vật dụng sẵn sàng, hầu như đầy đủ tiện nghi, trong cách bày xếp không những thứ tự mà lại còn đẹp, lúc này nàng ngửi thấy mùi thịt dê và rượu ngon đang bay toả khắp trong lều, thì ra giữa lều, một hỏa lò nho nhỏ đang nấu sẵn một tả pín lù (cù lao) mùi thơm nghi ngút. Liễu Mi cám thấy đói bụng và thèm ăn lạ, mắt thấy hai thiếu nữ đi cạnh lăng xăng lo hầu hạ. Liễu Mi bước lại nằm trên sàng êm ấm, nàng đang kinh ngạc với tất cả sự việc đang xảy ra trước mắt, khi hai thiếu nữ Mông Cổ lo bưng rượu thịt đến, nàng nghĩ thầm: có nên ăn hay không? Không dám mạo hiểm, nhưng nàng có ngay hai thiếu nữ làm vật thí nghiệm.

Giờ đây, Liễu Mi muốn cho vững bụng, xem coi hai thiếu nữ này có phải là thiếu nữ thực sự không? Lập tức hống hách với tư cách Nương Nương hạ lệnh cho hai nàng tuột luốt hết áo quần đang mặc trên người, còn phần mình nằm trên sàng lo thưởng thức... Hai thiếu nữ quả nhiên tuân lệnh ban, cởi hết áo này sang đến áo nọ, cuối cùng cả hai thân thể lõa lồ và trần truồng như nhộng mới đứng im để chờ lệnh.

Sau khi Liễu Mi nhận rõ hết bí mật của hai nàng, nàng cũng phải khen thầm trong bụng là đẹp, và hết nghi là trai giả gái. Lúc này chỉ thấy hai thiếu nữ nhan sắc này, tuy đứng trước mặt người đồng phái - Đàn bà - hai nàng cũng cảm thấy thẹn thuồng, nhưng không dám tỏ vẻ gì là oán hận, trái lại còn vô cùng cung kính đứng chờ lệnh.

Liễu Mi ngầm cảm thấy ăn năn, vội bảo ngay hai nàng mặc áo lại chỉnh tề, một nàng lo đứng hầu cạnh Liễu Mi, nàng kia lo cho lạc đà ăn uống. Liễu Mi đưa ngay rượu thịt cho thiếu nữ ăn trước, nàng chờ một lúc không thấy có gì lạ, mới yên trí ăn uống. Khi ngang dạ, Liễu Mi mới bắt đầu hàn huyên với cô Mông Cổ đứng hầu cạnh. Thiếu nữ kể nguyên do, nàng tên gọi Khiêm Ba Nương, người xứ Mông Cổ, vì đi làm ăn tại Bách Linh Miếu, nên biết nói tiếng Hán. Bách Linh Miếu vốn là một thành phố nhất nhì của Mạc Bắc, một nơi tập trung cả hai sắc dân Hán và Mông, những ngôi miếu tự Lạt ma được mọc như nấm, nhan nhản khắp nơi, ngôi miếu lớn nhất được thờ Thiên Đế, theo lệ đã truyền từ lâu đời, Thiên Đế là tượng trưng cho thần quyền tối cao vô thượng, để làm hài lòng thần thánh, người ta đã tạo ra và cử hành rất nhiều trò nghi lễ quái đản, như về chuyện phúng tế, xưa kia từng bắt người sống để phúng tế, kẻ được tuyển phải là trinh nữ mỹ miều, sau khi Lạt ma tuyển chọn và được sự đồng ý của gia trưởng thiếu nữ, miếu tự sẽ phát ra một số tiền khá lớn, một nửa làm tiền sính lễ, còn lại nữa nọ sẽ đem dùng hết vào cuộc hôn lễ giữa người và thần, những thiếu nữ bị tuyển trúng sẽ được xưng ngay Thiên Hậu Nương Nương, và được đưa ngay vào thần miếu ăn chay tắm sạch, một mặt trang phục đặc biệt đã dành cho Thiên Hậu Nương Nương để tiếp nhận cuộc chiêm ngưỡng của hàng vạn tín đồ.

Ngoài sự đau khổ của mỹ nữ phải đóng vai Thiên Hậu Nương Nương ra, có thể nói là không ai lại không vui mừng, điên cuồng, thậm chí là gia trưởng của Thiên Hậu Nương Nương cũng hăng vui như mọi người bản xứ, phần thì họ được một số tiến khá đáng kể, phần khác là họ cảm thấy vinh dự là có thể kết thân gia với thần linh, tuy trong lòng cũng thương tiếc con, nhưng thây kệ! Danh dự với lợi lộc trên tất cả. Sau khi chuẩn bị cho chu tất cả tháng trời, mới quyết định ngày cử hành đại lễ, lẽ dĩ nhiên các tín đồ bốn phương tấp nập kéo về để dự lễ, trước bức thần tượng của Thiên Đế vĩ đại ấy, có sẵn một bình đài bằng đá nhẵn, trên chất đầy củi khô, và trong tiếng niệm kinh của hàng ngàn tăng Lạt ma và những tiếng chiêng trống rung vang rền ấy. Thiên Hậu Nương Nương được người khiêng đặt lên trên bình đài bằng đá mà đã chất sẵn cỗi khô ấy, trước sự chứng kiến của hàng ngàn, hàng vạn tín đồ ấy, dưới mặt bình đài được châm lửa thần, và ngọn lửa thần đã liếm hết toàn xác sống của người trinh nữ, và cuộc lễ tế sống cho thần được kể như chấm hết.

Luật tế sống trinh nữ này, mãi đến ba chục năm trước đây mới được một vị cao tăng Lạt ma là Tang Kim đại sư ở Tích Bách Linh Miếu ra lệnh phế bỏ. Chẳng bao lâu Tang Kim đại sư quan bế (cũng như tu kín). Và gần đây tin tức trong giới thần tự chùa chiền truyền ra, nói là Tang Kim đại sư công hành viên mãn quyết định vào mùng mười Tết đây, sẽ cử hành lễ Nhục thể thành Phật, Phi thăng chứng đạo, đồng thời lại cũng truyền ngay ra pháp dụ, phải tìm ngay một trinh nữ mỹ miều thông minh, để làm lễ kết thân với thần. Một cuộc lễ về tục lệ tế sống đã phế bỏ ba chục năm trời, nay lại được cử hành, tin đã được truyền hầu khắp miền Mạc Bắc, phỏng đoán đến ngày mùng mười Tết tới đây, Bách Linh Miếu thế nào thiên hạ sẽ kéo đến đông như kiến cỏ. Các bậc nhân sĩ của cả hai sắc dân Hán và Mông, tuy không muốn xem cảnh xuất giá của Thiên Hậu Nương Nương, nhưng ai mà không muốn đến dự lễ Nhục thể thành Phật của Tang Kim đại sư phi thăng.

Nàng thiếu nữ Mông Cổ Khiêm Ba Nương nói tới đây ngừng luôn không nói nữa, thiếu nữ liếc trộm nhìn Liễu Mi, và như có một cảm tình thương tiếc cho hoàn cảnh của thiếu nữ tuyệt sắc người Hán này.

Nghe xong câu chuyện, Liễu Mi suy nghĩ và phân tích, rõ ràng lại trò múa rối của Tỉ Vương ma quân, hắn đã lợi dụng đến lực lượng của tôn giáo, để huyền hoặc lòng người, nào thần linh kết thân nào nhục thân đắc đạo, e toàn trò bịp đời đây cũng nên. Nếu báo vị Tang Kim đại sư là vị cao tăng đắc đạo, tiếc thương cho các cô con gái bị hy sinh vô lý, đã ra lệnh phế bỏ tệ đoan, cớ sao nay lại nuốt lời để giở lại trò xuất giá của Thiên Hậu Nương Nương, nhất định đã có mờ ám gì trong này.

Hoặc vị Tang Kim đại sư lúc này cũng đang bị sự kềm tỏa của Tỉ Vương, thậm chí vị lão tăng Lạt ma này đã chết rồi, và nay lại có một kẻ giả mạo đứng ra thay thế. Nhưng có điều khiến cho Liễu Mi nhức óc suy nghĩ nhất là dụng ý của Tỉ Vương ma quân thật khó hiểu vô cùng, tên ma đầu này muốn thao túng tất cả quần hào trên giang hồ, để so tài với Độc chỉ Thôi Bác của miền Trung Nguyên, nhưng tại sao y lại tìm đến một miền xa xăm như xứ Mạc Bắc này kìa? Đã thế lại còn lợi dụng đến tôn giáo, phải chăng y đã cố tình bày bố kế nghi trận của mình để che tai mắt thiên hạ, hay còn thâm ý gì sâu sắc hơn nữa?

Dù cho Liễu Mi có thông minh tuyệt vời đến đâu đi nữa, cũng không làm sao hiểu nổi được toàn bộ kế hoạch của Tỉ Vương được?! Nhưng có thể phỏng chừng, đây quả là một âm mưu rộng rãi của kẻ địch thủ, và nhất là Tỉ Vương không phải là kẻ điên cuồng gì, xử việc lại rất có thế ngăn nắp! Càng thấy những việc rối rắm bí mật này xảy ra, càng chứng tỏ rõ trí tuệ siêu việt của Tỉ Vương, chỉ nội việc chỉ huy ngấm ngầm các quần hào nghe lệnh cũng đủ thấy lợi hại rồi! Liễu Mi nghĩ vậy, tự biết trí lực của mình còn chưa sánh nổi với Tỉ Vương, nhưng vì lòng háo thắng, nàng lập ý tương kế tựu kế, để tự lấy thân mình ra làm mồi nhử.

Lúc này, tuy đôi mắt của Khiêm Ba Nương nhìn trộm Liễu Mi, nhưng đã không sao tránh khỏi tia nhìn sắc bén của cô thứ nữ Thanh Thông Bang này được, Liễu Mi ngầm nhủ lòng: Kể ra cô bé Mông Cổ này cũng giàu lòng từ bi thật, cũng biết tiếc thương cho Liễu Mi mình, nhưng nào nàng đâu có hay ta đang tương kế tựu kế với địch!

Liễu Mi lên tiếng:

- Vậy hai người xưng hô với ta là Nương Nương, vậy có phải là đã tuyển trúng ta để làm Thiên Hậu Nương Nương không?

Khiêm Ba Nương gật đầu, Liễu Mi sực nghi ngờ đến một điểm, và cũng chính là một điểm khiến nàng băn khoăn. Nàng cố ý tươi cười rằng:

- Nhưng rất tiếc các ngươi đã tìm nhầm người, các ngươi chả cần tìm đến trinh nữ sao? Nhưng ta đâu phải người còn trinh nữa đâu!

Quả nhiên Khiêm Ba Nương mắc mưu và tiết lộ bí mật, chỉ nghe cô bé Mông Cổ này ngửng đầu rằng:

- Dạ không! Nương Nương quả là gái trinh nữ. Bọn nô tì đều biết rõ hết.

- Làm sao các ngươi dám quả quyết như vậy? Bộ không sợ tội nói điêu sao?

- Dạ đối với vấn đề này, trong tự đã tiến hành công việc rất cẩn thận! Nếu chưa hề khám nghiệm kỹ lưỡng, dẫu cho có đẹp hơn chị Hằng đi nữa, khi đã mất đồng trinh, quyết không bao giờ đủ tư cách để đi làm Thiên Hậu Nương Nương!

Sau câu nói này, Liễu Mi chợt nhớ đến đêm mà đấu nhãn lực với Thượng Quan Linh giả tại nơi sa mạc, sau cơn hôn mê dài tỉnh lại, nàng phát giác giải rút (dây lưng) đã bị cởi, sau khi nói tránh với Nam Bút và Sở Canh thay quần áo, nàng đã tìm hiểu ngay vấn đề quan trọng của mình, nhưng may phước chưa hề gì. Bây giờ nghĩ ra, chắc tên Tỉ Vương chết bằm ấy đã tiến hành một cuộc khám nghiệm bí mật trên người mình. Cũng may là hắn chưa làm nhục mình, nếu không, làm gì mình còn mặt mũi sống trên trần gian! Liễu Mi lúc này lại nghĩ cách phải mau mau tiến hành công việc tìm kiếm Thượng Quan Linh trước rồi mọi việc sẽ lo sau. Nghĩ vậy nàng bèn khôn khéo cậy miệng của nô tì người Mông Cổ, hỏi xem là mệnh lệnh của ai đã đưa ra đây, để đón nàng như thế.

Lúc này cô thiếu nữ lo cho lạc đà ăn kia đã bước vào lều và cả hai đều cho Liễu Mi hay chuyện, số là hôm mùng một tết, tại Bách Linh Miếu đã phát ngay ra một thông cáo nói là đã tuyển được Thiên Hậu Nương Nương và người trúng tuyển này là cô gái Hán tộc, nay đang du hành nơi bãi sa mạc, và Thần Miếu tức khắc phái hẳn ra hai mươi đoàn người lo đi nghênh đón, và đều chuẩn bị sẵn lều và thức ăn uống, chia nhau đóng rải rác khắp chu vi của miền sa mạc là ba trăm dặm, để cung hầu cho Thiên Hậu Nương Nương làm những trạm nghỉ ngơi trong suốt cuộc hành trình.

Mà hai thiếu nữ Mông Cổ này, chính lại là một trong đoàn người có nhiệm vụ đi đón Thiên Hậu, nào ngờ mới tới đây không lâu thì gặp Nương Nương giáng lâm. Liễu Mi thầm nghĩ, đêm nay mới mùng ba Tết, mình rời khỏi Lãnh Ưng Trang vào ngày mùng một Tết, làm sao Bách Linh Miếu loan truyền tin nhanh như thế! Chắc trong Lãnh Ưng Trang, Tỉ Vương đã nhắm trước ngay mình từ đầu, cũng chẳng hiểu y đã dùng phương pháp gì mà truyền tin mau chóng để khiến cho người Bách Linh Miếu tự phái người ra nghênh đón khắp cuộc lộ trình. Dụng ý của Tỉ Vương ma quân muốn gì đây?

Không lẽ chính y lại muốn cho mình trở thành Thiên Hậu Nương Nương? Hay có quỉ kế âm mưu khác? Liễu Mi không làm sao tìm ra câu trả lời hợp lý. Nàng lại chuyển ngay sự lo lắng về phía Thượng Quan Linh, bèn gạn hỏi hai tì nữ, nhưng chúng không biết gì về Lãnh Ưng Trang, và chỉ biết là họ đang nhận sự chỉ huy của một quản sự Lạt ma của Bách Linh thần tự, và họ đã cho biết cách ăn mặc, diện mạo của Liễu Mi, và giao ngay nhiệm vụ nghênh đón Thiên Hậu Nương Nương tại vùng sa mạc, ngoài ra không còn hay biết gì hơn.

