ĐOẠT HỒN KỲ

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Đoạt hồn kỳ - Chương 51 - Chương 55

Chương 51: Kiếm rút cung giương

Hận thư sinh Hoàng Kha vì ghét thái độ của Bắc Kiếm, nên đứng khoanh tay làm ngơ, trong bụng chỉ mong sao cho đôi bên choảng nhau cho hả dạ, còn hai người đang nấp là Gia Cát Dật và Liễu Mi hồi hộp vô kể, chỉ riêng mỗi mình Vân cư sĩ là cực nhọc hơn ai hết, hết chào bên này lại quay sang vái bên kia, tích cực khuyên giải, nhưng Bắc kiếm Phổ Côn và Liễu Khải vẫn nhiếc mắng nhau không nguôi, cả đôi bên đều tức đến nỗi mặt đỏ tai tía!

Hận Thư Sinh lúc này đứng cạnh lạnh lùng cười rằng:

- Này Vân Cư Sĩ lão huynh! Tội tình gì ngài phải mệt lòng khuyên can thế làm gì, Liễu lão gia người ta dù sao cũng là ông chủ của một bang phái lừng danh, đâu có thể nào để cho người khác khinh khi như thế được, vậy xin lão huynh cứ việc để yên cho lão gia người ta cho những kẻ hỗn láo một bài học cho đích đáng... Hơn nữa, tôi nhận thấy quá đông người cũng đâm rầy rà chuyện, nếu rút bớt thêm người đi, may ra lại còn dễ làm việc là khác!

Trong câu nói này chẳng qua chỉ muốn khuyên ngăn Vân Cư Sĩ hãy tọa sơn quan hổ đấu (ngồi trên đồi xem hai cọp tương tranh), diệt bớt được tên Bắc kiếm Phổ Côn đi cũng hay! Và tình hình như vậy thế nào cũng có lợi, nên Hận Thư Sinh muốn càng ít người tham gia vào vụ này càng hay, chỉ riêng Gia Cát Dật và Liễu Mi không hiểu họ ngấm ngầm tiến hành chuyện gì không biết!

Trong lúc này Gia Cát Dật và Liễu Mi chỉ biết là bốn phái này đang hợp mưu kế bắt một người, rồi dùng người này để nhử thêm một người khác nữa, hình như võ công của người bị nhử ấy cao cường lắm thì phải, không sao họ phải tính giấu kỹ lưỡng con tin để bắt chẹt đối phương phải phục tùng theo ý của họ. Nhưng không biết nhân vật sắp bị bắt đây là ai? Và cả người sẽ bị nhử ra mặt ấy là ai? Và nhất là mục đích chủ yếu của họ tính làm gì? Gia Cát Dật và Liễu Mi đành chịu, họ không đoán ra được một chi tiết mảy may nào cả, và trong suốt câu chuyện của họ không thấy đề cập đến những bí ẩn bên trong của vấn đề.

Chỉ thấy Vân Cư Sĩ xoa tay rối rít ra lệnh cho các tăng lữ do Hải Không dẫn đầu, giơ hết thiền trượng và phất trần chen ngay vào giữa đứng, để tránh cho hai phái khỏi xung đột.

Bắc kiếm Phổ Côn lạnh lùng:

- Vân Cư Sĩ! Ngươi có ý gì vậy? phải chăng muốn ép chúng tôi giao tranh với các người đây?

Vân Cư Sĩ vội lắc tay rằng:

- Xin Bắc kiếm Phổ Côn hãy nghe tôi nói, bốn phái chúng ta hợp tác với nhau, tuyệt không thể nào bớt đi được một phái nào, vì sắp sửa có đại kình địch đến ngay bây giờ đây. Nay chúng mình nổi loạn như thế này, chẳng là một cơ hội cho chúng nhân dịp ra tay trừ bớt lực lượng của cánh mình đó sao! Và một khi chúng mình bị yếu thế, quyết không phải là đối thủ của họ nữa!

Thấy lời nói nghiêm trọng như thế, cả đôi bên bất giác kinh ngạc, Hận thư sinh Hoàng Kha bất giác hỏi rằng:

- Thế Cư sĩ lão huynh vừa nói nhân vật kình địch ghê gớm nào sắp đến, kẻ đó là ai vậy?

Vân Cư Sĩ rằng:

- Nói ra thế nào các ngài cũng biết ngay sức lợi hại của người đó! Chúng tức là người trong Ma Cung trên Vô ảnh phong của Cửu Lãnh Sơn, và cả vị vương của Lãnh điện tỉ thủ!

Câu nói này vừa thoát ra, quả nhiên thu được hiệu quả ngay. Trong Phi Các ma cung trên Vô ảnh Phong, bốn tên cao đồ đệ của Độc Ma, và tăng thêm vị vương của Lãnh điện tỉ thủ, và một lão bà bịt mặt không biết tên, không ngờ những thanh danh này đã khiến cho kẻ kiêu ngạo như Bắc Kiếm và Bang chủ của Thanh Thông Hội kinh ngạc bất an. Thế là đôi bên xìu ngay hào khí, ai nấy ngồi ngay xuống vị trí của mình, không nói không rằng gì với nhau. Vân Cư Sĩ lại lên tiếng:

- Ba ngài nên biết cho rằng: tại sao tôi phải mời ba ngài đến đây? Các ngài thử nghĩ, tôi biết rõ tung tích của người này ở đâu hẳn hoi, tại sao một mình tôi không ra tay, mà phải đi mời đến ba vị cùng ra tay chung sức như thế? Chẳng qua chỉ vì khi tôi lên đường đi Nhữ Nam, thì trên Vô ảnh Phong đã được tin tức, và họ không biết tung tích người kia ở đâu, nhưng lại biết người này liên quan đến việc trọng đại, chỉ có tôi là người tạm biết chút manh mối, và cũng biết chuyến đi Nhữ Nam này của tôi là vì chuyện này, và ngay sau đó Độc Ma phái người thông báo cho tôi biết, nói là sau khi tìm ra được người thiếu niên này, lập tức đưa ngay về Cửu Lãnh Sơn Vô ảnh Phong ngay, và Độc Ma sẽ có trọng tạ sau, còn nếu không, năm thầy trò của Phi Các tiên cung và kẻ nổi danh gần đây trong giang hồ là Lãnh Tỉ bang chủ, họ sẽ cấu kết với nhau để đối địch với tôi! Tôi nhận biết sức của mình không sao chống nổi họ, nên mới nghĩ đến mời ba phái các ngài để hợp tác! Vậy mong rằng chúng ta nên đoàn kết chung sức với nhau, tìm cho ra thiếu niên nọ, đồng thời còn phải lo sự phá rối của Độc Ma. Theo tôi nghĩ, sự săn tin của Độc Ma vô cùng bén nhọn, chưa biết chừng bây giờ y đã đến đây rồi cũng nên...

Sau câu nói này, khiến cho các người trong ba phái cảm thấy nơm nớp lo sợ, ai nấy đưa mắt ngó quanh quất!

Gia Cát Dật và Liễu Mi không dám động mạnh, nên may mắn không bị họ phát giác. Mọi người chỉ cảm thấy tứ bề u tịch, gió rờn rợn từng hồi, ánh đuốc chập chờn chiếu vào các thân cây càng tạo hẳn cảnh rùng rợn khắp xung quanh.

Liễu Khải quả không hổ danh là một phái tôn sư, chỉ thấy lão đột nhiên cười lên hào phóng rằng:

- Rõ thật Vân Cư Sĩ đa nghi quá, đâu có người nào đâu? Nếu quả họ đến, với sức lực của bốn phái chúng ta hợp nhau lại, lo gì không đánh cho chúng một trận tan tành không còn manh giáp dính thân?