Liễu Mi thất vọng, nhưng biết hai thiếu nữ Mông Cổ này đều khai thật tình, nàng đành thở dài. Về hai cô gái Mông Cổ này rất ngạc nhiên về thái độ của Liễu Mi, Thiên Hậu Nương Nương sẽ bị thiêu sống vào mùng mười tới đây, thế mà cô gái người Hán này vẫn ung dung như không hề sợ hãi gì. Lạ thật!

Một đêm vô sự trôi qua.

Sáng hôm sau, khi ăn uống chuẩn bị xong xuôi, Liễu Mi đã quyết ý đi thám thính Lãnh Ưng Trang một chuyến để được tin đích xác của Thượng Quan Linh.

Lúc này, hai thiếu nữ bước lại quì bẩm:

- Kính thỉnh Nương Nương sửa soạn khởi trình về Bách Linh Miếu!

Liễu Mi mỉm cười và cự tuyệt, hai thiếu nữ càng quì lạy lục như tế sao, và xin được theo sát Nương Nương để hầu hạ, và đều cảm thấy như vậy mới vinh hạnh cho họ.

Nhưng Liễu Mi đoán hiểu ngay đến ý nghĩ thầm kín của họ, chẳng qua chúng muốn được một số phần thưởng xứng đáng với Bách Linh Tự hay trái lại, sẽ bị trừng phạt về tội tiếp đón sơ suất với Thiên Hậu. Lúc này thấy hai người quì lạy rối rít Liễu Mi vừa bực mình vừa tức cười, nàng mặc kệ, leo ngay lên lạc đà nhằm về hướng Lãnh Ưng Trang khởi trình. Hai thiếu nữ vội chạy lại níu kéo, Liễu Mi nổi giận, khẽ giơ chưởng phất ngã hai người nằm lăn dưới mặt cát!

Hai thiếu nữ Mông Cổ lúc này mới ngã ngửa ra là Nương Nương cũng là người biết võ nghệ như một bậc nữ hiệp, cả hai vội chạy vào trong lều, Liễu Mi đi được một chập, chợt nghĩ thế nào hai con bé ấy cũng tìm cách báo tin, để xem coi chúng làm cách nào. Liễu Mi quay nhìn lại quả nhiên thấy hai thiếu nữ, tay đang cầm một cẩm nang màu đen, hình như có vẻ rất cung kính bước đứng trước lều, lẩm bẩm như đang khấn vái. Thình lình trong bao cẩm nang đen, bay vọt ra một vật, Liễu Mi vội chăm chú, lấy làm quái lạ vô cùng, thì ra là một con rắn đen dài ước năm sáu tấc, bay lanh lẹ lạ lùng. Liễu Mi vốn là người hiểu biết khá nhiều, nàng hiểu ngay đây là một loại độc trùng được gọi là Phi xà (rắn bay) của miền trại ngoại, loại rắn này hành động cực nhanh, tính độc dữ, nàng tính dùng ám khí đánh chết ngay con Phi xà, nhưng trong lúc bất thình lình này, trong tay không có một ám khí gì để sử dụng, mắt đành nhìn theo rắn bay mất dạng, trong lòng nàng tự trách mình đã thất sách.

Nàng quay đầu đi ngay về hướng đã định của mình - Lãnh Ưng Trang. Vào gần giờ ngọ, trên bãi sa mạc chập chùng bỗng có âm thanh quái lạ truyền đến. Nghe kỹ, toàn là tiếng trống chiêng pháp khí của nhà chùa, âm thanh từ trong hoang mạc dần dần truyền tới, tiếng nghe lanh lảnh và khiến cho người ta phải hồi hộp rạo rực trong người. Liễu Mi cảm thấy âm thanh kinh người này mỗi lúc một tiến về phía mình, biết có chuyện... vội cho lạc đà lướt lên một gò cát cao để quan sát. Chỉ thấy một đoàn trăm người đang tiến tới, có ngựa và lạc đà, số đông đến gần trăm người, cả nam lẫn nữ, đàn ông mặc tăng y, tay cầm pháp khí trống, chiêng, kèn, đủ loại, các thiếu nữ đều ăn mặc theo lối nàng Khiêm Ba Nương. Càng kỳ lạ hơn nữa: trong đám người ngựa này đang lo đẩy kéo theo một chiếc mã xa hoa lệ, Liễu Mi nhìn kỹ, trên xe màn gấm được vén gọn gàng đẹp mắt, bên trong không có người Liễu Mi đã hiểu rõ ngay là gì, trong bụng thầm kêu khổ.

Liễu Mi tính thầm, đám người này tất nhiên là bộ hạ của Tỉ Vương ma quân, nhưng không biết trong số này có cao thủ nào không? Thế nào cũng không tránh khỏi một trận giao tranh nảy lửa. Soạt một tiếng, Liễu Mi rút kiếm đứng chờ đợi địch! Ánh kiếm nhoáng nhoáng của Liễu Mi, khiến cho đoàn người lập tức phát hiện, tiếng tù và báo động vang lên, có ba mươi kỵ mã lập tức rầm rập phóng ngay đến gò cát của Liễu Mi và mở ngay một cuộc bao vây xung quanh.

Một đại Lạt ma dẫn đầu ngồi trên yên ngựa, cung kính cúi mình bẩm với Liễu Mi rằng:

- Bần tăng Pháp Đô, giữ chức giám tự trong Bách Linh thần tự, nay phụng pháp dụ của chủ trì Tang Kim đại sư đặc biệt chuẩn bị pháp giá để nghênh đón Thiên Hậu Nương Nương về thần tự...

Liễu Mi bật cười rằng:

- Này Pháp Đô lạt ma! Thế ngươi có biết bản cô nương đây là ai không?

Pháp Đô cung kính trả lời:

- Mong Nương Nương tha tội cho bần tăng quả không biết gì về lai lịch của Nương Nương!...

Liễu Mi dõng dạc rằng:

- Vậy lũ ngươi hãy ngoáy tai nghe cho rõ đây: bản cô nương dây là ái nữ của Thanh Thông Bang miền Trung Nguyên danh đã từng vang động khắp trên giang hồ, giết quân gian ác không biết bao nhiêu mà kể, e lũ ngươi đều bị thong manh đui mù hết sao mà đi tìm Thiên Hậu Nương Nương lại cả gan dám tìm đến bản cô nương ta, chuyện nực cười thật... Nay bản cô nương cũng tạm mỡ một cửa lưới, niệm vì tội lũ ngươi vô tri, vậy có khôn hồn thì cút nhanh hết, chớ dại mà chọc tức bản cô nương, nếu không những đầu của lũ ngươi sẽ rụng hết như sung chín nhũn bây giờ!...

Liễu Mi tưởng đâu với danh nghĩa lừng lẫy của Thanh Thông Bang, miền quan ngoại này thế nào chả biết tiếng tăm, đối với đám tăng Lạt ma này, chắc gì mà chẳng kiến hiệu.

Nào hay trái hẳn ý nghĩ của Liễu Mi, đám phiên tăng Lạt ma nghe xong cũng chẳng coi vào đâu, chỉ cười nhạt và nói:

- Nương Nương đã là người xuất thân nơi danh môn như thế, quá thật đại hạnh cho ngã Phật, đám bần tăng đây cũng được danh dự lây theo. Nay chuyên thành lại đón rước Nương Nương, vậy xin ngài ban ngay pháp giá khởi trình về thần tự.

Lúc này, xe giá đã đến ngừng ngay dưới dốc gò. Pháp Đô lạt ma đưa tay ngoắc dấu, bốn tên tì nữ Mông Cổ hấp tấp khuân ngay ra một tấm thảm đỏ chói, từ xa giá trải tuốt lên đến trên gò, bốn thiếu nữ trải xong bèn cung kính bẩm rằng:

- Kính thỉnh Nương Nương pháp giá đăng xa!

Nàng biết không thể nào tránh khỏi một cuộc xô xát đẩy ngay con lạc đà của mình xuống gò và lớn tiếng quát:

- Pháp Đô! Bản cô nương thật không thích làm Thiên Hậu Nương Nương, vậy ngươi tính sao?
Pháp Đô chắp tay rằng:

- Phàm sự đều do thiên định, huống hồ đây là việc Thần tình kết thân, mà thiên hạ ai chẳng cầu mong một danh dự này, nay danh phận đã định, kính mong Nương Nương chớ nên cố chấp...

Liễu Mi thản nhiên lạnh lùng rằng:

- Ta không tin kẻ xuất gia lại dùng thủ đoạn cưỡng ép người ta như thế!

Dứt lời tính dẫn lạc đà đi luôn.

Pháp Đô lạt ma ngước ngay lông mày xếch của mình, chắp tay chưởng lại nói:

- Bần tăng phụng mạng hành sự, dù thế nào cũng phải thỉnh mời Nương Nương pháp giá, nếu ngài đã cố chấp như thế, xin đừng trách là bần tăng giở trò hỗn láo!

Nói dứt tiếng, ngoắc tay ra dấu, toàn đám Lạt ma, vội vàng từ trong áo cà sa giở đao ra, thúc ngựa vây sát vào ngăn trở ngay lối đi. Liễu Mi cả giận, chợt nàng hét vang lên một tiếng, trên lưng lạc đà nàng phi bổng ngay thân lên, cướp đánh ngay tên Lạt ma đứng trước trong bọn, vung ngay ngọn chưởng, kình phong thình lình phát ra, vị phiên tăng nọ lập tức ngã nhào ngay xuống người. Một cảnh ngựa hí người la bắt đầu náo động tưng bừng, Liễu Mi nhanh tay đoạt ngay ngựa, vừa tính xông khỏi vòng vây. Bỗng nghe một tiếng quát phía trước, thân hình hộ pháp của Pháp Đô đã lù lù ngay trước mặt, và giơ tay ra để bắt. Liễu Mi chỉ thấy y hai tay không xấn vào một trận một cách hùng dũng, chứng tỏ vị Lạt ma này có ngọn nội ngoại công cực mạnh đây. Liễu Mi chột dạ, vội phi thân nhảy tung ngay xuống đất!

Pháp Đô quát lớn:

- Xuống ngựa hết!

Đám Lạt ma đua nhau tụt xuống ngựa, giơ ngay giới đao chặn hết các đường!

Liễu Mi cả điên tiết, nàng tính mỡ cuộc đại tàn sát, vung ngay một đường kiếm quát lớn:

- Pháp Đô! Có dám tỉ thí với bản cô nương ta không? Nếu ta thắng ngươi thì liệu tính sao với ta!?

Pháp Đô vẫn cung kính rằng:

- Nương Nương dẫu có giết chết bần tăng đi nữa, các bộ hạ của bần tăng đây vẫn phải tiếp tục nhiệm vụ cung thỉnh Nương Nương pháp giá hồi thần tự...

Liễu Mi thất vọng trong lòng, hét rằng:

- Vậy hãy rút ngay binh khí ra mau!

Pháp Đô ngửng đầu cung kính:

- Dạ bần tăng không dám gây thương tích đến ngọc thể của Nương Nương, bần tăng xin dùng tay không để hầu với Nương Nương vài đường vậy!

Liễu Mi bung vọt ngay thân sang, kiếm giơ thẳng tắp nhắm ngay trước ngực Pháp Đô dấn tới, nhưng vị Lạt ma này không hề nhúc nhích, thứ nữ Thanh Thông Bang vội biến ngay thế đánh thành Băng xuyên đảo tả (núi tuyết đổ ngược), mũi kiếm khiêu nhích hẳn lên. Mắt thấy tính mạng của vị phiên tăng khó lòng mà giữ nổi, ngay trong thời gian tóe lửa ấy, ngọn chướng của Pháp Đô đã lồng lên như một làn điện! Ào một tiếng, kình phong bén nhạy tuyệt luân, ngọn kiếm đang thắng thế của Liễu Mi, thình lình bị ngọn kình phong đánh bật ngược ra! Liễu Mi không ngờ miền quan ngoại lại có tay cao thủ cừ khôi này, nàng cố thận trọng lo đối phó, vội vàng giở ngay đến kiếm pháp linh động tuyệt diệu để đánh thật gấp.

Nhoáng mắt bảy tám hiệp đã trôi qua, nhưng tên Pháp Đô vững vàng như núi Thái Sơn, chỉ thủ thế mà không hể trả đòn, mặc cho nàng Liễu Mi đánh tới tấp, đôi mắt Pháp Đô theo dõi, chờ cho nhận được chận binh khí của nàng. Sau mười hiệp, Liễu Mi lo ngay một kế khác, công lực của phiên tăng này quả nhiên đã ăn đứt mình, nay người ta chưa ra tay, nếu không mình ắt khó tránh khỏi thua trận. Thứ nữ Thanh Thông Bang vừa đánh vừa lo tìm cách để gỡ kế.

Đang lúc này Liễu Mi lo suy nghĩ và thế đánh bắt đầu chậm dần ấy, Pháp Đô bỗng lên tiếng:

- Thưa Nương Nương, thời gian cũng không dư mấy, bần tăng chỉ có thể hầu chừng ba chục hiệp với Nương Nương là cùng, sau ba mươi hiệp, bần tăng phải mạn phép ép Nương Nương pháp giá hồi thần tự...

Liễu Mi tính thầm ngay trong bụng và cười rằng:

- Sao nhà ngươi có vẻ hách dịch thế, vậy bản cô nương thử xem sao khi mãn ba mươi hiệp, ngươi dùng cách gì để bắt ta cho biết?

Pháp Đô không nói thêm gì, ánh mắt sáng hẳn lên, miệng lẩm bẩm lo đếm theo hiệp đánh, khi vừa dứt hiệp thứ ba mươi, thình lình quát lớn tiếng:

- Xin Nương Nương tha tội mạo phạm cho bẩn tăng.

Tiếng chưa dứt, toàn thân đã vèo nhanh đến phía sau, vận chỉ điểm ngay vào sau lưng Liễu Mi. Pháp Đô ra tay nhanh như gió, Liễu Mi biết không làm sao tránh khỏi, và biết ngay cả nơi mà đối thủ sẽ điểm ấy là Tiếu yêu huyệt (huyệt cười nơi eo), nàng nghĩ thầm: vị phiên tăng này kể ra cũng biết lễ phép nam nữ thọ thọ bất thân cơ đấy, chuyển ra sau lưng mình để điểm huyệt, khi chỉ phong ép tới, lại e ngại đường đột đến mỹ nhân, cấp tốc thu ngay thế điểm thành thế vỗ nhẹ vào Tiếu yêu huyệt. Nhưng oai lực của cái vỗ này đâu phải tầm thường gì, những hạng đệ nhất trong làng cao thủ, khi ra tay đâu có đời nào bất tỉnh nhân sự ngay... đã là cao thủ, khi ra tay đâu có đời nào bị sai lệch mảy may nào, nhưng không ai có học đến chữ ngờ trên đời, tay phải của Pháp Đô vỗ vào huyệt, tay trái đồng thời giang ngay ra để phòng hờ đỡ ngay thân hình bất tỉnh của vị Thiên Hậu Nương Nương!

Trong thời gian mau như tóe lửa ấy, huyệt đạo của Liễu Mi đã bị điểm trúng. Quái lạ! Nàng không bị ngã chỉ thấy nàng cười gằn, thuận tay vung kiếm bửa ngay ra! Bục một tiếng, Pháp Đô cũng không thể nào ngờ, bả vai bị trúng kiếm, máu phun xối xả. Quí vị biết tại sao nàng Liễu Mi lại thoát được ngọn điểm huyệt một cách thần tình như thế, thì ra trong người Liễu Mi đã mặc chiếc áo giáp đại nội kỳ bảo Chân châu lũ kim sam, nhờ báu vật ấy mà giữ thân và cũng lừa được vị phiên tăng Pháp Đô, trở ngay thế bại thành thắng. Báu vật này, trước kia trên Lãnh Hương Điện ở Mặc Phụ Sơn, từng được thế tử Chu Hoàng (tức Hầu Hạo) dùng làm áo ngự địch, và nổi bật trong trận huyết chiến kịch liệt, Liễu Mi thấy thích quá, mân mê chiếc áo mãi, hai huynh muội Chu Hoàng bèn thỉnh mạng với Độc chỉ Thôi Bác đem tặng ngay chiếc áo giáp này cho Liễu Mi, và cũng kể như một lễ vật ăn hỏi cho chàng Thượng Quan Linh.

Pháp Đô lạt ma nào hay chuyện này, nay bị thương nặng trên bả vai, đau đớn khiến y la hét ỏm tỏi. Hai mắt trợn tròn, không hề vì vết thương nặng mà lùi bước, trái lại ung dung bước bừa vào trận, Liễu Mi chưa từng thấy ai lại hung dữ đến thế, thật trông Pháp Đô lúc này không khác gì một hung thần ác sát giáng thế, nàng khớp người thụt lùi dần từng bước về sau. Thình lình phía sau, các thủ hạ của Pháp Đô, mạnh tay quăng ngay ra một vật, trúng ngay vào bắp vế của Liễu Mi, nàng ngã khụy ngay xuống, Pháp Đô nhanh như cắt đưa hai tay ra chụp ngay thân Liễu Mi, thuận thế hất tung ngay nàng đi... mọi người chỉ thấy cỗ liễn xa khẽ rùng mình, thì ra toàn thân nàng Liễu Mi đã bị quăng ngay vào liễn xa êm ả! Pháp Đô lúc này một tay bụm chặt vết thương, miệng quát lệnh khởi trình.

Trên liễn xa Liễu Mi rối quýnh lên, đang tính vùng vẫy bỗng thấy phía trước mặt nhoáng lên một ánh màu vàng và bay tuốt ngay vào lòng Pháp Đô lạt ma, Lạt ma tinh mắt, nhận ngay ra đó là con phi xà màu vàng chói, chỉ thấy tên Pháp Đô có vẻ cung kính chìa ngay hai bàn tay hộ pháp ra, con rắn vàng ấy lướt ngay xuống, nằm khoanh trên bàn tay của Pháp Đô và ngóc đầu lên le lưỡi, trông động tác rắn kỳ dị vô cùng.

Từ dưới bụng rắn, Pháp Đô gỡ ngay ra một quyển thư nhỏ và mở ra xem, Liễu Mi đoán, con rắn màu vàng này có thể là tin sứ (sứ thần đưa thư) đang truyền lệnh tuyên bố của Tỉ Vương Ma Cung. Quả nhiên đúng với ý phỏng đoán của Liễu Mi, sau khi Pháp Đô xem xong, lấy ra một bao cẩm nang, bỏ ngay con rắn màu vàng vào trong, và bước ngay lại liễn xa, chắp tay rằng:

- Dạ bẩm vừa nhận được lệnh, trong thần tự đã biết tin Nương Nương đi Lãnh Ưng Trang để thăm một người tên gọi Thượng Quan Linh...Liễu Mi giật thót người, vội hỏi:

- Thế người này hiện còn sống chứ?

Pháp Đô gật đầu rằng:

- Bẩm còn sống, nhưng công lực đã mất, nay bị giam dưới mật đạo của Lãnh Ưng trang viện! Nay chủ trì của Thần tự là Tang Kim đại lạt ma, vừa đây cho phi xà truyền pháp dụ đến, vì muốn tôn trọng Nương Nương, nên đã bằng lòng để Nương Nương đến Lãnh Ưng Trang để gặp mặt lần cuối cùng với Thượng Quan Linh, nhưng sau khi gặp nhau, lập tức phải quay nhanh về Bách Linh Miếu thần tự, vì chớp mắt, sắp đến ngày đại lễ của mùng mười Tết...

Liễu Mi chỉ nghe người chồng chưa cưới của mình chưa chết, có thể nói là nàng mừng đến nỗi suýt ngất người đi là khác, nàng ngồi ngay dậy và lợi dụng ngay tư cách Thiên Hậu Nương Nương hạ lệnh mau đi ngay. Công lực của Pháp Đô quả là hạng tuyệt cao, bả vai bị thương như thế, mà vẫn coi thường, lên ngay ngựa chỉ huy đoàn người tiến thẳng về hướng Lãnh Ưng Trang. Khi trời vào buổi hoàng hôn, đoàn người đã đến ngay Lãnh Ưng Trang, cửa trang lúc này mở lớn, đám nữ tì như những bóng u linh ấy đang xếp hàng nghênh đón. Pháp Đô lạt ma có vẻ thông thạo với trang viện này lắm, chỉ thấy y dẫn Liễu Mi đi vào một cửa hang và nói:

- Kính thỉnh Nương Nương vào trong để tương hội với người bạn Thượng Quan Linh, bần tăng sẽ đứng chờ đợi bên ngoài này, và xin Nương Nương hiểu cho thời gian tối đa là hai tàn nhang, vì sau cuộc thăm hỏi của nương nương chúng tôi còn phải khởi trình ngay suốt đêm nay để kịp về Bách Linh Miếu thần tự.

Liễu Mi cầm ngay đến lòng, tiến ngay vào huyệt đạo ẩm thấp, nàng không biết Thượng Quan Linh ở đâu? Trống ngực đánh thình thịch. Nàng đi được một chặp, thình lình thấy dưới mặt đất, có một đống lù lù trăng trắng, Liễu Mi vội bước lại xem, thì ra là một cỗ tử thi của người tàn phế đã bị mất hai chân, không biết tại sao lại chết tại đây. Không thấy thương tích, cũng chẳng hiểu chết về lý do gì, sau khi thấy cỗ tử thi quái dị này, Liễu Mi càng hoảng hồn, không biết người yêu của mình có bị chung cảnh ngộ như thế này không. Nàng rụt rè tiến thắng đi từng bước, nhưng không nhìn thấy ai Liễu Mi cất tiếng gọi:

- Anh Linh ơi!... Anh... Linh... Em Liễu Mi của anh đây...

Trong hang vắng lạnh và ẩm thấp này, chỉ nghe tiếng hồi âm... dội lại... Bên ngoài mới buổi hoàng hôn, trong này đã tối hù như đêm khuya, khiến người không ớn mà lạnh. Liễu Mi đã đâm lo ngại cho số phận của người yêu, một nơi giam cực khổ như thế, quả thật không làm sao hiểu nổi, nhận xét kỹ về tử thi: từ thân hình tàn phế đã lâu, đến diện mạo, tuổi tác, quyết không thể nào là Thượng Quan Linh được! Nhưng có điều là khuôn mặt của tử thi đây, hao hao giống vị Lãnh Ưng, không những thế mà còn giống luôn hẳn với vị Bắc Ưng Lãnh Lạc mà đã từng ân cần tiếp đãi mọi người! Thôi! Đúng rồi người này mới chính là vị Bắc Ưng Lãnh Lạc thiệt đây! Thì ra Tỉ Vương ma quân đã giam nhốt người ta tại đây với tư cách tàn nhẫn: phế hẳn thân người cho què, công lực mất hết, lẽ đương nhiên làm sao thoát khỏi một nhà lao kiên cố bí mật này, dù cho là kẻ cao thủ tột đỉnh đến đâu nữa, cũng đành chịu ngồi chờ chết. Nhưng có điều quái lạ, từ tất cả các chi tiết mà xét đoán thì vị chủ nhân của Lãnh Ưng Trang rõ ràng đã sống tại động hang này lâu ngày, mà có lẽ ông ta mới chết cách đây không bao lâu, tuy là một nơi ẩm thấp nhưng chiếc áo trắng vẫn còn vẻ sạch tươi.

Trên người tử thi, không còn thêm gì để lại, Liễu Mi không được thêm manh mối gì, nàng không hiểu người yêu mình còn sống hay đã chết? Hiện ở đâu? Nếu chết, lẽ đương nhiên phải có xác để lại đây chứ? Vậy có thể chứng tỏ chàng chưa chết, và chàng đã trốn thoát, khi mà chỉ có độc mỗi cửa động huyệt bằng sắt dày và nặng đã đóng kín, vì trước khi vào Liễu Mi đã để ý và nghe được các âm thanh vô cùng nặng nề của tấm cửa huyệt đạo mà dù cho Thượng Quan Linh có khôi phục được thần lực của mình đi nữa cũng chưa chắc gì đẩy nổi tấm cửa vĩ đại ấy! Vậy chàng đã đi đâu? Nếu quả Thượng Quan Linh đã vào đây! Vậy kể như chàng đã mất tích một cách thần bí lạ lùng!

Chán nản và hoang mang đã đến với nàng, Liễu Mi nghĩ ngợi đến câu Hồng nhan mệnh bạc nàng cho rằng quả là một định lý ngàn năm bất di bất dịch! Tự cổ chí kim vẫn thế. Nàng so sánh cái chết của Thiên Hậu Nương Nương thì chẳng thà chết quách đây cho khỏe xác.

Nàng quyết định va đầu vào tuốt cuối đường hang huyệt. Liễu Mi đã lẩm nhẩm khấn vái:

- Mẹ ơi, con sẽ gần mẹ mãi mãi từ đây. Anh Linh ơi! Em quả là một cô gái bất tường đối với anh chăng... Cha ơi! Con xin cha tha tội cho đứa con bất hiếu mà đã làm khổ lòng cha nhiều lần... - Nước mắt của Liễu Mi đầm đìa, nàng cắn chặt răng, nhắm ngay phía tận cùng của hang huyệt đạo lao đầu đi...

Mắt thấy cảnh máu loang thây đổ sắp diễn ra trong hang huyệt ẩm thấp này... nhưng có câu: Tự cổ gian nan duy nhất tử (xưa nay gian khổ chỉ có chết là cùng) cổ ngữ này quả không sai. Phàm là người ai cũng sợ chết đều luyến tiếc mạng sống của mình cả, nhất là trong trường hợp tự tử, trong tình trạng gay cấn nhất, thình lình hãm ngay ý chí lại, chuyện đó là thường! Và chính nàng Liễu Mi lúc này cũng vậy, trong lúc toàn thân nàng lao đi như một chiếc pháo thăng thiên bị ngược hướng vậy. Thình lình nàng cảm nhanh thấy sợ hãi, càng nghĩ ngay đến cảnh rùng rợn đấu bể sọ vỡ máu thịt be bét. Trong thời gian nhanh như chớp ấy, bản năng cầu sống của Liễu Mi đột nhiên nổi dậy. Liễu Mi tính thu ngay thế lao đầu của mình lại, nhưng nàng đã dùng tất cả công lực của mình vọt ra như một mũi tên vừa được bắn mạnh đi!

Ngay lúc đó, chớp nhoáng nhanh như cắt, Liễu Mi chỉ còn ngầm thốt ra tiếng: Thế là hết! mắt nàng nhắm chặt.

Ầm... một tiếng vang động mạnh, kỳ tích chợt xuất hiện. Cả một bức vách bị đổ về sức lao của Liễu Mi, vì công lực của Liễu Mi đã dồn ra hết, toàn thân nàng lúc này vẫn thấy bị bung tuốt ra ngoài với đà lao! Phi ra ngoài bức vách, ánh sáng hẳn, lúc này đang vào cảnh hoàng hôn, khí trời lành lạnh, gió thoang thoảng...

Liễu Mi cảm thấy: ngoài trừ đôi bàn tay bị đau vì đà đưa ra đỡ vách, trên mình không thấy đâu bị thương, nàng có cám giác như mình vừa thoát một cơn ác mộng. ý chí tự tử của nàng lúc này đã nhờ cảnh trạng thay đổi quá ly kỳ mà bị tan hết, nàng lúc này toát đầy mồ hôi lạnh và trí não tỉnh hẳn, nhận ngay đây là một manh mối, không thể nào bỏ qua!

Nàng đứng ngay dậy kiểm điểm, hóa ra bức vách đổ ra ấy, lại là một tảng đá vuông lối hơn trượng, lúc này trong hang huyệt lộ hẳn một lỗ hổng tối đen, trông không khác nào như một cái miệng khổng lồ của con quái vật, càng lạ hơn nữa là xung quanh chu vi tảng đá ấy, không hề bị nứt mảy may nào, hình như đây chính là một ngưỡng cửa bí mật của hang huyệt, và tảng đá ấy đã khép kín lên vách của hang bí mật này, trong sức mạnh vô tình của mình không ngờ đã làm đổ ngay xuống và tạo nên một cửa ăn thông ra. Liễu Mi tiếp tục nhận xét, nàng lại nhìn thấy đôi dấu tay của mình in ngay nơi tảng đá tuy trông rõ ràng, nhưng có thể đoán ngay, công lực của mình quyết không thể nào đánh bật được một tảng đá như thế. Hoặc tảng đá này, vốn là một cửa ra vào bí mật, lại nữa, có thể là trước Liễu Mi, đã có người nào bị giam trong này, đã dùng đến chường lực phá vách để đào tẩu, nhưng vì tính cẩn thận có ẩn ý gì bí mật, người ta lại đậy nguyên lại như cũ, để không ai có thể thấy được một dấu vết gì khả nghi.