Mọi người nghe xong lập tức khôi phục ngay lại tinh thần của mình, Hận thư sinh Hoàng Kha rằng:

- Chuyện này phải trách Vân Cư Sĩ hành sự không được cẩn mật, làm sao lại để đến nỗi tin tức lọt ra cho Độc Ma biết như thế?

Vân Cư Sĩ rằng:

- Chính thế! Vụ này quả thật do Cửu Thiên Tự chúng tôi đã làm lẫn lộn, trong lúc thiếu niên ấy từ miền Bắc xuôi Nam, chẳng bao lâu chúng tôi đã điều tra ra thân phận của hắn, bèn dùng kế lừa hắn vào tròng, đem nhốt tại Cửu Thiên Tự, và thông báo ngay cho Ma Cung trên Vô ảnh Phong, Độc Ma phái ngay Đinh Hãm và Đinh Phá đến, và một hôm, tôi không có mặt trong tự, thiếu niên ấy đã cùng một thiếu niên khác trốn đi khỏi Cửu Thiên Tự.

Liễu Mi cảm thấy câu chuyện này hình như đang ám chỉ đến việc Hầu Hạo.

Bỗng Bắc kiếm Phổ Côn lạnh lùng lên tiếng rằng:

- À ra ngài sợ địch không nổi đối phương, nên sau khi bắt được tên thiếu niên ấy đã lập tức báo ngay cho Độc Ma hay, như thế chứng tỏ ngươi đã hợp tác chặt chẽ với họ? Hèn gì người ta có quyền sai khiến ngươi phải giao con tin cho người ta! Hà! hà! Nhưng sao bây giờ ngươi lại bội phản người ta và quay lại hợp tác với chúng ta?

Vân Cư Sĩ ung dung giải thích rằng:

- Từ khi thiếu niên trốn thoát, phía Vô ảnh phong quả nhiên không bằng lòng, bắt Cửu Thiên Tự chúng tôi phải tìm nhanh cho ra, sau Xích Diệm đại sư đến cùng Pháp Không, Hải Không đuổi theo đến địa giới Tương Chương, thấy ngay thiếu niên cùng đi chung với hai thiếu nữ, hình như là đi Mặc Phụ Sơn, nếu hắn đến được Mặc Phụ Sơn thì khó lòng mà bắt được, nên đã ra tay bắt ngay giữa đường đem về, nhưng giữa dọc đường hắn lại tẩu thoát mất, và không biết tung tích hắn ở đâu, mà con chim ưng của Mặc Phụ Sơn bay đến cửu Thiên Tự tìm không ra thiếu niên nọ, nó đập phá tan tành chịu không nổi, may nhờ tôi đến kịp lúc, và lừa cho nó uống Bách hoa hương trà, nhờ vậy mới độc chết được nó. Tôi cũng thừa biết chim này bị chết, thế nào Mặc Phụ Sơn cũng không chịu cam lòng, và các tăng lữ ngay đêm đó lo rời Cửu Thiên Tự, và chia nhau ra các ngả đi tìm thiếu nữ. Sau tôi gặp lại người của Vô ảnh Phong là Đinh Hủy, Đinh Phá, và tả diện mạo của thiếu niên cho chúng tôi biết, mới hay xích Diệm đại sư bắt thiếu niên đó, thì ra tên thiếu niên nọ đã từng lên Cửu Lãnh Sơn và Vô ảnh Phong, nhưng vì anh em Đinh Hủy và Đinh Phá không biết nên mới để thiếu niên thoát. Sau thì tôi nói rô chuyện này, Đinh Hủy Và Đinh Phá vì cả tức lẫn thẹn, tính giết ngay tôi cho hả dạ, sau chúng lại hạ lệnh tho tôi đem tội chuộc công, phải mau mau tìm cho thiếu niên ấy rồi đưa ngay lên Vô ảnh Phong. Nên sau khi tôi biết rõ hành tung của thiếu niên, nghĩ hợp tác với chúng không ích lợi gì, nên mới quay sang hợp tác với quí vị...

Quả nhiên lời giải thích khiến cho mọi người cũng cảm thấy hơi hài lòng, và cả hai người đang nghe lén là Gia Cát Dật và Liễu Mi bắt đầu thất kinh trong bụng, rõ ràng người thiếu niên mà họ đang nói ấy chính là Hầu Hạo, và cũng chính là người mà hai người đang mong tìm gặp, nhưng không biết Vân Cư Sĩ nói là biết tung tích của thiếu niên, nhưng không nghe nói là ở đâu, chỉ nghe nói là gần đâu đây! Mọi người trầm lặng một lúc, bỗng Hận thư sinh Hoàng Kha rằng:

- Vậy Vân Cư Sĩ lão huynh còn gì thắc mắc và khó khăn nữa? Không thì chúng ta nên ra tay sớm cho rồi, nghĩa là chúng mình nên đem ngay thiếu niên ấy rời ngay đi, miễn cho cảnh đêm dài thường gặp mộng ác!

Liễu Khải rằng:

- Theo lao phu cũng nên mau mau ra tay cho rồi, không thì những tên hôi hám trên Vô ảnh Phong xuống quấy phiền, hoặc chúng phỗng mất tay trên thì hỏng chuyện hết. Bắc kiếm Phổ Côn cũng tán thành rằng:

- Chúng ta cứ hành động ngay cho chắc chắn đi! Bắt ngay thằng nhỏ đi và do Vân Cư Sĩ dẫn đường!

Vân Cư Sĩ rằng:

- Khoan! Khoan! Xin quí vị hãy nghe lời giải thích khó khăn của tôi, chuyện này còn nhiều lôi thôi khó khăn lắm!

Ba người cùng ngạc nhiên ngó Vân Cư Sĩ, Bắc kiếm Phổ Côn lạnh lùng lên tiếng ngay: - Sao? Bộ lại muốn múa rối trò gì chăng?

Vân Cư Sĩ rằng:

- Thằng nhỏ đó nghe đâu thần lực của nó dũng mãnh vô cùng, vì nghe trong Tứ hung của Vô ảnh Phong là Tam hung Đinh Hủy, trời sinh thần lực, nhưng thằng nhỏ này cũng không kém gì Đinh Hủy. Còn một chuyện lạ nữa là trong những ngọn tóc của hắn, chính lại là nguồn gốc của thần lực, nếu cạo hết tóc của nó, tất cả công lực của nó đều bị mất hết. Nên kỳ Xích Diệm đại sư bắt nó, trong lúc vô tình gọt mất tóc hắn nên mới bắt được, nhưng thằng nhỏ này cũng lắm cơ mưu, tuy hắn đã mất công lực, nhưng dọc đường hắn vẫn tìm đủ mọi cơ hội và rút cục lại tẩu thoát. Mãi đến bây giờ, theo tôi đoán, hắn đang trốn loanh quanh đâu trong núi này, và hình như hắn đang đột nhập chung vào với bọn khổ lực (cu li làm công), vì ngọn núi này vốn là một mỏ đồng lớn, công nhân trên mỏ gồm có đến năm sáu trăm người, và những công nhân này suốt ngày đêm đều làm trong mỏ, tóc tai tên nào cũng cụt ngắn, quần áo lem luốc. Tất cả gần như na ná giống nhau, nếu muốn tìm được thằng nhỏ ấy trong đám người khổ lực năm sáu trăm người này, đâu phải là chuyện dễ dàng gì?