Nếu giả thuyết này đứng vững, dưới vòm trời này, loại hẳn chàng Thượng Quan Linh ra, còn ai có nổi một thần lực dũng mãnh như thế? Trống ngực của Liễu Mi lúc này đập mạnh thình thịch, nàng nắm ngay manh mối này và tiếp tục khám phá thêm, xem phải chăng là người yêu Thượng Quan Linh của mình đã thoát khỏi đây. Nàng bắt đầu tìm chi tiết trên vách táng đá, một hồi trôi qua... Thứ nữ Thanh Thông Bang bỗng reo lên một tiếng mừng! Thì ra nàng đã tìm được dấu vết của một đôi bàn tay đàn ông, hai bàn tay đều xòe ngón cả, dấu bàn tay ấy đã lõm hẳn vào tảng đá, chứng tỏ đôi bàn tay của người này, phải có một thần công cái thế, và sau khi đẩy được tấm vách này, mới để lại một dấu tay khá sâu như thế.

Xưa kia, trong ngôi huyệt mộ của họ Liễu tại Thanh Thông Cốc, Thượng Quan Linh đã phá quan tài và huyệt mộ bằng sức thần công có một không hai này, và cũng từng để lại dấu vết bàn tay như đây, Liễu Mi còn nhớ rõ, và cũng biết sức thần công này chính nhờ chàng may mắn ăn được Tuyết bi tiên hoa mà có. Trên đời này, quả không còn ai có thần lực sánh hơn chàng Thượng Quan Linh của mình được.

Liễu Mi càng suy nghĩ càng mừng phấn khởi, chỉ nghe nàng lẩm nhẩm nói:

- Anh Linh khùng của em ơi! Anh quả là một người có phước đức lớn lao. Dưới bàn tay của Tỉ Vương ma quân, anh vẫn ngang nhiên thoát khỏi, em nghi chắc vị Bắc Ưng Lãnh Lạc tiền bối thiệt kia đã giúp anh và khiến cho công lực của anh khôi phục lại nên đã phá được vách huyệt hang này để đào tẩu, nhưng oan gia quí của em ơi! Nay anh lại lạc đi phương hướng nào vậy? Anh có biết chăng Nam Bút tiên sinh đang cố thân đuổi theo kẻ địch, Sỡ Canh đã cấp tốc về Trung Nguyên để cầu cứu... còn em... em đã lặn lội đến đây để tìm anh...

Liễu Mi sau khi tự lảm nhảm một hồi, nàng đoán ngay Thượng Quan Linh thế nào cũng khởi sự đi Bách Linh Miếu. Thôi được! Nhân ngay đám phiên tăng Pháp Đô còn đứng chờ đợi nơi cửa huyệt, nay dại gì mình không tách ngay hàng ngũ của chúng để đi truy tầm Thượng Quan Linh. Sau khi quyết ý, tà áo trắng nàng phất phới vừa chực tung mình đi. Chợt nàng lại nghĩ: Tại sao Thượng Quan Linh trước khi đi lại bít nguyên vẹn lối ngõ này lại? Rất có thể là vì thi hài của Bắc Ưng Lãnh Lạc chăng? Nhưng mặc dù sao, hành động này của chàng nhất định phải có duyên cớ gì đây. Nay mình muốn đi, hay hơn hết là nên sắp xếp nguyên vẹn theo y như cũ, nhưng với tảng đá khổng lồ ấy, công lực của Liễu Mi quả nhiên không làm sao giở nổi nó lên để trám lại cửa vách.

Thời gian của Pháp Đô giao hẹn đã mãn, nếu không đi ngay giờ đây, ắt không còn dịp để thảo luận, Liễu Mi không do dự gì nữa nàng tung mình phi thân.

Một tiếng lạnh lùng vang bật lên trong huyệt hang ẩm thấp tối om:

- Hãy khoan!

Liễu Mi giật nảy mình, thì ra xung quanh nàng đã bị đám phiên tăng bao vây, tên Pháp Đô lạt ma đã hiện ngay trước mặt, và cung thân kính cẩn bẩm rằng:

- Giờ khắc đã đến, kính thỉnh nương nương pháp giá khởi trình!

Liễu Mi nay buồn thiu, khẽ thở dài nói:

- Thôi đành! Vậy pháp Đô ngươi hãy cho người đậy lại tấm cửa đá này vậy, và tất cả mọi việc trong huyệt hang này, đều phải giữ nguyên vẹn theo tình trạng cũ! Được như vậy ta sẽ theo các ngươi lên đường ngay!

Đành theo sự chi phối của định mệnh vậy, tức người đâu thể miễn cưỡng cãi với tạo hóa...

Màn đêm đổ xuống bao trùm mọi cảnh vật, thứ nữ Thanh Thông Bang ngậm lệ bước lên liễn xa tiếp tục khởi trình...

Bút giả xin quay ngược về thời gian hai hôm trước để thuật tiếp cánh huyệt đạo bí mật ẩm thấp âm u của Lãnh Ưng Trang.

Thượng Quan Linh chịu đựng các sự khổ đau đang dày vò, bước chân của tử thần đã bước đến gần... tất cả những kết quả của dự đoán đã đến, Bắc Ưng Lãnh Lạc đã xỉa mạnh ngay chỉ vào ngay ổ tim chàng... Ngay khi đó, linh hồn của Thượng Quan Linh phảng phất như đang vào một cảnh giới khác. Trong giờ phút nhanh như chớp ấy Thượng Quan Linh càng nhận được rõ ràng hai sự kiện, một là bàn tay của Bắc Ưng Lãnh Lạc đỡ sau lưng mình, đang khi lạnh buốt, thình lình không hiểu sao lại đổi sang ấm áp và nóng.

Một việc khác nữa, chàng cảm thấy không đau đớn gì lắm, hóa ra cái chết lại dễ dàng và dễ chịu như thế, nếu biết vậy mình tội gì phải hồi hộp hoảng sợ. Chớp mắt, mọi tư tưởng của Thượng Quan Linh đã đình trệ hắn, tiếp theo là một ngừng thở luôn... Bên cạnh chàng Thượng Quan Linh lúc bấy giờ, một người áo trắng tàn phế - Bắc Ưng Lãnh Lạc - hai tay lúc này không ngừng hoạt động, ôm ngay Thượng Quan Linh vào lòng, song chưởng chia ngay ra một trước ngực, một sau lưng, hai bàn tay ấy áp sát vào và từ từ vận hành, thần sắc khẩn trương tột độ, dần dà trên đầu của Bắc Ưng Lãnh Lạc bốc hơi nóng, lúc này vị đại hiệp Bắc Ưng đang dồn hết công lực bình sinh của mình để tụ tập hết vào song chưởng, cố gắng thi thố trên mình Thượng Quan Linh.

Không bao lâu, tim chàng thiếu niên đập mạnh dữ, sự hô hấp từ yếu trở nên mạnh, rồi từ mạnh trở về mức bình thường. Đồng thời, sắc mặt từ trắng bệch đổi dần sang mức thường. Thình lình, ọc một tiếng vang lên, vị thiếu niên đã mửa ra một đống nước xanh lè, sau khi ói mửa xong, thiếu niên lại hôn mê bất tỉnh. Bắc Ưng Lãnh Lạc thở một tiếng khoan thai, chuyến thi thố này, Bắc Ưng đã đồn hết công lực bình sinh của đời mình, nay may mắn đã thành công; vị cao thủ giang hồ đã bị tàn phế này cảm thấy công lực của mình bị tiêu hao quá nhiều, trong lúc trị bệnh khẩn trương nên không cảm thấy gì, nhưng sau khi trở về trạng thái yên tịnh, vị đại hiệp tàn phế đã cảm thấy nội tạng ngũ phủ của mình rạo rực khó chịu và đau nhói vô cùng.

Chỉ nghe Bắc Ưng Lãnh Lạc lảm nhảm rằng:

- Giỏi lắm ta cũng chỉ còn sống được ba tàn nhang nữa là cùng? Nhưng ước nguyện sao trời xanh thương người hiền lương, khiến cho công việc của ta thành công, phù trợ cho thiếu hiệp này mau khôi phục bệnh, và hoàn thành tâm nguyện ao ước của mình, dẫu cho mình có chết cũng được nhắm mắt...

Bắc Ưng Lãnh Lạc cố gắng chịu đau khổ bình tĩnh chăm chú theo dõi vị thiếu hiệp Thượng Quan Linh. Một tàn nhang đã trôi qua, vẫn chưa thấy Thượng Quan Linh tỉnh, Bắc Ưng Lãnh Lạc bất giác thở dài, cúi đầu nói lảm nhảm, nhưng kỳ này có vẻ bi ai:

- Hắn vẫn chưa tỉnh, mình tin chắc thế nào hắn cũng tỉnh. Với tất cả những căn cơ có sẵn và trời phú gặp những may mắn bất phàm ấy, cộng thêm sự hy sinh công lực cả một đời của mình để thi thố cứu mạng hắn, chắc không đến nỗi lại sai lầm, và thế nào hắn cũng bình phục lại. Nhưng chỉ hiềm! Chỉ hiềm nếu sau hai tàn nhang nữa mà y chưa tỉnh lại, hắn sẽ không còn dịp nào để trò chuyện với ta nữa rồi, khi đó ta đã chết... đừng... đừng... đừng để ta phải thất vọng! Thượng Quan Linh ơi! Hãy gắng tỉnh dậy đi nào...

Quả thần u minh đã không phụ lời ước của Bắc Ưng Lãnh Lạc, Thượng Quan Linh quả nhiên từ từ tỉnh lại.

Mắt chàng từ từ mở, cái đầu tiên đập vào mắt của Thượng Quan Linh, là một khuôn mặt hiền hòa và ánh mắt yếu ớt của Bắc Ưng Lãnh Lạc.

Thượng Quan Linh hỏi rằng:

- Thưa tiền bối! Bộ ngài cũng chết rồi sao? Ồ! Thế là chúng mình lại được gặp nhau dưới âm phủ này... Lạ thật!... Sống chết đâu có gì phân biệt đâu?...

Bắc Ưng Lãnh Lạc lắc đầu phủ nhận nói:

- Anh đã nhầm rồi! Ta không hề giết anh, trái lại ta đã cứu anh. Nay anh đã mửa được thứ rượu độc của Tỉ Vương và khôi phục lại sức như xưa, nếu không tin anh có thể thử ngay.

Thượng Quan Linh tung mình nhảy bổng lên, quá nhiên thân hình đã linh động đúng theo ý muốn, trong lòng vẫn còn hoài nghi, ào một tiếng, quất ra một chưởng, bụi đá bay tung tua tủa, hiển nhiên thần lực của chàng đã kinh hồn người, quả bất phàm!

Thượng Quan Linh nghĩ: không thể tin nổi một kỳ tích ly kỳ này, vội hấp tấp hỏi nguyên do. Bắc Ưng Lãnh Lạc trầm trầm thuật lại.

Bắc Ưng Lãnh Lạc quyết tâm muốn cứu chàng, nhưng ngại sức mình không thể nào đạt được tới đích, trong hang huyệt tìm đâu ra thuốc giải cứu, nếu dùng công lực của mình để ép chất độc trong người của Thượng Quan Linh ra, e khó mà thành công.

Cuối cùng, Bắc Ưng Lãnh Lạc nghĩ ra một cách, quyết tâm thử xem. Thoạt tiên, Bắc Ưng Lãnh Lạc tạo ngay một trạng thái khủng hoảng để khiến cho Thượng Quan Linh cám thấy tử thần đã bước tới, nhưng Bắc Ưng Lãnh Lạc vẫn chưa ra tay, khiến cho chàng Thượng Quan Linh càng cảm thấy kinh hãi sợ toát mồ hôi lạnh.

Và Bắc Ưng đã nhân ngay cơ hội này, dùng ngay chưởng lực truyền hết công lực vào ngực và lưng của chàng, và cuối cùng đã ép được độc lực ra khỏi thân, khiến cho chàng thiếu niên anh tuấn này khôi phục ngay lại thần sắc xưa kia. Nay nói rõ ra Thượng Quan Linh mới vỡ lẽ, vội quỳ thụp xuống lạy tạ ơn cứu mạng của Bắc Ưng Lãnh Lạc. Và đồng thời chàng đòi cõng ngay vị đại hiệp cùng nhau rời thoát nơi hang huyệt ẩm thấp tối đen này. Bắc Ưng Lãnh Lạc bèn nói cho Thượng Quan Linh biết cách kiến tạo của hang hầm này rất đặc biệt và kiên cố chỉ có mỗi một lối ra, và là một tấm cửa sắt dày nặng vô kể, nếu không có chìa khóa để mở bên ngoài, tuyệt không thể nào hòng mở được nó.

Chương 70: Hắc y sứ giả

Thượng Quan Linh lần ngay đến cửa sắt, vận hết toàn lực bình sinh của mình ra thử, quả nhiên không nhúc nhích gì nổi. Bắc Ưng Lãnh Lạc bèn nói với Thượng Quan Linh, hãy lại đằng cuối hang tận cùng thử xem. Thượng Quan Linh nghe lời, bước lại phía tận cùng của cuối hang, vận hết thần lực bình sinh của mình ra để đẩy, tuy bức vách có kiên cố, nhưng so với tấm cửa sắt dày nặng có phần yếu hơn. Lúc này chàng nghĩ đến ân sư Nam bút Gia Cát Dật, ái thê chưa cưới Liễu Mi, bạn thân Sở Canh và đồng thời cảm động sự cứu giúp của Bắc Ưng Lãnh Lạc, chàng cố vận hết toàn thân thần lực, một lần... hai lần... cố sức mạnh đẩy. Đến lần thứ ba, một tiếng ầm dữ dội vang lên, một tảng đá rộng hơn trượng chu vi đã bung ra và để lộ hẳn một miệng lỗ khuyết to tướng, bên ngoài ánh trăng sao lu mờ, gió nhẹ thoáng lúc này đã vào canh khuya của đêm trường.

Thượng Quan Linh sung sướng trong lòng, quay ngay vào bồng Bắc Ưng Lãnh Lạc để đào tẩu. Không ngờ vị ân nhân cứu mạng này lại phản đối rối rít, cho rằng mình đã thành kẻ tàn phế, tỏ ra thoát khỏi đây cũng chỉ vô ích với đời, sự chờ đợi bấy lâu nay, chỉ cốt hy vọng có vị đại hiệp nào đến để hứa với mình là sẽ tiêu trừ tên Tỉ Vương ma quân, để trả thù giùm cho mình, dù có chết cũng yên trí để nhắm mắt. Thượng Quan Linh vội nói với vị Lãnh tiến bối yên tâm, vì chính Tỉ Vương đã ỷ vào cây Lãnh điện tỉ thủ gây nên vụ án mười mạng của nhà Thượng Quan ở cách mười dặm ngoài thành Nhạc Châu!

Chàng thề nguyền, dù vì công hay tư, thế nào cũng phải tìm đủ mọi cách để tiêu trừ cho bằng được con người hung hiểm quỉ diệu tuyệt luân số một dưới vòm trời này mới chịu? Nghe xong, lời phẫn uất của Thượng Quan Linh đối với Tỉ Vương, Bắc Ưng Lãnh Lạc tuy dã hiểu ý quyết chí của chàng, nhưng có điều, Tỉ Vương vốn là một ma quân mưu cơ xảo trá tuyệt vời, không ai có thể ngờ trước được hành động thần xuất quỉ nhập của y, phải khôn khéo lắm mới có thể thành công, vậy không thể nào không e ngại cho được!

Hai người bèn bàn kế hoạch để đối phó, Tỉ Vương đã dùng đủ diện mạo của Bắc Ưng Lãnh Lạc để xuất hiện trên giang hồ. Vậy nhân lúc Tỉ Vương đang giả mạo Thượng Quan Linh, Thượng Quan Linh thật cũng nên hóa dạng thành Bắc Ưng Lãnh Lạc để đi phó hội gấp tại Bách Linh Miếu, khiến cho Tỉ Vương bị sự đột ngột làm cho y phải kinh hãi không biết thật giả ra sao, như thế Tỉ Vương sẽ phải thân hành điều tra vụ án ly kỳ này, và Thượng Quan Linh có thể nhân ngay cơ hội để hoàn thành sứ mạng báo thù. Bắc Ưng Lãnh Lạc cho Thượng Quan Linh hay về cách dị dung thuật bí mật của Tỉ Vương hiện đều ở trong thư phòng, có sẵn cả mặt nạ da người của Bắc Ưng Lãnh Lạc trong đó, xem ra Tỉ Vương đã giả dạng Thượng Quan Linh thì bộ mặt Bắc Ưng thế nào y cũng còn để lại trong thư phòng.

Thượng Quan Linh lúc này bị khích động tâm thần, vì biết mình sắp mở cuộc mạo hiểm gian nan để vào nơi hổ huyệt, nhưng ý chí chàng không hề nao núng với tình trạng tột nguy này. Bắc Ưng Lãnh Lạc cho biết xưa kia tuy bị bắt nhưng nhờ Lãnh Lạc có báu vật Kỳ lân bảo đới nên khi Lãnh điện tỉ thủ xoay quanh một vòng nơi cổ, lần thứ nhất Tỉ Vương phải công nhận mất hiệu lực, và nhìn nhận đó là một dị số của Bắc Ưng, phá ngay lệ thường là để cho Bắc Ưng Lãnh Lạc sống sót trên đời, với điều kiện bị tàn phế và cấm cố trong hang huyệt bí mật đây, dụng ý của Tỉ Vương không ngoài mục đích là để giữ oai danh của mình khỏi bị ảnh hưởng. Nhưng Bắc Ưng Lãnh Lạc cảm thấy hài lòng nhất là hai báu vật của mình, Tỉ Vương không hề tịch thu, đó là Kỳ lân báo đới và ngọn ám khí nổi danh một thời là ưng trảo liên.

Bắc Ưng Lãnh Lạc lấy ra hai báu vật này tặng cho Thượng Quan Linh, vì có hai báu vật này mới có thể chứng tỏ Bắc Ưng Lãnh Lạc lại xuất hiện thực sự, và cho Tỉ Vương ma quân hung dữ đến đâu cũng phải hoảng người thất kinh, đến chừng đó nắm lấy thời cơ thuận tiện; may ra còn nhờ trời phù hộ mới có thể thành công. Thượng Quan Linh cung kính bái lãnh nhưng nói rõ là không dám tiếp nhận báu vật của tiền bối, nay chỉ tạm mượn, khi diệt được Tỉ Vương sẽ kính hoàn lại. Sau khi bàn tính, Thượng Quan Linh bèn hối thúc ngay Bắc Ưng Lãnh Lạc lên đường ngay, Thượng Quan Linh cho rằng bất luận thế nào, cũng phải cứu ngay Bắc Ưng ra khỏi nơi hang huyệt này trước, và tìm cách an bài sự an toàn cho vị ân nhân xong xuôi, chàng mới yên trí đi tính nợ với tên Tỉ Vương. Nay đã biết lối thông ra ngoài Thượng Quan Linh tính cõng ngay Lãnh Lạc ra và nghĩ với công lực hiện đã khôi phục của mình, phần Tỉ Vương vắng mặt tại Lãnh Ưng Trang, Thượng Quan Linh có thể mạnh dạn tìm bộ mặt nạ da người của Bắc Ưng Lãnh Lạc, rồi sẽ khởi trình di Bách Linh Miếu để phó hội.

Thấy vậy Bắc Ưng Lãnh Lạc khẽ thở dài nói:

- Ta cũng không muốn giấu gì anh bạn trẻ nữa, mạng sống của ta nhiều lắm là còn nửa tàn nhang nữa là cùng...

Thượng Quan Linh hoảng hồn thất kinh hỏi:

- Kính thưa tiền bối! Ngài muốn nói...

Bắc Ưng Lãnh Lạc từ từ rằng:

- Không giấu gì anh, trong cuộc cứu chữa cho anh, và nhất là lại không có thuốc men gì, vì để cứu anh, công lực toàn thân tôi đã bị hao tận hết... vì đã mất sức quá độ, thế nào cũng phải chết...

Thấy Thượng Quan Linh như ăn năn đau khổ, Bắc Ưng Lãnh Lạc xua ngay tay không cho chàng lên tiếng, và an ủi chàng rằng:

- Anh đừng buồn và hối hận về chuyện này làm gì, vì đây là sự tình nguyện của ta, ta không ân hận tí nào, trái lại ta cảm thấy sung sướng là khác, vì con người tàn phế như ta có sống trên trần cũng bằng thừa, và chắc không bao giờ tìm được Tỉ Vương để phục thù. Nay tuy ta hy sinh, nhưng cái hy sinh này đã giúp được việc cho anh, và nhờ thế anh có thể thay ta trả thù, nay ta cảm thấy mãn nguyện về hành động chính đáng của ta lắm...

Nói tới đây, hối thúc Thượng Quan Linh mau khởi trình, nhưng chàng đâu có chịu, chàng đâu có thể ngờ được vị Lãnh Lạc đại hiệp, vì cứu mình mà phải hy vinh mạng sống như thế, chàng chỉ biết có một cảm giác nghẹn ngào hối hận, rối quýnh đang xáo trộn quay cuồng trong óc mình.

Thượng Quan Linh bèn truy hỏi ngay có cách gì để cứu cấp ngay không? Bắc Ưng Lãnh Lạc lắc đầu tỏ ý không còn phương pháp gì! Vị đại hiệp lúc này như ngọn đèn cạn dầu chỉ chờ thoảng làn gió nhẹ là tắt ngay... Càng lúc, vị đại hiệp tỏ ra yếu dần... hơi thở đã mau dần... Thượng Quan Linh quì ngay bên cạnh vị đại hiệp, chàng nghĩ người ta đã hy sinh tính mạng để cứu mình, nay trước cơn hấp hối của vị đại hiệp, mà mình đành phải trơ mắt chứng kiến cảnh mủi lòng của sinh ly tử biệt này... Thượng Quan Linh vốn là người chánh trực thành khẩn, mang ân huệ của người ta, thế nào cũng nghĩ cách để báo đáp, huống hồ đối với vị đại hiệp Bắc Ưng Lãnh Lạc đây.

Lúc này chàng vội ghé sát vào tai Lãnh Lạc để hỏi phương pháp cứu chữa, chàng không nhẫn tâm để chứng kiến cảnh đau lòng này. Nhưng Bắc Ưng chỉ nhè nhẹ lắc đầu. Thượng Quan Linh càng cuống, bất kể ất giáp, đưa ngay song chưởng ra, một áp vào ngực và một nơi lưng của Bắc Ưng để cứu trị cho vị đại hiệp...

Thời gian nặng nề trôi... lâu và khá lâu, không thấy hiệu lực gì, với hai bàn tay của mình đang áp vào người đại hiệp Thượng Quan Linh chỉ thấy tim của Bắc Ưng Lãnh Lạc đập rất yếu...

Thượng Quan Linh hoảng hồn không dám đụng tới nữa, chàng vội nhẹ tiếng gọi:

- Lãnh tiền bối... Tiền bối không thể đi trong lúc này được! Tiền bối ơi! Hãy ráng chờ cho Thượng Quan Linh trở về đây để ngài thấy chiếc thủ cấp của Tỉ Vương đã chừng đó ngài hãy an tâm ra đi...

Bắc Ưng mỉm cười khi nghe những lời phấn khởi... mắt vị đại hiệp đã nhắm lại... Thượng Quan Linh đã cố sức để cổ võ ý chí của đại hiệp. Nhưng Bắc Ưng đại hiệp đã không bao giờ hồi tỉnh nữa!...

Đến khi Thượng Quan Linh phát giác vị đại hiệp trong lòng mình đã lạnh ngắt, ông ta đã âm thầm ra đi... Bên ngoài, ánh trăng sao chập chờn ảm đạm, bên trong, Thượng Quan Linh đầy lòng bi thảm, hai hàng nước mắt nóng hổi không ngớt lăn trên hai gò má của vị thiếu hiệp.

Tại sao ông trời quá bất công đến thế, một vị đại hiệp chính trực nhân nghĩa như thế sao lại phải gặp một cái chết đau đớn thế này? Trời xanh sao nỡ bất công như thế?

Thượng Quan Linh đau khổ suy nghĩ mãi, rút cục chàng lẩm bẩm khấn vái:

- Kính vái anh linh của Lãnh tiền bối, nay vãn bối xin quyết lập lời nguyền, thế thế nào cũng đoạt cho bằng được võ lâm dị báo Lãnh điện tỉ thủ, sẽ dùng ngọn tỉ thủ này để ăn miếng trả miếng với tên ma đầu, cắt ngay thủ cấp của Tỉ Vương đem đến đây để tế lễ với Lãnh tiền bối...

Khấn xong, Thượng Quan Linh đứng dậy ngắm nhìn tử thi của Bắc Ưng Lãnh Lạc... Bỗng chàng lại khóc sướt mướt cúi lạy rằng:

- Kính thưa tiền bối, đệ tử xin kiếu ngài. Mong anh linh của ngài phù hộ cho đệ tử được thành công!

Ra khỏi hang, chàng vận ngay thần lực, vác ngay tảng đá khổng lồ ấy đóng kín lại cửa hang? Trong bụng khấn thầm và mong rằng đừng có ai khám phá ra bí mật này và kinh động đến di hài của Bắc Ưng Lãnh Lạc, chờ mình hoàn thành sứ mạng và đem thủ cấp của Tỉ Vương đến...

Nhân cảnh đêm tối, Thượng Quan Linh lẻn đột nhập ngay vào Lãnh Ưng Trang. Nay công lực kinh thế hãi tục của chàng đã khôi phục, thân pháp lẹ làng linh động như vượn, chàng nhoáng ngay vào thế giới màu đen của Lãnh Ưng trang viện, không hề kinh động đến một người nào! Hiển nhiên kẻ giả mạo Bắc Ưng Lãnh Lạc đã vắng mặt trong trang viện, cả đến đám nữ nô bộc như xác sống ấy cũng biến đâu mất, lúc này trong Lãnh Ưng Trang vô cùng tịch mịch. Thượng Quan Linh vốn là ngựa quen lối cũ, nên công việc tiến hành thuận tiện đúng theo ý tưởng, chàng mò ngay đến thư phòng lục lạo một hồi, quả nhiên trong một ngăn tủ kín đáo, tìm ngay một bộ áo đen và một bộ mặt nạ da người. Chính tất cả những vật dùng này, người khách thần bí nọ đã dùng để giả mạo Bắc Ưng Lãnh Lạc, chẳng cần do dự, chàng vội mặc ngay vào mình và mang mặt nạ xong, lập tức tìm đến một gương bằng đồng, thắp ánh đèn lên để soi, quả nhiên là một diện mạo của Bắc Ưng Lãnh Lạc, giống trăm phần trăm.

Sau khi nhìn kỹ trong gương đồng, Thượng Quan Linh phải khen thầm trong bụng là mặt nạ da người này quả đã chế tạo khéo hết chỗ nói. Chàng vững bụng về sự cải dạng của mình, tung ngay mình vọt ra đằng cửa sổ, lẻn mò ngay vào nhà bếp, đánh cho một bụng no nê cẩn thận, rồi sắm theo bình nước và chút lương thực, mò ngay tới chuồng ngựa, tuyển ngay một con tuấn mã, dắt nhẹ ra khỏi trang trại thì trời cũng vừa khởi sáng.

Nay đã mùng ba Tết, Thượng Quan Linh lúc này đã hoàn toàn thay đổi với một lối phục sức, toàn thân áo đen, trên cổ ngầm cuốn Kỳ lân bảo đới và ngọn binh khí nổi danh ưng trảo liêm của Bấc ưng Lãnh Lạc được dắt kín ngay phía dưới gấu áo. Lúc này, tâm thần và hùng khí của Thượng Quan Linh hiên ngang lẫm liệt, chàng đã quyết chí mạo hiểm, khẽ vọt mình lên yên nhắm ngay hướng Tây Bắc khởi trình.

Chàng nhẩm tính với tốc độ của tuấn mã, chỉ ba bốn ngày đường sẽ tới kịp đại thành Bách Linh Miếu của miền Bắc, cuộc thịnh hội của mùng mười Tết, thế nào cũng kịp dự. Lúc này Thượng Quan Linh lại khấn nguyện thầm: trước ngày mùng mười này, may sao tên ma đầu Tỉ Vương chưa vội hãm hại ân sư Nam Bút, ái thê Liễu Mi và bạn Sở Canh, để chờ cho mình đến kịp lột gian mưu của y! Sự lo lắng đã giục Thượng Quan Linh ra roi, tuấn mã cất vó lướt như bay, quả là loại lương câu miền quan ngoại... Lúc này chỉ thấy cát bụi gây thành một đường khói hồng xa dần...