Mọi người nghe nói, quả nhiên công việc khó khăn, bỗng Bắc kiếm Phổ Côn thốt ra một tiếng giết! Nhưng lập tức nghĩ ngay là thiếu niên cần phải bắt sống, mà giết hết đám khổ lực trong mỏ cũng không phải cách và chẳng bổ ích gì!

Mọi người bóp óc suy nghĩ, chưởng môn của phái Điểm Thương là Hận thư sinh Hoàng Kha, lại hiện ngay nét mặt buồn rầu đặc sắc của mình, luôn luôn thở dài!

Vân Cư Sĩ lại thêm lời rằng:

- Bây giờ chúng ta chỉ có mỗi một cách là giữ ngay lối ra vào của cửa mỏ, vì mỏ đồng này chỉ có mỗi một cửa ra vào duy nhất này mà thôi, có được thế, người của Độc Ma mới khỏi lọt vào trong, nhưng cũng phải phái ngay người tìm kế gì, vào trong bắt ngay thiếu niên ra! Như thế mới là thượng sách!

Thanh Thông bang chủ Liễu Khải khẽ vuốt râu lắc đầu tỏ ra không có ý nghĩa gì. Bắc kiếm Phổ Côn ngước đầu nhìn trời suy nghĩ, Hận Thư Sinh thở dài liên miên. Còn vị nấp trên cây là Gia Cát Dật và Liễu Mi đang nghĩ làm cách gì để tránh mắt mấy người này để vào trong mỏ tìm Hầu Hạo, hai người đều đoán được rằng, Hầu Hạo nay đã trốn trong mỏ, chắc thế nào cũng chờ đợi cơ hội đến để đào tẩu, đồng thời cho tóc mình mọc dài để khôi phục thần lực. Nếu hai người vào được trong mỏ, Hầu Hạo thế nào cũng ra tiếp kiến ngay, trái lại người khác vào, thế nào Hầu Hạo cũng lẻn vào trong đám đông khiến không ai phân biệt được đâu là thật với giả.

Thời gian đã quá nửa đêm, nhưng bốn thủ lãnh của bốn phái vẫn chưa nghĩ ra được một mưu kế gì, đám thủ hạ lo ngồi ngủ gật dưới đất!

Liễu Mi lúc này nhẹ tiếng nói nhỏ với Gia Cát Dật rằng: - Thưa sư thúc, tiểu nữ phải xuống dưới đây, vậy phiền ngài ngấm ngầm lo trợ giúp cho tiểu nữ.

Gia Cát Dật chưa kịp ngăn cản hành động của nàng, Liễu Mi đã bay vèo xuống nhẹ như một tàu lá, gót sen chạm mặt đất không một tiếng động. Mọi người trước cửa núi thất kinh! Tưởng đâu người của Vô ảnh Phong đã đến, hồn bay phách lạc, tuốt ngay khí giới ra, và hấp tấp vây quanh lại! Đến khi biết rõ kẻ đến chỉ có mỗi một người, khi đó mọi người mới yên tâm, thấy kẻ đến không có kiệu sàng cũng không có quái trượng, rõ ràng đâu phải là Độc Ma hay lão bà bịt mặt bí mật! Ai nấy lại trở về trạng thái bình tĩnh của mình!

Bắc kiếm Phổ Côn lên tiếng rằng:

- Kiên con! Lại xem coi là ai?

Phổ Kiên tuân lời cha, vù một tiếng tung mình ra, rút ngay cây kiếm, nhoáng lên một đường ánh quang! Lên tiếng quát hỏi rằng:

- Kẻ đến là ai?

Phổ Kiên chưa dám lỗ mãng vội, chỉ thấy hắn đứng cách Liễu Mi có gần trượng, và đưa mắt nhìn đối phương!

Liễu Mi đã có kế trong bụng, nàng đưa tay lên giở ngay chiếc khăn vuông trên đầu xuống, đồng thời bật tiếng cười lên, một mái tóc óng mượt xõa ngay vai.

Nàng bước lên vài bước, ánh đuốc chiếu rõ khuôn mặt của họ, lúc này chàng Phổ Kiên gần như không tin nổi đôi mắt của mình đây lại là vị thiên kim tiểu thư tuyệt sắc gái giả trai như thế! Khi nhìn kỹ xong, cây kiếm từ từ buông ngay xuống đất, đổi giọng ôn hòa rằng:

- Dám hỏi cô nương... cô là ai vậy? Và đến đây có việc gì?

Liễu Mi lanh lảnh rằng:

- Tôi đến tìm phụ thân tôi!

Phổ Kiên lại hỏi:

- Lệnh tôn của cô nương là ai?

Liễu Mi bực mình:

- Mắc mớ gì đến nhà ngươi?

Phổ Kiên nghĩ bụng, rõ vô lý thật, con gái nhà ai đêm hôm lại đây đi tìm cha, hỏi còn không chịu nói, rõ kỳ dị thật. Chàng tính lên tiếng chất vấn thêm, nhưng thấy thiếu nữ bỗng lại bước gần lên vài bước, sắc mặt tuyệt đẹp của thiếu nữ khiến cho Phổ Kiên không dám nhìn thẳng vào nhãn tuyến của nàng.

Nhưng phổ Kiên cũng rạo rực trong tâm hồn không ít, nghĩ thầm trong bụng dưới vòm trời này sao có người đẹp đến thế kìa. Nhưng tiếc cái hơi đanh đá một tí, nhưng chàng chợt lạnh người khi nghĩ rằng không biết nàng là loài yêu tinh gì tu luyện lâu năm thành đạo, biết hóa thành gái đẹp đến chọc ghẹo người đây chăng? Nhưng chàng lơ là không lý, và lập tức sinh ngay hảo cảm với người đẹp, lúc này chàng chỉ chăm chăm nhìn đối phương, cây kiếm trên tay không làm sao nhấc lên nổi, thậm chí cả đến lớn tiếng quát hỏi cũng không nỡ. Lúc đó bốn thủ lãnh của bốn nhóm thấy con trai của Bắc Kiếm chưa về báo lệnh, ai nấy giương cổ ra nhìn.

Liễu Mi bỗng nhiên lớn tiếng gọi rằng:

- Cha ơi! Cha!... Cha ơi!...

Bên kia Liễu Khải, chủ bang Thanh Thông Hội nghe tiếng quen tai vội lên tiếng rằng:

- Liễu Mi! con cưng của cha đó ư? Sao con tới đây làm gì vậy? - Vừa nói vừa hấp tấp bước lại.

Liễu Mi thấy cha già bước lại, càng chạy lại ôm chầm vào người cha, liến thoắng nói rối rít rằng:

- Thưa cha, con vừa tính về nhà, nhưng khi tạt ngang đây, nghe có tiếng người lao nhao, mà trong này có tiếng nói của cha, nên con mới tìm đến - Nói tới đây nàng trở ngay giọng nũng nịu rằng: - Cha!... Cha đến đây làm gì vậy, sao không ở nhà với má con mà đến nơi rừng rú hoang vu này làm gì?...

Phổ Kiên đứng ngoài, chuyện này mới lạ lùng làm sao con gái đêm khuya chạy ra đây thế này, gặp cha mà lại còn hung hăng trách cha như thế, xem cô bé này vừa đẹp lại vừa làm nũng một cách đáng yêu thật! Trên giang hồ ai cũng nghe nói hai chị em sinh đôi của nhà họ Liễu cô chị lẳng lơ dâm tà, cô em đứng đắn chanh chua, nhưng chắc cô này là cô em đanh đá nổi tiếng trên giang hồ đây. Rõ đúng là nghe danh không bằng thấy mặt!