Một cuộc hành trình liên miên suốt ngày đêm không ngừng, nhưng Thượng Quan Linh cũng sợ sức ngựa chịu không nổi mà chết dọc đường thì khốn, nếu gặp nơi có cỏ và nước, không thể nào không nghỉ để dưỡng sức ngựa. Vào chiều hoàng hôn ngày hôm sau Thượng Quan Linh đã trông thấy một màu xanh xa xa... hiển nhiên nơi đó có cây và nước. Con tuấn mã đã đánh được mùi, lúc này nó đã như mệt và khát, chẳng cần Thượng Quan Linh phải chỉ huy nó đã ngửng đầu hí vang lên như mừng rỡ, bọt mép nó trắng xóa, và khi gần đến nơi, lại thấy có hai ngôi lều dựng ở đó.

Nơi miền sa mạc, nay lại xuất hiện hai ngôi lều như thế, quá là chuyện chẳng thường! Thượng Quan Linh lập tức đề phòng trong bụng! Chàng cho ngựa sải nhanh lại, vừa ngay lúc đó, bên trong lều vải chạy vọt ra hai người, không sao ghìm cương kịp, mắt thấy thế nào cũng tông vào hai người này, nhưng chợt hai người thình lình nhảy tung tránh khỏi! Và họ lại vọt nhanh ngay lại chặn ngay đầu ngựa của Thượng Quan Linh.

Rõ ràng là lỗi tại mình quá hấp tấp, nên suýt đá tông phải người ta, đang tính cất tiếng để xin lỗi, không ngờ lại có chuyện lạ xảy ra, hai người này mặt đang hầm hầm nổi giận, nhưng sau khi nhìn rõ hình dạng Thượng Quan Linh, cả hai un bắn người và vội vàng quì thụp ngay xuống đất.

Cả hai gã đại hán này đều ăn mặc theo lối Mông Cổ, một trong hai người dùng Hán ngữ lắp bắp nói:

- Bọn tiểu nhân đáng chết! Đáng chết! Không biết Hắc y sứ giả đã giáng lâm... Kính mong Sứ giả tha tội chểnh mảng cho bọn tiểu nhân không biết để ra đón ngài...

Dứt lời cả hai lại cộc đầu như tế sao!

Câu xin lỗi của Thượng Quan Linh lúc này bị tắt nghẽn ngay, chàng lập tức hiểu ngầm, thôi đúng rồi! Đám người này chắc có liên hệ gì với Tỉ Vương đây, mà cái danh hiệu kỳ lạ Hắc y sứ giả, chắc phải là một tay chân trọng yếu của Tỉ Vương, tướng mạo lại giống hệt Bắc Ưng Lãnh Lạc. Và địa vị của Hắc y sứ giả chắc có lẽ hiển hách lắm nên đám người này thấy mình mới sợ hãi đến nông nỗi ấy!

Trong hai ngôi lều vải này nghe tiếng ồn ào bên ngoài đều chạy ra hết, sau khi thấy chàng Thượng Quan Linh đều hấp tấp quì mọp xuống hết, không dám ngửng đầu lên nhìn.

Thượng Quan Linh thấy vậy, lập tức suy đoán ra được phần nào, thôi đúng rồi, Bắc Ưng Lãnh Lạc tuy bị giam cầm sáu năm trời, nhưng tướng mạo đặc sắc của vị đại hiệp này đã bị lợi dụng để làm Hắc y sứ giả, trong phạm vi thế lực của Tỉ Vương, vô tình đã tạo ra một ngẫu tượng oai quyền tượng trưng! Và chắc hai chữ sứ giả ấy phải có ý nghĩa gì đặc biệt lắm? Rất có thể chính đó là Tỉ Vương, hơn nữa Tỉ Vương không hề dùng đến chân diện mục gặp ai xưa nay! Đương nhiên phải biệt phái các đệ tử đắc lực để nhậm quyền chức đại biểu cho mình, chẳng cần phải suy đoán sâu xa, Hắc y sứ giả này đương nhiên là một trong số nhậm quyền đại biểu ấy.

Thượng Quan Linh tuy là anh chàng thật thà, nhưng tâm tư lại khá thông minh, tuy dự đoán không bằng Liễu Mi, nhưng trong chuyến này, quả chàng cũng đã đoán trúng được tám chín phần mười. Nhưng Thượng Quan Linh lại nổi ngay một nghi vấn khác, theo lời Bắc Ưng Lãnh Lạc nói, chính Tỉ Vương đã mạo danh của Bắc Ưng để hoạt động, nhưng nay vô tình các thủ hạ của Tỉ Vương lại xưng hô với Bắc Ưng Lãnh Lạc là Hắc y sứ giả!

Nếu vậy, kẻ mạo danh của Bắc Ưng không phải bản thân của Tĩ Vương, vậy Hắc y sứ giả lại là ai kìa? Thượng Quan Linh chìm nghỉm cuộc suy tư, chàng quên mất đám người đang quì mọp dưới đất. Hai bên quì trước đầu ngựa ấy vẫn run run như thằn lằn đứt đuôi, thình lình đằng kia có tiếng quát rằng:

- Hai tên tử tội đã đắc lỗi với Sứ giả, nay Sứ giả đã không dung tha, còn không lo mau tự quyết cho rồi, bộ muốn liên lụy đến bọn chúng ta đây hay sao?

Tiếng quát ấy đã khiến Thượng Quan Linh giật mình.

Trong lúc Thượng Quan Linh chưa biết nên xử sự ra sao, hai tên đại hán quì phía trước đầu ngựa, tên bên trái ngẩng quay đầu lên, đưa tay rút nhanh ngay đao phắt ngay cổ, máu phun, thây ngã, cảnh rùng rợn bày ngay trước mắt. Tên còn lại bên cánh phải cũng đưa tay ra sửa soạn tự vận, nhưng bị Thượng Quan Linh ra tay ngăn chặn, chàng giơ ngang tay lên, một ngọn kình lực phát ra, cây đao bị bay bổng tít lên không. Bịch một tiếng, cả thân người của đại hán bị bật ngửa ra phía sau.

Lúc này, Thượng Quan Linh không lên tiếng, chàng chỉ sợ giọng nói của mình lại không giống Hắc y sứ giả thì nguy, cố sửa giọng oai hách và phát ra hai tiếng giản dị rằng:

- Cút mau!

Tên nọ như vừa lượm được hồn mình trong tử địa về hắn xúc động khóc sùi sụt quì lạy tạ như tế sao.

Đằng kia, âm thanh nọ lại quát lên:

- Tên tử tội không lo xéo nhanh đi lo bữa của Sứ giả còn đợi gì nữa...

Thượng Quan Linh đành phải nhảy xuống đất và bạo phổi bước ung dung ngay về phía lều, một đám người đã vội hấp tấp bước ra đón, người dẫn đầu là đại hán cao lớn, mặc theo lối người Hán, nhìn quen mắt lắm. Chỉ thấy người này cung kính quì xuống rằng:

- Tiểu nhân Tra Phong, xin được kính hầu sứ giả tại đây!

Giọng nói của người này chính là giọng quát trong hai lần vừa rồi, khi hắn ngẩng đầu lên, Thượng Quan Linh kinh ngạc, trời ơi, thì ra tên Tra Phong này không phải là ai xa lạ gì, chính là một trong hai tên đồ đệ của lão bà bịt mặt. Mình đã biết hắn, nhưng hắn làm sao nhận ra Hắc y sứ giả lại là Thượng Quan Linh? Chàng vừa mừng vừa kinh, tên này đã có mặt tại đây, lão bà bịt mặt thế nào cũng đã ở gần đâu dây, vậy là cơ hội báo thù đã nằm ngay trước mắt. Chàng hồi hộp, chỉ sợ lộ tẩy thì hỏng chuyện, vội thu ngay tâm thần của mình lại, oai hách rằng:

- Đứng dậy!

Tên Tra Phong kính cẩn dẫn đưa ngay Thượng Quan Linh vào trong lều, chàng âm thầm đề phòng và bụng bảo dạ: Thượng Quan Linh! Hãy ráng mà bình tĩnh, cơ hội đã đến, nhưng phải cẩn thận tuyệt đối, đừng nên để lỡ dịp may... Vào đến lều, bên trong trang hoàng hoa lệ đẹp mắt.

Khi ăn uống, Thượng Quan Linh dằn lòng không nổi, bèn lạnh lùng quát:

- Tra Phong, thầy ngươi đã lại chưa?

Tra Phong lật đật thưa:

- Kính bẩm Sứ giả, hiện sư phụ và sư đệ của tiểu nhân đều ở bên kia lều, để tiểu nhân qua mời họ qua đây!

Thượng Quan Linh lập tức nảy ra một linh cảm, cất giọng hừ lên một tiếng lạnh lùng âm u, tỏ ý không bằng lòng. Tra Phong thấy vậy giật mình hoảng hồn, không dám ho he một tiếng nào, vội lui nhanh ra ngoài.

Một chặp, Tra Phong dẫn hai người bước vào, Thượng Quan Linh nhìn thấy, trống ngực càng đập thình thịch, thì ra chính lão bà bịt mặt và tên đồ đệ! Chàng cố đè nén nỗi lòng hồi hộp của mình. Không chờ cho hai người tiến gần, Thượng Quan Linh oai hùng quát:

- Các người kể cũng hách thật! Hừ! Hừ...

Hai đệ tử đứng cạnh lão bà vội quì mọp ngay xuống đất, tên Tra Phong vội cung kính rằng:

- Kính bẩm sứ giả, tại mấy ngày này gia sư trong người khó ở, nên sư đệ tiểu nhân luôn phải túc trực hầu cạnh, nên mới chểnh mảng lại nghênh tiếp và tham yết ngài, kính xin sứ giả rộng lượng khoan dung cho... - Quay ngay sang phía sư đệ quát ngay: - Tra Lôi! Còn chờ gì mà không gỡ khăn che mặt ra để tạ tội với sứ giả!

Tên Tra Lôi lập tức ngoan ngoãn nghe lời, cỡi ngay khăn che mặt ra cúi lạy lia lịa.

Thượng Quan Linh chỉ lạnh lùng hậm hự, chỉ thấy lão bà bịt mặt vẫn cầm cây trượng đứng uy nghi bất động. Khi Thượng Quan Linh nhìn chăm ngay vào mặt lão bà ấy, người già bịt mặt này mới cất tiếng rằng:- Sứ giả! Tuy người có những đặc quyền khác với Tử y sứ giả (sứ giả áo tím), Lục y sứ giả và Lam y sứ giả và được xưng chung là Tứ đại sứ giả, có quyền đại biểu chúa thượng đồng thời nắm quyền sát sinh trong tay, những chuyến này lão bà ta đâu phải là vờ bệnh trong người, nếu quả người n chuyện này mà nổi giận, vậy xin hãy nể mặt mụ già này mà miễn truy cứu cho...

Thượng Quan Linh thấy mụ già này có vẻ ngang ngạnh ngạo mạn vậy, trong bụng cũng chưa biết nên quyết định ra sao, nên mượn danh nghĩa gì để nhử cho mụ ta ra tay giao đấu, để mình lấy cớ giết! Đương nhiên Thượng Quan Linh không thích mượn oai của Tỉ Vương và quyền lực của Hắc y sứ giả để ép họ tự chết, nhưng nhìn qua phía địch, nếu cả ba thầy trò họ đều hợp sức lại, quả là thực lực của họ hơn mình, nếu lỡ việc chẳng thành, thầy trò họ chạy ráo cả. Thì càng hỏng chuyện!

Chàng bèn nghĩ ngay một kế là phải làm sao chọc cho mụ già bịt mặt này nổi khùng và ép mụ ta vào thế phải ra tay, như thế mới hòng kết liễu mối thù Phủ Chưởng Hàn và nhất là vụ án giết mười mạng người thân của họ Thượng Quan Linh. Nghĩ xong, Thượng Quan Linh bèn lạnh lùng chậm rãi nói:

- Hừ! Vậy thế ngươi có biết Chúa công sai ta đến đây có mục đích gì không?

Lão bà bịt mặt cảm thấy bất an, giọng có vẻ run rằng:

- Lão bà ta quả chưa biết. Dám xin sứ giả cho hay!

Thượng Quan Linh cười nhạt lạnh lùng:

- Câu chuyện về rằm tháng năm ngoái, xảy ra tại Thượng Quan Trang cách Nhạc Châu mười dặm; nay Chúa công có lệnh, muốn nhà ngươi phải tường trình bẩm rõ lại hết đầu đuôi của vụ án ly kỳ đó để Chúa công còn lo định liệu mọi việc quan trọng sắp đến!

Trong lòng Thượng Quan Linh, xưa nay vẫn chưa làm sao tìm rõ được nguyên nhân tại sao lão bà bịt mặt này lại phó thác cho Tỉ Vương dùng ngọn Lãnh điện tỉ thủ, giết một lúc mười người thân của nhà họ Thượng Quan! Nay kẻ đại thù đang đứng trước mắt, bụng nghĩ dẫu có giết ngay mụ già này, e cũng khó mà biết rõ căn do về vụ thám án năm xưa tại Thượng Quan Trang, vì vậy chàng đành phải mượn danh lệnh của Tỉ Vương để hầu biết nguyên nhân của vụ án, xong sẽ ra tay trả thù! Và chàng cũng ngầm cho rằng lão bà bịt mặc đây ương ngạnh và ngạo mạn lắm, e mình dùng lối này cũng chẳng có hiệu quả gì, với Thượng Quan Linh lúc này, chẳng qua có tính cách thăm dò thử mà thôi, nếu mụ ta không phục, cũng có thể trở thành một lý do cho Thượng Quan Linh khiêu khích để ra tay gây chiến!

Nào ngờ sau khi lão bà bịt mặt nghe xong, thở dài một tiếng, toàn thân loạng choạng về phía sau như muốn đứng không vững, cây trượng chống dưới đang rung lên. Thượng Quan Linh bỗng cảm thấy thương hại mụ già này, đáng lẽ mình không nên ép người ta quá thế, tội nghiệp. Nhưng chàng lại sực nghĩ ngay, lão bà đây chính là kẻ đại thù địch của mình, không thể nào vì lòng nhân nghĩa mà buông tha cho mụ ta được. Nay mình đã bị vướng trong thế cưỡi trên lưng cọp, Thượng Quan Linh bỏ ngay ghế ngồi và từ từ đứng dậy, đôi mắt sáng ngời nhìn thẳng sang phía mụ già đang lảo đảo như muốn ngã ấy lạnh lùng rằng:

- Hừ! Tại sao thì nói đi chứ...