Phổ Kiên lúc này đã điên đảo vì sắc đẹp của Liễu Mi, chàng chỉ cảm thấy cô bé này không một chỗ nào là không đáng yêu, và chỗ nào cũng đáng thích cả...

Phải biết rằng bang chủ của Thanh Thông Hội vốn không có con trai, bình sinh nuông chiều hai cô con gái như hai viên ngọc quí trên tay, dù cho cô lớn tiếng xấu vang khắp trên giang hồ, chỉ dám nói thầm nói lén xấu sau lưng lão, đâu có ai dám nói trước mặt Liễu bang chủ là con gái lớn của lão tà dâm đâu! Lão mà nghe được lại không đuổi đến chân trời góc biển để giết cho bằng được mới thôi ấy à? Vì được cha nuông chiều quá, cô gái lớn càng được thể phóng túng tính tà dâm của mình!

Lúc này Liễu Khải thấy con gái út mình, không khác nào như đi trong đêm tối vừa bắt được hột dạ minh châu, lão ôm lấy con gái vào lòng cười ha hả, đối với những lời trách của con gái Liễu bang chủ chẳng để tâm làm gì, trái lại nghe càng khoái tai lắm!

Liễu Khải bảo:

- Thôi con gái hãy qua đây nghỉ ngơi với cha, trời lạnh coi chừng bị cảm đấy! - Nói xong bèn cởi luôn áo bào bên ngoài choàng lên thân Liễu Mi rồi đưa nàng đến cửa núi.

Thanh Thông bang chủ bèn giới thiệu con gái mình cho mọi người biết, và Liễu bang chủ không quên nhấn mạnh vào điểm: Đây là tiểu nữ thứ!, hình như lão cũng ngầm biết là hạnh kiểm của đứa con gái lớn mình không được đẹp cho lắm, nên sợ thiên hạ coi rẻ con gái út Liễu Mi của mình!

Đại danh của Liễu Mi đã vang khắp trên chốn giang hồ, nay được thấy sắc đẹp của nàng, dưới ánh đuốc như thế, một vẻ đẹp nghiêm trang, khiến ai ngó cũng phải mến thích ngay, và tất cả những người có mặt tại đây không ai lại không mến thích nàng!

Thuộc hạ của Bắc Kiếm là Tư Đồ Cống, từng nếm qua lợi hại của nàng Liễu Mi, uất hận vẫn còn trong lòng, nhưng trường hợp đây không tiện làm ngơ, đành cúi mình làm lễ ra mắt. Liễu Mi thấy vậy bật cười rằng:

- Ha ha! Vị sơn vương mất râu hôm nay cũng có mặt tại đây cơ à?
Khiến cho mặt Tư Đồ Cống đỏ bừng lên vì thẹn.

Thuộc hạ của Vân Cư Sĩ là Hải Không đại sư, Liễu Mi vốn không lạ gì người này, nhưng vì trong lúc nàng ra tay giết Xích Diệm đại sư quá nhanh nên khiến Hải Không đại sư không làm sao nhận ra. Lúc này Hải Không nhận không ra nàng, giờ đây bước ra làm lễ tương kiến, Liễu Mi trong bụng cười thầm: Nếu nhà ngươi biết được tin sư đệ của ngươi bị chết về tay ta, lại không ra tay đánh liều mạng với ta trong lúc này ấy à!

Chưởng môn của Điểm Thương Phái là Hận thư sinh Hoàng Kha, quả là người tinh đời, chợt nhìn đã nhận ngay Liễu Mi chính là người thư sinh đẹp trai mà hồi trưa đã gặp tại quán ăn cao lâu, chỉ nghe y lúc này cười nói rằng:

- Ồ! Liễu cô nương! Chính ban ngày chúng mình đã từng gặp nhau rồi? Vậy thế còn ông già đi chung với cô đâu rồi?

Liễu Mi thất kinh, nàng vội nói vu vơ cho qua chuyện, vì sẵn thông minh, nàng đối đáp trôi chảy đâu vào đấy lắm. Không hề để lại một nghi ngờ vu vơ gì cả.

Tính tình Bắc Kiếm tuy là người cổ quái khó lường, nhưng sau khi thấy Liễu Mi, cũng thích con bé tinh ranh này lắm. Tư Đồ Cống ghé tai nói nhỏ vụ phá đám ở Hắc Thần Miếu chính là con bé Liễu Mi đây, nhưng Bắc kiếm Phổ Côn chẳng để ý làm gì, bỏ hết những nét mặt lạnh lùng, miệng cười vui vẻ chăm nhìn Liễu Mi.

Dần dà, trời bắt đầu sáng tỏ, sức lạnh càng tăng dần, mọi người nổi lửa ngay cửa núi để sưởi ấm, Liễu Mi nằm co ro cạnh cha già sưởi ấm một chập, bỗng nàng lên tiếng rằng:

- Thưa cha, con muốn đi chơi xung quanh nơi đây một chút!

Thanh Thông bang chủ Liễu Khải e ngại lúc này đám người của Độc Ma đến, nếu con gái mình có chuyện gì bất trắc, đâu phải là chuyện chơi, nghĩ vậy vội ngăn cản rằng:

- Con ngoan của cha chớ có đi đâu lúc này! Hãy ngồi đây với cha, mai đây cha sẽ đưa con về nhà ngay!

Liễu Mi nằng nặc không chịu, đưa mắt nhìn mọi người như muốn nhờ họ xin phép cho mình!

Bắc kiếm Phổ Côn không biết tại sao lại đâm ra tội nghiệp cho Liễu Mi, cười rằng:

- Liễu cô nương có muốn chơi gần đây cũng không sao, nhưng chớ nên đi xa làm gì, Kiên con, con hãy lo bảo vệ Liễu cô nương đi chơi chút!

Chính lòng Phổ Kiên cũng chỉ chờ có câu nói này, nay nghe cha mình cho lệnh vậy, chàng mừng quýnh suýt nhảy cỡn lên, vội hấp tấp rằng:

- Thưa cha và Liễu bang chủ cứ yên tâm, con biết lo tròn phận sự!

Chàng nghĩ chuyến này cùng đi với người đẹp như thế mình càng phải tỏ lòng ân cần với nàng mới được! Phần thì Liễu Khải không nỡ làm phẫn ý Bắc Kiếm, nên cười rằng:

Thôi cũng được, con gái cưng của cha cứ đi chơi cho thảnh thơi, nhưng nhớ là chớ đi đâu xa, để ta cho thêm Sở Canh đi chung nữa cho yên dạ cha.

Phần Sở Canh thì không có ý nghĩ như Phổ Kiên, y vốn là người thô kệch nhưng rất trung trực, đầu óc chỉ nghĩ đến những quân địch trên Vô ảnh Phong đến thì nên ứng phó ra làm sao cho chắc ăn để bảo vệ thiếu bang chủ của mình cho được an toàn!

Phổ Kiên lẽ dĩ nhiên là trăm phần trăm không thích Sở Canh đi chung như thế, nhưng ác nỗi không có lý do gì để từ khước. Thế là Liễu Mi đi trước, hai chàng theo sau, dần dà họ đi hết con đường hẹp của khu núi, chẳng mấy chốc họ đã tiến gần đến khu mỏ đồng.

Liễu Mi cau mày, bước thêm vài bước, đưa tay ngoắc Sở Canh rằng:

- Sở đại ca. Anh qua đây, tôi có chuyện riêng muốn nói vôi anh!

Sở Canh lật đật chạy tới, Phổ Kiên đâm nghi trong lòng nhưng không tiện đến gần.