Hiển nhiên lão bà bịt mặt chuyến này bị ép bức, và lại chạm đúng vào nỗi lòng đau đớn của mụ ta, nên trong cơn kinh hoàng phẫn uất bi ai ấy, không làm sao dứt khoát ngay được, chỉ trầm mặc lặng thinh, còn hai tên đồ đệ Tra Phong và Tra Lôi; khăn bịt mặt đã gỡ, lúc này chỉ thấy sắc mặt hai tên này đều đầy vẻ bi ai uất ức.

Lúc này Thượng Quan Linh cứ chờ họ chống đối để chàng có cơ ra tay mở cuộc đại tàn sát ba thầy trò này!

Và chính đây cũng là một cuộc thử thách oai lực của Tỉ Vương; chờ một chặp, lão bà bịt mặt bỗng cắn răng nghiến lợi bật khóc cửa miệng từng tiếng một:

- Được! nếu dã là... lệnh... của Chúa công... mụ già ta đâu... dám không... tuân lệnh...

Thượng Quan Linh ngầm kinh hãi, quá nhiên oai quyền của Tỉ Vương ghê gớm thật!

Tra Phong và Tra Lôi có vẻ rất quan tâm đến thầy chúng, tiếng Tra Lôi rối lên:

- Thưa sư phụ!... -- Ý hắn như muốn ngăn cản!

Lão bà bịt mặt quay lại đưa tay ngăn ngay hai đồ đệ tính theo sau, và chậm rãi nói:

- Hai đứa con hãy lo tiếp hầu sứ giả tại đây, ta phải về lều bên kia, chiếu theo lệnh của Chúa công, sẽ ghi chép lại những chuyện dĩ vãng, để nhờ sứ giả chuyển trình và cầu xin Chúa công mở ơn hái hà...

Dứt lời, lão bà bịt mặt lững thững bước ra khỏi lều. Thượng Quan Linh lại nghiễm nhiên ngồi xuống ăn uống một mình, chàng nghĩ thầm, nếu mình không mượn ý chỉ (tựa loại chiếu chỉ, nói bằng miệng) của Tỉ Vương mụ già này đời nào chịu khai chuyện này ra, nay kể mình thành công, chàng cảm thấy khoái trá vô cùng, bụng nghĩ bấy lâu em Liễu Mi cứ chê mình thật thà, chất phác vô dụng, nếu nàng biết được chuyện này đây mới hiểu, mình cũng không phải là hạng xoàng gì nhé!

Trong lều, Tra Phong, Tra Lôi ngồi chung một góc, Thượng Quan Linh ngầm quan sát, thấy hai tên này có vẻ hậm hực, nhưng lại không dám nổi cơn! Ngoài ra các tên khác đều trốn tuốt đi đâu hết, Thượng Quan Lỉnh nghĩ bụng: Hắc y sứ giả này chắc phải là một tên hung ác dữ tợn, nên mới có thể đại biểu quyền oai để sai khiến các bộ hạ của Tỉ Vương, vậy nhân vật này không phái là hạng tầm thường gì, từ võ công mưu trí, đều có thể liệt vào hạng đệ nhất lưu, rất có thể Hắc y sứ giả xưa nay thường thay thế Tỉ Vương để chấp pháp tử hình cho đám thủ hạ nên chi mọi người thấy dáng Hắc y sứ giả đều như gặp Diêm Vương dưới quỉ phủ vậy.

Càng không ngờ rằng mình vô tình lại được đóng một vai trò quan trọng đến thế, Thượng Quan Linh chỉ cười ngầm trong bụng. Đâu nửa tàn nhang trôi qua, lão bà bịt mặt vẫn chưa thấy quay về, Thượng Quan Linh đã nổi nóng, nghĩ ngay tới hai tên đồ đệ bất lương này của mụ ta, nay đã lọt vào tay mình, thế nào cũng trừng trị cho chúng một mẻ! Nghĩ vậy bèn lạnh lùng khiêu khích ngay rằng:

- Tra Phong, Tra Lôi! Đã lâu không có dịp gặp hai ngươi! Vậy chắc công lực của hai người thế nào chả có tiến bộ ít nhiều! Hà! Hà! Tiện giờ này không bận công việc gì, chúng mình thử quần với nhau vài ngọn xem sao...

Nghe câu nói ấy, anh em họ Tra đâu phải là kẻ ngốc nghếch gì mà không biết dụng ý, Tra Lôi không dám ho he gì. Tra Phong vội vã rằng:

- Anh em tiểu nhân vốn tài hèn sức mọn, đâu dám to gan lớn phổi mà ra tay rối trước mắt Hắc y sứ giả đại nhân...

Thượng Quan Linh nói ngay:

- Không sao! Không sao!

Dứt lời đứng dậy, hất ngay áo bào đen lên, rút ngay ngọn binh khí lừng danh của Bắc Ưng Lãnh Lạc là lưỡi kiếm ưng trảo, chỉ thấy ngọn binh khí kỳ hình quái trạng sắc bén này ánh sáng nhoang nhoáng khắp trong lều. Hai tên cao túc họ Tra của lão bà bịt mặt, xưa kia cũng đã cùng giao tranh qua với Thượng Quan Linh, nhưng hồi đó với một chọi một, đương nhiên chàng dư sức thắng, nhưng hai anh em chúng họp sức, quả khó thắng nổi! Nhưng ngày nay, nhất là sau khi Thượng Quan Linh đã ăn Tuyết bi tiên hoa, công lực dũng mãnh vô cùng, hơn nữa ngày còn học nghệ tại Ngao Sơn, ân sư Nam bút Gia Cát Dật, đã cặn kẽ chỉ dạy cho chàng hầu hết về cách sử dụng các loại binh khí kỳ lạ, nên chi ngày nay với ngọn ưng trảo liêm trên tay, chàng cũng thành thuộc không kém gì cây Lệ thủy tinh kiếm. So với công lực ngày nay của mình, dư sức thắng nổi anh em họ Tra họp lực lại.

Dưới ánh đèn trong lều, Thượng Quan Linh thấy rõ hai bộ mặt cắt không ra máu của anh em họ Tra, chàng hơi thất vọng. Thượng Quan Linh giơ ngay lưỡi liềm ưng trảo cười nói:

- Trong này cũng khá rộng, vậy chúng ta cứ việc đùa với nhau tại đây cho vui! Hai ngươi cùng lên cả một lúc cho tiện, và cứ việc thẳng tay, đừng có ngại gì hết.

Tên Tra Phong miệng mấp máy, hình như còn muốn năn nỉ van xin, nhưng người em Tra Lôi, có vẻ đầy can đảm hơn người anh, hắn ngang nhiên đứng phắt dậy, soạt một tiếng kiếm rút ra khỏi vỏ, hiên ngang nói rằng:

- Đại ca! Anh còn do dự gì nữa? Rõ ràng Chúa công đã có lệnh, nên mới cho sứ giả đến đoạt tính mạng chúng ta. Đại trượng phu dầu chết cũng phải oai phong hiển hách, hà tất phải ngoe nguẩy đuôi khuyển mà cầu xin làm gì, đã lâu lắm rồi, tuy đệ chưa bao giờ gặp mặt Chúa công: nhưng cá tính của Chúa công đệ rõ lắm. Khi mà Chúa công bắt anh phải chết trong hai canh, tuyệt không bao giờ kéo dài đến canh ba, nay sứ giả phụng mạng tới đây chẳng cần gì nói cho thêm lôi thôi! Chúng ta cứ việc tuân mạng cho rồi!

Tra Phong nghiễm nhiên đứng dậy hỏi:

- Dám hỏi sứ giả, phải chăng ý Chúa công muốn anh em chúng tôi chết...

Thượng Quan Linh lạnh lùng không đáp, Tra Phong bi phẫn rằng:

- Đã là lệnh của Chúa công, sứ giả cần gì phải ép chúng tôi ra tay như vậy, tuy bọn chúng tôi bất tài, nhưng vẫn còn đủ can đảm để tự sát!... - Rút ngay kiếm sửa soạn tự tử.

Bỗng lại nghi hoặc hỏi rằng:

- Dám hỏi sứ giả, nếu anh em chúng tôi hợp lực bị bại lẽ dĩ nhiên không còn nói vào đâu. Còn may mắn được sứ giả nể tình nhường cho nửa đòn nào... nếu vậy... sứ giả lại tính xử trí sao?Thượng Quan Linh cười thầm trong bụng: đã sắp toi mạng đến nơi mà vẫn còn mơ sống, đáng cười thay cho lũ vô tri. Chàng bèn lên tiếng lạnh lùng:

- Hai ngươi chỉ cần thắng nổi ta nửa đòn thôi, bản sứ giả sẽ niệm tình tha ngay cho hai người tự do ra đi!

Anh em họ Tra mừng thầm trong lòng, anh em đưa mắt ra dấu với nhau, rồi Tra Phong lên tiếng:

- Kính thưa sứ giả! Vậy anh em chúng tôi xin giở hỗn với ngài vậy?... Và xin ngài chỉ giáo!...

Anh em họ Tra chia nhau một bên trái, một bên phải, thình lình vung kiếm ra áp đánh sang!

Tra Phong, Tra Lôi biết rằng trước mặt mình đây là một kình địch ghê gớm, chỉ cốt sao mình thắng được nửa đòn, nếu không, máu sẽ loang ngay tại đây mất, nên hai em ra tay toàn dùng các thế đánh bí hiểm để đoạt phần hy vọng cho bản mạng mình, càng đánh càng tỏ ra liều mạng.

Võ công quỉ dị của anh em họ Tra này, đều giống nhau ở chỗ tả chưởng hữu kiếm (bên trái chưởng, bên mặt dùng kiếm), đồng thời đưa ra, tay trái của hai người giơ xòe ra như hai móng trảo, nhằm bấu vào huyệt đạo thượng bàn của Thượng Quan Linh, đồng thời hai ngọn kiếm giao nhau như hình một chiếc kéo lớn, chém phạt túi bụi. Chỉ thấy kiếm thế chưởng phong vung lên tua tủa, dũng mãnh tuyệt vời!

Thượng Quan Linh cũng muốn cho hai tên hoảng hồn một chuyến, chàng không thèm né tránh, đứng ngẩn người như kẻ hoang mang bối rối, không biết tránh đòn ra sao. Anh em họ Tra cũng biết đối thủ đang vờ để nhử đòn, lập tức hoảng hốt, nhưng vì thời gian xảy ra quá chớp nhoáng, hai người không sao thu kịp thế đánh của mình về, chưởng và kiếm đều đánh trúng vào người Thượng Quan Linh. Anh em họ Tra chỉ cảm thấy đôi cánh tay đau nhói ê ẩm, và nơi mà chưởng kiếm đánh trúng ấy không khác nào như đánh trúng vào miên thạch vậy. Ngay lúc đó, Thượng Quan Linh hét lên một tiếng, thần lực phát ra, bên trái dùng chưởng, bên mặt ngọn câu liêm ưng trảo đánh cùng ra một lúc, chỉ thấy ánh sáng nhóa choáng lên đường, anh em họ Tra bị bung hẳn toàn thân lên, cây ưng trảo liêm vẽ lên một đường chớp nhoáng, cheng keng keng hai cây kiếm của anh em họ Tra bị tiện gãy rớt xuống mặt đất!

Tra Phong, Tra Lôi miễn cưỡng lóp ngóp bò dậy, tên Tra Lôi kể cũng còn khí phách anh hùng, từ ngày cha sinh mẹ dưỡng đến nay, hắn chưa từng thấy qua lối võ công xuất sắc tuyệt đỉnh này bao giờ, nay biết anh em mình, dẫu cho hợp sức cả sư phụ mình là lão bà đi nữa, cũng chưa phái đối thủ của Hắc y sứ giả này? Vị sứ giả quả danh bất hư truyền, công lực cao không thể nào lường nổi! Trong lòng đã tuyệt vọng, nghĩ nay đã bại, không sao tránh khỏi cái chết, chẳng thà mình tự sát quách cho yên phận! Nghĩ xong liếc nhìn ngay huynh trưởng Tra Phong, sắc mặt anh minh tái mét như gà bị cắt tiết, hơi thở dốc và mồ hôi ướt sũng tóc, tinh thần vô cùng khủng hoảng!

Hắc y sứ giả lúc này đứng cách hai người không xa, tay cầm ngọn binh khí kỳ hình quái trạng ưng trảo liêm, ánh sáng lấp loáng oai phong lẫm liệt.

Tra Lôi nói với anh mình rằng:

- Đại ca! Em xin đi trước đây! Và xin gặp anh dưới âm ty vậy. Tí nữa thầy có lại phiền anh bẩm lại, em rất ân hận là không thể nào hầu cạnh bên thầy mãn đời, vậy kính mong thầy hãy tự bảo trọng lấy ngọc thể, phúc thọ khang sinh...

Tra Phong bi thảm quyết liệt với em rằng:

- Tiểu đệ cứ yên trí đi vậy, ngu huynh sẽ lo bẩm lại với thầy và thế nào cũng sẽ gặp lại em dưới suối vàng...

Tra Lôi cầm ngay cây kiếm gãy trên tay, nhằm ngay tim của mình đâm mạnh, máu tươi phun, thân ngã bịch xuống!

Thượng Quan Linh vốn là người nhân hậu, không háo sát, dù đối kẻ địch cũng vậy, nay thấy Tra Lôi tự sát, chực tính ra tay ngăn chặn nhưng đã trễ, chàng tự cảm thấy ăn năn. Tra Phong lui ngay về góc âm thầm ngồi xuống, và lên tiếng hôi rằng:

- Tiểu nhân muốn gặp mặt thầy để từ biệt lần chót, không hiểu sứ giả bằng lòng cho phép không?

Thượng Quan Linh im lặng, lúc này chàng đang động lòng trắc ẩn, tuy nét mặt chàng đang được che phủ bằng một lớp mặt nạ da người bằng tướng mạo Bắc Ưng Lãnh Lạc, nhưng trong ánh mắt chàng đã để lộ ra một tia nhìn tỏ vẻ thương hại. Tên Tra Phong đã nhận ra cái nhìn quái lạ ấy, hắn đâm ngờ vực. Thượng Quan Linh cũng biết mình hơi sơ suất trong thái độ, bèn quay về chỗ ngồi để chờ lão bà bịt mặt, trong lòng thầm nhủ: Mình không nên tỏ ra yếu đuối tình cảm như thế! Thử nghĩ, nào cha nào mẹ nào tổ mẫu... nào em gái... cả nhà mười mạng... nay chỉ đổi có ba mạng của chúng, có gì gọi là quá quắt đâu?