Liễu Mi ghé sát vào tai Sở Canh rằng:

- Này Sở đại ca, tên Phổ Kiên này mất dạy lắm!

Tôi muốn anh giết nó hộ tôi, xong rồi lôi xác nó vào trong đường hầm mỏ đồng nhé! Tôi sẽ chờ anh trong đó!

Sở Canh xưa nay không một việc gì là không chiều theo ý của vị thiếu bang chủ nhan sắc tuyệt vời này, huống hồ nay chàng ta lại ghét sẵn Phổ Kiên trong lòng, nghe xong liền gật đầu lia lịa. Phổ Kiên trong bụng áy náy, nhất là khi nghe nàng gọi Sở đại ca! một cách vô cùng thân mật như thế, càng không vui chút nào. Mắt nhìn hai người thì thầm với nhau, không hiểu họ đang nói chuyện gì, cơn ghen vu vơ nổi lên ngấm ngầm trong bụng.

Bỗng thấy phích lịch nhị lang Sở Canh đứng sang một bên, Liễu Mi lại giơ tay ra ngoắc gọi:

- Này phổ đại ca! Mời anh lại đây, tôi có chuyện muốn bàn riêng với anh!

Tiếng phổ đại ca! thân mật như thế khiến cho Phổ Kiên mừng quýnh lên, chàng u mê chạy nhanh ngay lại, và cơn ghen ngấm ngầm đã tiêu tan như mây khói!

Liễu Mi bỗng khẽ tiếng rằng:

- Đứng sát lại đây cho người ta nói nhỏ nào!

Phổ Kiên y theo lời đứng sát lại người đẹp! Trống ngực chàng đã gần như muốn bể vì sự hồi hộp sung sướng!

Liễu Mi khẽ tiếng rằng:

- Anh có chịu giúp tôi một việc không?

Phổ Kiên vừa gật đầu vừa nói:

- Đừng nói một việc, dẫu là mười việc hay trăm việc tôi cũng sẵn sàng nghe theo lời cô nương, và tôi càng tin chắc là sẽ làm vừa lòng cô nương là khác!

Liễu Mi thấy phổ Kiên nói hiên ngang dũng mãnh như vậy, bèn đưa ngón tay ngọc của mình lên miệng khẽ suỵt như bảo chàng hãy nhẹ tiếng chút, và nàng ghé sát vào tai Phổ Kiên rằng:

- Sở Canh là người tôi ghét nhất, ở trong Thanh Thông Hội, hắn ta vẫn thường theo đuổi tôi hoài, với bộ mặt ngu đần ấy trông đã phát ghét ngay rồi. Phổ Kiên bất giác mắng thành tiếng rằng:

- Quân ngu đần như thế mà cũng tính chiếm tim người ngọc? Hừ! Để nó cho tôi xử...

Liễu Mi lại rằng:

- Chính thế! Vừa rồi hắn nói với tôi là trông thấy chúng mình có vẻ thân mật với nhau, hắn trông gai mắt quá, nên có ý muốn rủ anh quyết đấu một phen cho bõ ghét cơ đấy?

Phổ Kiên lập tức nắm chặt ngay tay lại hầm hầm rằng:

- Thằng chết toi! Nó dám ngông cuồng thế sao?

Liễu Mi bật cười rằng:

- Theo tôi xem, thế nào nó cũng không thắng nổi anh đâu, trông tướng anh hùng, hiên ngang của anh, chỉ cần anh ra tay, tin chắc phần thắng sẽ thuộc về anh ngay!

Thực ra thì công lực của Phổ Kiên còn thua Sở Canh nhưng trước mặt người đẹp, đâu có lý do gì tỏ ra mình hèn yếu, trong bụng tuy không nắm chắc phần thắng, nhưng cũng đành tỏ ra mình là kẻ anh hùng trượng phu, nghe xong gật đầu lia lịa!

Liễu Mi cố hạ giọng cho thật thấp rồi thêm rằng:- Em sẽ chờ anh nơi cửa mỏ trong kia, vậy anh cứ yên trí mà thắng hắn, nhớ là đừng nên kinh động đến cha em hay bất cứ ai bên ngoài, tốt nhất là kết liễu hắn càng sớm càng hay, và nhớ kéo xác hắn vào trong gặp em nhé! Anh đừng có ngại, chuyện này có em lo liệu với cha em, sẽ ổn thỏa hết!

Phổ Kiên ngẩn người, Liễu Mi bật cười, rồi nàng giơ tay vẫy với Sở Canh như chào tạm biệt, bỗng nàng tung mình vèo nhanh vào trong hầm mỏ đồng.

Phổ Kiên lúc này mê mẩn tinh thần, chàng không nghĩ đến ý nghĩ khác của Liễu Mi, chàng chỉ cho rằng nàng quả đang thích và mến mình, nên mới có ý bảo mình ra tay giết chết tình địch, rồi vào trong hầm mỏ gặp nàng. Chàng cũng thừa biết rằng tí nữa đây cha mình sẽ họp tất cả ba phái lại để tuyển người vào mỏ tìm người thiếu niên tóc ngắn, nếu mình muốn được việc, cần phải ra tay cho thật nhanh mới khỏi bị trở ngại! Chàng lại nghĩ đến một người đẹp quốc sắc thiên hương như thế, nhất là họ lại có tình ý với mình, còn gì mà phải do dự nữa, tuy công lực của Sở Canh lợi hại, nhưng mình có thể dùng những mánh khoé nhẹ nhàng thắng hắn cơ mà! Cuộc đấu này thế nào mình cũng hy vọng lắm! Chàng nghĩ đến sau khi mình thắng trận, sẽ được những phần thưởng quá xứng đáng.... Phổ Kiên lúc này đâm phấn khởi tinh thần, khi chàng ngửng mặt lên nhìn, Phích lịch nhị lang Sở Canh đã ngang nhiên đứng trước mặt mình.

Sở Canh lên tiếng hỏi rằng:

- Này Phổ Kiên! Hai chúng mình thử quần với nhau một trận xem ai hơn ai cho biết.

- Thằng ngốc! Chờ gì không ra tay cho rồi! Nhưng nhớ là khẽ tiếng chứ, vả phải đánh cho thật mau, cần nhất là đừng cho ngoài kia nghe tiếng ấu đả trong nảy, và nếu ngươi bị chết chớ có oán trách ta!

Sở Canh gật đầu lia lịa! Chính những câu nói này lại hợp ý với hắn, hắn không ngờ tên Phổ Kiên lại biết điều và chu đáo đến thế.

Trời lúc này đã sáng bạch hẳn, Phổ Kiên nhảy lùi một bước, soạt một tiếng, rút phắt ngay ngọn kiếm của mình ra, chẳng cần nói ất giáp gì nhắm ngay tim đối phương đâm nhanh tới, thế đánh vừa nhanh vừa ác và chàng đã phá qui lệ giang hồ trong lúc giao tranh, không lên tiếng cho đối phương biết trước.

Sở Canh kinh hãi hừ một tiếng, né tránh không kịp càng không thể nào rút kiếm ra nghênh địch, đành phải dùng chưởng ra nghênh tiếp, ào một tiếng chưởng phong đánh ra, nhưng ác nỗi vì quá gần, không đúng tầm sức của chưởng, ngọn kiếm của Phổ Kiên đã sát đến, chỉ nhoáng lên một ánh bạch quang, trong năm ngón tay của Sở Canh, ngón trỏ và ngón giữa đã rụng xuống mặt đất, máu chảy lênh láng.

Sở Canh cắn răng chịu đau, không hề kêu lên một tiếng nào, và ngay trong lúc đó, Phích Lịch Nhị Lang đã rút được kiếm ra và hét lên một tiếng, vung kiếm bửa mạnh tới, Phổ Kiên đâu chịu nổi thần lực này, chàng chỉ cảm thấy hổ khẩu tê liệt hẳn, kiếm suýt bị văng tung khỏi tay, Phổ Kiên vội nhảy lùi, lạnh lùng cười để lấy oai!

Sở Canh nắm chặt tay trái, tay phải cầm kiếm đánh ra các thế ác liệt: chém, bửa, phạt, đâm, nghĩa là hắn dốc hết toàn lực ra đánh túi bụi, thế đánh chẳng khác nào như tức nước vỡ bờ. Miệng luôn luôn lẩm bẩm chửi rủa:

- Mẹ kiếp thằng gian! Chuyến này bố sẽ phanh thây mày ra thành hai mảnh mới hả dạ, nếu không ta quyết không phải người!...

Lúc này chỉ thấy mắt Sở Canh trợn ngược lên, tay trái máu me lênh láng, thế kiếm nhoang nhoáng như những tia chớp của cơn giông tố, tiếng gió vùn vụt, oai thế tuyệt luân, khiến cho Phổ Kiên kinh hãi trong lòng không ít, chàng không ngờ rằng sau khi Sở Canh bị thương như thế mà vẫn còn sức hung hăng như vậy. Vội thu ngay những ý nghĩ khinh địch của mình lại lo đối phó, nhưng vẫn không sao chịu nổi những đòn đánh như bài sơn đảo hải của đối thủ, chàng phải rời bước thối lui hoài!

Thình lình Phổ Kiên tung mình vọt bổng lên không, lưng chừng chàng vung đường kiếm biến thành như một cây dù trắng xóa, đánh thắng xuống đầu Sở Canh. Đây chính là ngọn tuyệt kỹ trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt mà Bắc kiếm Phổ Côn đã xưng là Thiên Hạ Đệ Nhất Kiếm và được mệnh danh là Hoa cái kiếm, quỉ dị vô ngần, oai lực không thể nào tưởng nổi. Công lực của Phổ Kiên chỉ bằng hai ba phần mười của cha là Bắc Kiếm, nhưng chàng sử dụng đến thế đánh này cũng không phải là thường phàm gì. Sở Canh chỉ có một tay sử dụng kiếm, may nhờ có thần lực trong người, ngay lúc đó vội đổi ngay tấn đứng vững chắc hơn, dồn hết nội lực của mình lên cánh tay, chuyển vận thanh kiếm như bay và dùng ngay đến thế Tuyết hoa bàn đỉnh (tuyết bám đỉnh đầu) để tự bảo vệ lấy thân mình. Từ trên không, Phổ Kiên liên tiếp phạt ra ba đòn, ánh kiếm tua tủa, nhưng Sở Canh đã giữ kín mít, nên không việc gì. Công lực của Phổ Kiên chẳng qua chỉ có thế, phần thì lơ lửng trên không đã lâu, nội lực không thể nào kéo dài thêm được, đành phái vèo thân xuống đất. Sở Canh cảm thấy sức uy hiếp trên đầu đã không còn, tinh thần phấn khởi ngay, quên cả vết thương hai ngón tay bị cụt của mình, chàng nổi thùng lên, thế nào cũng phải bửa chết Phổ Kiên mới chịu! Chỉ nghe hắn hự lên một tiếng âm thầm, lại mở ra những đường chém bửa túi bụi để truy sát địch thủ.

Phổ Kiên càng lúc càng hoảng người, lập tức thấy yếu thế hẳn! Phổ Kiên đành ỷ hết vào thân pháp lanh lẹ của mình để đối phó, chàng cố liều tiến sát vào thân Sở Canh, thình lình giơ chỉ ra, để tính điểm vào Kỳ môn huyệt của Sở Canh.

Nhưng phổ Kiên đã tính lầm nước cờ, Phích lịch nhị lang Sở Canh là người tuy thô kệch ngốc nghếch, nhưng trong lúc giao đấu với thiên hạ, tâm tư của hắn lại vô cùng lanh lẹ, động tác cũng mau vô cùng, mới thấy đối phương nhích thân mình, Sở Canh đã nhận ngay ra. Sở Canh vung ngay kiếm đỡ ngay thượng bàn, tay trái giơ ngay lại phía sau Phổ Kiên, chàng tính hét lên một tiếng lấy oai, nhưng bỗng sực nhớ đến nhị cô nương đã dặn là chớ làm ồn để kinh động mọi người, nên Sở Canh chỉ khẽ hừ lên một tiếng, và tay trái sẵn thần lực của Sở Canh, đã nhoáng lên một cái quắp chặt ngay Phổ Kiên. Chàng Phổ Kiên chỉ cảm thấy toàn thân của mình như bị con trăn khổng lồ siết chặt, lồng phổi lập tức cảm thấy ngộp thở, và cây kiếm của Sở Canh đã từ trên ngực của Phổ Kiên rút ra! Máu tươi bắn vọt ra thành vòi!

Phổ Kiên chỉ cảm thấy mắt mình tối sầm hết lại! Trong lúc hấp hối chết, phổ Kiên vẫn không giữ lời tín dụng của mình, hắn cố há miệng cắn và gào la. Sở Canh sợ gây nên tiếng kinh động mọi người biết thì rầy rà, hắn lật đật đưa ngay nắm tay hộ pháp của mình bịt ngay miệng Phổ Kiên lại, nhưng phổ Kiên đã cố dồn hết tàn lực của mình cắn mạnh vào nắm tay của Sở Canh trước khi nhắn mắt lìa trần, lẽ đương nhiên cái đau này gấp trăm lần cái đau bị đứt hai ngón tay vừa rồi. Nhưng Sở Canh quả không hổ là anh hùng gan dạ, cố cắn răng chịu đựng, và thình lình giơ luôn quả đấm của mình, nhắm ngay đầu Phổ Kiên thoi mạnh xuống, thế là đời Phổ Kiên bị kết liễu một cách rất ngớ ngẩn. Sở Canh quăng ngay cái thây ma xuống đất, nhìn lại bàn tay trái của mình máu me bê bết và đau nhức khó chịu, nhưng vẫn không hề lên tiếng than van chút gì!

Nhìn kỹ thân mình, máu của Phổ Kiên đã loang cùng người, thậm chí cả trên mặt cũng có. Và Sở Canh đã tuân theo lời của nàng Liễu Mi dặn, kéo ngay thây ma của Phổ Kiên lôi sềnh sệch vào lối hầm mỏ, đến nơi chàng không thấy Liễu Mi đâu, chắc là nàng đã vào trong mỏ, và nàng đã dặn mình chờ nàng tại đây!

Sở Canh ngoài trừ nghe lệnh của Thanh Thông Bang, Liễu bang chủ ra, người thứ hai có thể để cho hắn phục lệnh chỉ có riêng mình Liễu Mi mà thôi, vì Sở Canh đem so sánh hai chị em nhà họ Liễu, cô chị tà dâm đáng ghét bao nhiêu thì cô em đoan trang đứng đắn dễ thương bấy nhiêu, đối với nàng Liễu Mi, Sở Canh chiều ý nàng triệt để, chưa bao giờ cưỡng lại ý nàng! Hoàn toàn vì mến thích tính tình của nhị cô nương mà ra! Sở Canh bèn giấu ngay cỗ thây ma của Phổ Kiên vào một xó tối, nhìn những máu me dính trên người mình, thế nào tí nữa nhị cô nương thấy cũng trách mắng. Nghĩ lui nghĩ tới, Sở Canh quả nhiên nghĩ ra được một cách là lộn trái quần áo lại mặc, quả nhiên dấu máu bớt đi nhiều! Vậy là Sở Canh yên trí ngồi canh tại cửa đường hầm vào mỏ.

Nhắc về nàng Liễu Mi vào trong hầm mỏ, càng đi vào càng thấy rộng, và trong mỏ dùng toàn những trụ gỗ lớn để chống đỡ, đi được một chập, nàng phát giác trên tường có treo những những ngọn đèn lồng, nhờ ánh sáng đó, Liễu Mi phát giác một nơi tập trung dụng cụ khai mỏ, nhưng số năm sáu trăm người khai mỏ mà theo như lời kể của Vân Cư Sĩ thì chẳng thấy có mống nào cả, nàng cảm thấy rối loạn trong lòng mình. Nghĩ thời gian kéo dài, thế nào bốn phái bên ngoài sẽ tuyển người vào hầm mỏ để bắt người, nếu không nhân cơ hội tìm ngay Hầu Hạo trong lúc này, bỏ lỡ dịp may, hậu quả khó mà lường được sự tai hại của nó! Nàng càng căng thẳng trong tâm trí lại càng sáng suốt bình tĩnh, rời ngay hầm mỏ, tìm sang phía khác. Chắc thế nào đám người khổ lực ấy nghỉ ngơi một nơi nào. Nàng đổi ngay hướng khác, bỗng nàng nghe có tiếng ngáy, trong bụng mừng rỡ, nàng lần theo tiếng ngáy mò đến, tiếng ngáy càng lúc càng rõ, thình lình nàng thấy có một cửa lớn, dưới ánh đèn le lói của những ngọn đèn lồng, nàng thấy một cảnh địa ngục của trần gian hiện ngay trước mắt mình, chỉ thấy đây là một thạch thất lớn lao. Bốn vách đều treo đèn lồng dưới ánh sáng yếu ớt Liễu Mi thấy hai hàng người nằm chỉnh tề đôi bên trên mặt đất, tiếng ngáy vang khắp trong đại thạch thất này. Năm sáu trăm mạng người chen nhau chung một ngôi thạch thất thế này, vô tình đã gây nên một mùi không khí khó chịu của hơi người, nhất là trên thân các người này lại lem luốc bẩn thỉu, quần áo rách tươm, chắc là sau khi làm việc mệt nhọc, họ đã vùi đầu ngủ ngay, nên các mùi hôi thối trong mình đã tiết ra một mùi hỗn hợp kinh khủng... nàng Liễu Mi đã suýt bị oẹ nôn mấy lần...

Nhưng rút cuộc nàng cũng cố gắng bước vào để rồi nhìn từng khuôn mặt một hầu tìm ra Hầu Hạo, nàng cố gắng đè nén nỗi lòng kinh tởm của mình đối với cảnh địa ngục trần gian trước mắt này, nàng nghĩ đến chuyện Mục Liêu cứu mẹ trải qua biết bao nhiêu gian khổ dưới địa ngục, nay mình nửa chừng bỏ cuộc, chẳng phí hết bao nhiêu công trình sao? Thế là nàng cố dồn hết nghị lực của mình để duy trì, và chẳng mấy lúc nàng đã thấy tội nghiệp cho những người khổ lực tại mỏ đồng đây, một lòng trắc ẩn nổi lên trong lòng nàng nữ hiệp, dần dần nàng quên hẳn cảnh rùng rợn và mùi hôi khó chịu!

Chỉ thấy tà áo nàng phất phơ nhảy lướt trong đám người ngủ say này, nàng chăm chú nhìn kỹ từng bộ mặt một, trong lòng cố nhớ những nét mặt độc đáo của Hầu Hạo!

Thình lình, một tên khổ lực giật mình như bị lạnh. Liễu Mi bất giác động lòng thương, nghĩ đến những người này đều có bố mẹ hẳn hoi, tại sao lại bất công đến thế, khiến cho họ phải sống trong quằn quại đau khổ vậy?

Nàng cởi ngay chiếc áo bào của mình xuống đắp cho tên khổ lực nằm co ro ấy! Nào ngờ tên này thình lình mở mắt ngó thấy Liễu Mi.

Liễu Mi phát giác người tuổi độ 15, 16, mũi tẹt miệng rộng mặt mày lem luốc, hèn gì hắn co ro tựa như con tôm càng lớn, thì ra tuổi hắn còn nhỏ. Thấy vậy Liễu Mi càng đâm thương hại, nàng mỉm cười như để an ủi hắn, nào ngờ cậu bé này suốt ngày chỉ chung sống với những người thô bạo, nay thình lình tỉnh giấc trong cơn mộng, bỗng lại thấy một thiếu nữ nhan sắc đẹp như thế hắn đã tường mình thấy ma, phát hoảng hồn kêu rú lên!

Liễu Mi thất kinh người, nàng cảm thấy phía sau và khắp xung quanh đã có người lao nhao đứng hết dậy, và mấy trăm đôi mắt ấy bị đánh thức bằng tiếng kêu hoảng của thằng nhỏ đã chăm chú dồn hết vào toàn thân của Liễu Mi!

Liễu Mi cảm thấy nguy cơ đã phủ khắp xung quanh mình! Nàng đã nhận ra những đôi mắt thèm khát của tình dục trong đám người khổ lực bị giam hãm lâu ngày, nếu một khi phát ra, thật không thể nào tưởng nổi cảnh hãi hùng của nó! Liễu Mi vốn thông minh, nàng đã phát giác ngay điều đó, tuy võ công nàng tuyệt đỉnh, nhưng đối với năm sáu trăm đàn ông khát tình như lang sói này, nàng không khỏi nơm nớp trong lòng, nàng không dám ngoảnh đầu nhìn lại phía sau, từ từ di chuyển ra phía cửa thất!

Nhưng trong lúc đó nàng vẫn không quên sứ mạng của mình, vừa đi vừa đưa mắt quan sát trong đám người để tìm xem có Hầu Hạo trong này không?

Nhưng nàng cảm thấy tuyệt vọng, nàng nghĩ ngay đến nguy cơ trước mắt, nếu đám người này liều chết ập tới thì nguy, mình dùng ngay khinh công đào tẩu cho yên!

Nàng khẽ thở dài vì thất vọng, và đang sửa soạn tung nhanh mình ra.

Bỗng có tiếng người nổi lên rằng:

- Hãy bắt ngay con bé con lại! Nó sắp trốn đấy!...

Liễu Mi thất kinh, nàng vội hấp tấp vọt ngay lên trên, thế là đám người khắp xung quanh thi nhau chạy tới mấy trăm bàn tay tính bấu nắm thân nàng. Liễu Mi hoảng hồn, từ trên không chuyển nhanh người, chuẩn bị hạ thân xuống, nhưng thấy lô nhô toàn những đầu người đang ùa hết cả về mình, trong lòng trống ngực đánh thình thịch, nếu bây giờ mình hạ thân xuống, chắc chắn là sẽ bị họ xé xác thành muôn mảnh mất! Nghĩ vậy nàng lại vận khí cố vọt thêm lên, phía dưới đã có người nhảy lên, giơ tay lên, soạt một tiếng, tà áo trắng của nàng đã bị xé mất một mảnh, suýt nữa thì người cũng bị kéo xuống, may lúc lâm nguy, nàng vẫn cố trấn tĩnh tinh thần, đề khí vọt lên thêm, và nàng đã ôm chặt trụ gỗ lớn, và cố leo cao lên trên, chuyển nguy thành thế an, liếc nhìn phía dưới, nàng gần như muốn ngất xỉu luôn! Chỉ thấy đám người lô nhô như điên cuồng nhảy múa tưng bừng bên dưới, những kẻ yếu đuối bị chen ngã nằm dưới đất kêu la oai oái thật là một cảnh kinh hãi rùng rợn như lạc vào một thế giới toàn người điên tột độ!

Đám người điên chẳng mấy chốc đã tiến gần đến cột trụ, và những tên mạnh sức đã chen bung ngay lại, và chúng đã leo khắp nơi vai, nơi cổ của đám người lô nhô đến gần trụ, cuộc leo cột đã bắt đầu, nhưng nhờ cây trụ chỉ có thể dung nạp nổi một người nên Liễu Mi nằm trên thuận thế tiện lợi đối địch hơn, và những tên nào kề gần, nàng đều dùng chân đạp mạnh rớt xuống từ người một, nhưng hết tên này ngã, tên khác lại leo lên!

Đám người hầu như đã mất lý trí, chúng nhao nhao nói nhảm nhí khó nghe!

Liễu Mi càng lúc càng cảm thấy tình trạng nguy cấp! Bỗng một tiếng từ ngoài cửa vọng vào:

- Liễu cô nương! Mau! Mau trốn ngay!

Liễu Mi liếc mắt nhìn ngay ra phía cửa, thấy cửa mở lớn, một người ăn mặc theo lối khổ lực, nhìn kỹ thì chính là Hầu Hạo mà mình đang ra công tìm kiếm tử nãy giờ.

Sau khi Hầu Hạo lên tiếng gọi, lập tức bị nhóm người phát giác, chớp mắt đã có mười mấy tên nhào tới như ong vỡ tổ, đè ngay chàng xuống đất, và trận đòn đấm đá như mưa tới tấp xuống thân chàng. Hình như Hầu Hạo mất hết công lực trong mình, nên chàng không hề ra tay chống chọi lại được.

Bỗng một tiếng thét vang lên, Liễu Mi như con chim bay ụp xuống, song chưởng vung bừa ra, những tên xúm gần Hầu Hạo thình lình bị đánh mạnh, chúng chạy toán loạn như đàn chuột.

Liễu Mi vội đỡ ngay Hầu Hạo dậy, nhoáng một cái toàn thân đã vèo nhanh ra cửa ngõ. Phía sau có tiếng người đuổi quát:

- Chớ để cho con bé nảy thoát thân! Mau giữ ngay nó lại!

Liễu Mi nổi giận, ngầm vận ngay nội lực, tay trái lo quắp Hầu Hạo, tay phải vung ra một chưởng, năm sáu mạng tiến gần nhất bị đánh thốc hết ra phía sau!

Năm sáu tên vừa ngã xuống mặt đất, nhưng tên khác đã leo ngay lên thân xác đồng bạn tiến lên, la hét như điên đuổi tới.

Ngay trong lúc đó Liễu Mi đã quắp Hầu Hạo nhảy ra đến ngoài cánh cửa!

Ra khỏi cửa, nàng vội đóng ngay cửa sập lại, may cửa này vô cùng kiên cố, bên ngoài lại có then cài bằng sắt hình như đã đặc biệt chế ra để sử dụng với đám người điên này!

Bên trong, đám người cố sức đẩy cửa. Bên ngoài nàng Liễu Mi cố sức khép và khó nhọc lắm nàng mới hạ được then sắt xuống.

Sau khi nàng hạ được then sắt xuống, trong lòng hết lo, nàng thở dài khoan thai, nhưng tai nàng không khỏi nghe những tiếng chửi rủa ầm ầm bên trong, và thỉnh thoảng ngửi thấy những mùi hôi hám bên trong đưa ra!

Sau khi chấn tỉnh lại phong độ hồi hộp vừa rồi của mình, Liễu Mi mỉm cười nhìn Hầu Hạo, thấy chàng đang kinh ngạc ngó mình, Liễu Mi cười rằng:

- Chúng mình đi thôi!

Hầu Hạo miễn cưỡng bước đi, chàng gượng cười rằng:

- Đa tạ Liễu cô nương đã cứu tôi! Nhưng cô làm sao đến được đây vậy? Thế còn Thượng Quan Linh sư đệ đâu?

Liễu Mi nghe hỏi như dao cắt trong lòng, nàng lập tức cúi đầu nức nở xúc cảm! Hầu Hạo thất kinh vội hỏi:

- Kìa Liễu cô nương! Sao thế? Trong mình cô khó chịu sao?

Liễu Mi miễn cưỡng ngửng đầu lên rằng:

- Không có gì đâu! Thôi chúng ta đi vậy! Nếu bọn họ vô đây thì hỏng chuyện mất!

Hầu hạo vốn trốn thân trong hầm mỏ này nên không biết tin tức gì bên ngoài, nghe nàng nói họ, không biết là chỉ đám người nào? Lại càng không biết sư đệ Thượng Quan Linh ra sao? Hầu Hạo nghi hoặc trong lòng, nhưng thấy thần sắc khẩn trương của nàng Liễu Mi lại không tiện hỏi nhiều.

Hai người vội vàng rời ngay khỏi hầm mỏ, khi ra đến cửa hầm, Hầu Hạo thấy có một gã thiếu niên lực lưỡng, tay cầm kiếm đứng gác bên ngoài như đang chờ đợi ai.

Vừa thấy mặt nàng Liễu Mi, hắn mừng lên rằng:

- Kìa nhị cô nương đã ra đấy sao? Ý! Người này là ai kia?

Liễu Mi vắn tắt trả lời:

- Là bạn thân của ta, anh không cần phải hỏi nhiều, và chúng ta đều có trách nhiệm bảo vệ anh ấy!

Quả nhiên Phích lịch nhị lang Sở Canh không hỏi lôi thôi thêm gì nữa, nhưng gã đưa mắt nhìn về nơi cỗ xác của Phổ Kiên. Liễu Mi bèn bảo Hầu Hạo đi thay ngay quần áo của Phổ Kiên mặc vào!

Lúc này Liễu Mi thấy tay Sở Canh vẫn nhỏ từng giọt máu, tuy hắn đã xé vải cuốn tạm lại. Liễu Mi xé ngay một mảng vải rằng:

- Qua đây tôi băng bó lại cho nào!

Sở Canh ngoan ngoãn để cho nàng băng bó, lúc này Sở Canh mới thấy rõ áo sống trên người Liễu Mi bị rách tứ tung, và chiếc áo choàng của Liễu bang chủ đã khoác trên người nàng không biết đã biến đâu mất, thấy nhiều chỗ đã hở da trắng nõn ra!

Tuy thấy thân thể của nàng, Sở Canh vẫn không hề gợi một ý tà niệm gì, bất giác lên tiếng hỏi rằng:

- Nhị cô nương! Cô đánh nhau với người ta đấy à?

Liễu Mi gật đầu.

- Sao cô không gọi tôi?

Sở Canh khi nói câu này làm như mình chắc thắng lắm, còn có ý trách Liễu Mi không kêu gọi mình, để đến nỗi áo đẹp bị rách nát! Thấy nàng không nói gì, Sở Canh lại báo với nàng rằng:

- Vừa rồi có ba người đến cửa hầm đây dòm ngó, và toàn là người trong nhóm hòa thượng kỳ quái ngoài kia cả! Họ chưa hề phát giác ra tôi! Chúng nhìn lơ láo một chập rồi bỏ đi ngay!