Nghĩ vậy Thượng Quan Linh lại tỏ ra thần oai lẫm liệt của mình, Tra Phong thở dài, ngồi im một góc. Khá lâu, lão bà bịt mặt bước vào, nhìn thấy Hắc y sứ giả ngồi uy nghi đường thất, hai tên đồ đệ, Tra Phong ngồi co ro một góc, xác chết Tra Lôi nằm lăn dưới đất, lão bà bịt mặt kinh hoảng, lập tức đứng khựng lại, toàn thân run rẩy.

Thượng Quan Linh cố tâm muốn dày vò cho mụ ta đau khổ, hai mắt chàng nhìn đăm đăm vào sự đau khổ của mụ già bịt mặt, chỉ thấy toàn thân lão bà loạng choạng như muốn xỉu... Nhưng vị nữ ma đầu này quả là bất phàm, chỉ nhoáng mắt đã lấy lại sự bình tĩnh ngay.

Lúc này, Thượng Quan Linh rất muốn biết thần sắc của lão xem ra sao, nhưng tiếc vì có khăn đen che kín mít! Chàng chỉ nhìn thấy đôi mắt tỏa ra những ánh sáng đau khổ, tuyệt vọng thê thảm... Lão bà bịt mặt không nói một tiếng nào, lẳng lặng bước sang, cầm ngay một phong thư dán kín giao ngay sang cho Thượng Quan Linh. Chàng thu ngay bức thư kín bỏ vào túi, chàng cũng biết trong này đã ghi chép tất cả những nguyên nhân đầu đuôi của vụ án mượn tay Tỉ Vương dùng dị bảo Lãnh điện tỉ thủ để giết mười mạng người của gia đình mình. Lúc này Thượng Quan Linh đã sôi gan nóng lòng, cho rằng giờ đây ba thầy trò lão bà bịt mặt phải thường mạng, vụ này phải được giải quyết trước, còn lại tất cả nguyên do đã gây nên vụ thảm án sẽ tìm hiểu sau...

Thấy hai thầy trò của lão bà đang chăm chăm ngó mình, Thượng Quan Linh cố ý quay tử thi của Tra Lôi và khiêu khích rằng:

- Lão bà chắc đã kinh hãi việc xảy ra như thế, và cũng không ngờ chuyện lại đột ngột như vậy?

Lão bà bịt mặt bỗng cất tiếng cười lên sằng sặc kinh rợn rằng:

- Có gì là lạ lão bà ta đã biết trước thế nào cũng có một ngày như đêm nay... Hà! Hà! Hà... - Tiếng cười thê thảm rờn rợn...

Thượng Quan Linh sử dụng ngay đến nội lực ép tiếng nói ra để át vào tiếng cười quái gở của lão bà, Và truyền ngay vào tai hai người rằng:

- Đã biết có ngày hôm nay, vậy tại sao lại theo hầu Chúa công?

Việc dò thăm mạo hiểm này, chính là điểm nghi ngờ còn lẩn quẩn trong lòng Thượng Quan Linh, lão bà từng biết Tỉ Vương là tay độc ác dã tâm, tại sao lại can tâm tình nguyện tiếp nạp?

Không ngờ câu hỏi này lại do chính miệng của Hắc y sứ giả một trợ thủ đắc lực nhất của Tỉ Vương hỏi ra, dầu cho lão bà bịt mặt là người tinh khôn đến đâu đi nữa, lúc này cũng không thể nào ngờ được rằng vị Hắc y sứ giả trước mặt mình đây lại là chàng Thượng Quan Linh đã cải dạng? Với địa vị của kẻ tâm phúc quyền uy nhất của Tỉ Vương, Hắc y sứ giả đã hỏi ngay đến câu hỏi này, quả không ai có thể ngờ được? Lão bà bịt mặt hình như cũng biết mình đã đến giờ tận số, không sao tránh khỏi, thà nói quách ngay tâm sự của mình ra:

- Thưa sứ giả, câu hỏi của sứ giả có biết tại sao tôi lại phải làm thế không?... Chẳng qua là một sự bất đắc dĩ... Hà! Hà! Hà...

Sau tiếng cười, lão bà bèn lên tiếng nói thẳng:

- Hắc y sứ giả có biết tại sao không? Không những chỉ riêng ba thầy trò chúng tôi mà thôi, phàm những người có quan hệ với Chúa công như thầy trò Độc Ma trên Vô ảnh Phong, Phổ Côn Bắc Kiếm trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt phái Điểm Thương ở Vân Nam, Kê Vĩ Bang của Giang Nam, Biện Trang Hổ của Dực Đông... Tất cả mọi người này, đều như lão bà ta đây hết! Ta cũng biết sứ mạng của Hắc y sứ giả người đến đây hôm nay, vốn là nhận lệnh của Chúa công để lấy đoạt mạng ba thầy trò ta, Ha! Ha!... Nay ta là người ngoại lục tuần có chết, kể cũng không yểu tướng gì, vậy đâu có tiếc gì! Nhưng nay ta muốn nói toạc hết sự ân hận và hối tiếc của lòng ta, đáng lẽ không nên vì chuyện tư oán không trả thù được để rồi phải nhờ vả đến chủ nhân của Lãnh điện tỉ thủ ra tay hộ, khiến nỗi tạo ra hoàn cảnh mất tự do như ngày hôm nay! Nhưng lão bà ta tin chắc rằng, sau khi ta chết không bao lâu, Chúa công Lãnh điện tỉ thủ của ngươi chẳng còn sống được bao lâu trên trần này...

Nghe vậy, đủ rõ thủ đoạn khủng bố rùng rợn của người thống trị Tỉ Vương đã đến cực quyền chuyên chế ra sao rồi, ắt sau này thế nào cũng tự dẫy lửa đốt thân. Nhưng Thượng Quan Linh lúc này đang phải đóng vai Hắc y sứ giả, không thể nào lại không tỏ ý trung thành với Chúa công của mình, bèn lạnh lùng quát rằng:

- Hừ! Chớ nói sàm bậy! - Đôi mắt tỏa ra những tia hung dữ!

Lão bà bịt mặt vẫn thản nhiên, hình như không sợ gì cái chết đang kế cạnh, tiếp tục oai hách rằng:

- Sứ giả! Nay ta phiền Sứ giả về báo tin lại với Chúa công, lão bà ta tuy có chết cũng chẳng tiếc gì, nhưng ta tin tưởng chắc rằng phàm những kẻ mà hiện nay đang tấp nập đến tham dự cuộc thịnh hội tại Bách Linh Miếu đây, chẳng ai mà lại không bị kẹt như tình cảnh của lão bà ta đây, họ đều oán thán ngầm trong lòng, mãi đến nay Chúa công vẫn chưa cho người đời biết rõ mặt thật của mình, càng không dùng lối đối xử bằng thành tín và dùng đức để phục lòng người, cứ lo lợi dụng quan hệ mâu thuẫn, dọa dẫm khủng bố để ép thiên hạ. Lão bà ta dám quả quyết rằng, nếu cuộc diện cứ giữ nguyên tình trạng cũ ấy, thế nào cũng chẳng còn bao lâu thời gian để rồi phải bị tan nát thất bại nặng nề...

Thượng Quan Linh lại phải vờ nổi giận quát tháo om, tay khua ngay ngọn ưng trảo liêm rằng:

- Câm ngay không! Ngươi dám khi quân phạm thượng đến thế sao, tội đáng chết...

Lão bà sau cơn bồng bột khích động, lại trở về trạng thái lạnh lùng hỏi:

- Sứ giả! Chúa công cho ngươi lại đây tìm ta, ngoài trừ nhắc lại chuyện cũ xưa kia, còn căn dặn thêm gì không?

Thượng Quan Linh lúc này không biết mình nên trả lời sao cho phải, nếu nói không có gì, rất có thể lão bà nhân ngay dịp để hạ đài, mình sẽ mất ngay cơ hội.

Nhưng nếu nói là lấy tính mạng của mụ ta, câu nói hình như khó thốt ra miệng. Chàng đành gật đầu nói:

- Chúa công còn một việc nữa là nhờ bản Sứ giả đây truyền đến cho lão bà...

Lão bà bịt mặt không chờ nói hết, khanh khách cười ngay rằng:

- Sứ giả vốn là người ngoài cuộc, sự việc giữa Chúa công và ba thầy trò ta, Sứ giả chẳng qua là người phụng mạng mà thôi, đương nhiên Sứ giả cũng chẳng cần phải e nể gì! Nhưng cũng nên hiểu cho lão bà ta là người biết điệu lắm, oan có đầu, nợ có chủ, ai bảo ta trước kia đã suy tính bậy, nay không thể nào thoát khỏi số mạng. Ta cũng chẳng muốn trốn tránh hèn nhát làm gì, dù cho là sự trừng phạt tàn ác đến đâu lên trên thân ta, ta củng cam tâm chịu đựng hết, quyết không từ chối! Sứ giả cứ việc nói thẳng đi, phải chăng Chúa công đã muốn lấy tính mạng của thầy trò ta? Hừ! Hừ! Nhưng không biết Chúa công có vui lòng cho ta được quyền chọn lựa cách thức, vì ta muốn chết một cách nhanh chóng...

Lúc này lão bà bịt mặt đứng đợi câu trả lời phán quyết của Hắc y sứ giả nhưng không hiểu tại sao, Thượng Quan Linh lại nổi ngay lòng bất nhẫn. Chàng lập tức nghĩ, thôi vậy, mình chỉ kiếm cách làm nhục cho mụ ta một mẻ, để hả nỗi lòng báo thù của mình, rồi tha cho hai thầy trò trốn di, chỉ cốt sao họ trốn khôi thế lực của Tỉ Vương, từ nay bỏ tính gây ác; làm người ai chả có lúc lầm lỗi nhưng biết sửa lại tội lỗi mới đáng quí, nếu cứ oan oan tương báo mãi, biết đời nào mới xong! Thà lấy đức giải oán cho yên mọi chuyện gây thù kết oán! Có được vậy mới là bản sắc của kẻ hiệp nghĩa anh hùng.

Huống hồ lời nói của lão bà đây lại như đã vô cùng ăn năn về lỗi lầm của mình, tuổi tác lại nằm trong cảnh ánh nến (đèn cầy) lập lòe trước cơn gió, sống chết sẽ đến bất kỳ lúc nào không hay. Nay mình có tha cho mụ ta, chắc mụ cũng sống chẳng được bao lâu nữa. Còn tên Tra Phong cũng đáng tha thứ! Xét kỹ ra, chính Tỉ Vương mới là hung thủ giết hết mười mạng của gia đình mình, vậy mình nên tìm ngay Tỉ Vương để thanh toán món nợ không nhất quyết dứt được.

Thầy trò lão bà bịt mặt đã sốt ruột ngóng đợi, lão bà vẫn im lặng, nhưng tên Tra Phong đã ý lên một tiếng. Rõ ràng hắn đã phát giác vị Hắc y sứ giả này hình như có gì khác với bản tính độc ác tàn nhẫn xưa kia.

Thượng Quan Linh thấy tình trạng vậy lập tức quyết định nhanh ngay, đối với mối thù oán của lão bà bịt mặt này, mình nên xem rõ lời tự thuật trong bức thư của mụ ta đã rồi sẽ quyết định sau, lập tức truy cản theo để giết cũng còn kịp chán, nếu tội đáng tha, mình cũng nên rộng lượng buông cho mụ ta thoát khỏi cảnh thúc bó của Tỉ Vương, dùng đức trả oán, quả là một việc đáng thi hành. Nhưng giờ đây phải làm nhục mụ ta một mẻ để hả bớt cơn giận ấm ức trong lòng, đồng thời cũng chọc cho hai thầy trò họ uất ức bỏ đi, mình tiện bề bóc thư xem về vụ án ly kỳ của nhà mình. Quyết ý xong, Thượng Quan Linh lên tiếng rằng:

- Chúa công cũng không có ý gì đòi mạng của ba thầy trò ngươi...

Câu nói này không những đã khiến cho Tra Phong mừng mà bà lão bịt mặt cũng tỏ ra sung sướng và nghi ngại...

Chỉ nghe lão bà bịt mặt lập tức lên tiếng rằng:

- Chắc Chúa công có chuyện gì muốn sai bảo ba thầy trò ta, nay Tra Lôi đã chết, còn hai thầy trò ta, nay đội ơn Chúa công không hết, nguyện sau này sẽ là thần bộc trung thành nhất với Chúa công, sau này, Chúa công có sai khiến bất luận là việc khó khăn đến đâu, cũng không dám từ khước...

Thượng Quan Linh chợt nghĩ ra một kế bất chợt, bèn nói:

- Kể ra Chúa công cũng không có điều gì yêu cầu quan trọng! Nhưng Chúa công có nói rằng, bởi vì lão bà bấy lâu nay vẫn che mặt bằng khăn đen như thế, nên chưa có lần nào được thấy Lư Sơn chân diện mục của lão bà, nay hạ lệnh cho Sứ giả mời người hãy tự bỏ chiếc khăn che mặt ra, và bản sứ giả sẽ lo vấn đề ghi chép kỹ càng các chi tiết về khuôn mặt của lão bà để trình về cho Chúa công tường lãm!...

Thượng Quan Linh nói câu này vốn vô tâm, chỉ cho rằng chuyện bắt chẹt này hay hay vui vui mà thôi. Nhưng không ngờ hai thầy trò lão bà bịt mặt nghe nói vậy, chẳng khác nào như sấm đánh ngang tai, hấp tấp lui về sau...

Chỉ thấy lão bà bịt mặt giận run người lên, không nói được một câu gì, tên học trò lớn của mụ ta liền quát mắng:

- Hừ! Tỉ Vương là người gì vậy? Tại sao lại dễ nuốt lời như thế, xưa kia từng hứa rõ với ân sư ta được không bao giờ cho ai thấy mặt thật... Bây giờ lại ngang nhiên giở trò phản phúc...

Thượng Quan Linh không ngờ sự việc lại quan trọng đến thế, nhưng muốn duy trì uy tín Hắc y sứ giả, chàng không thể không cứng cỏi quyết cương đến cùng được, đồng thời, tính háo kỳ của chàng đã nổi dậy ngay trong lúc này, không biết sau tấm khăn đen che mặt kia, liệu có những bí mật gì tại đó? Nghĩ xong, lên ngay giọng oai nghi quát lớn:

- Tra Phong! Hừ liệu mà giữ hồn, bản Sứ giả phụng mạng hành sự, lệnh Chúa công đã ban, ai dám trái cãi, sao ngươi dám cả gan gọi đến húy danh (tên kiêng kỵ) của Chúa công, bộ chán sống lắm rồi sao?

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau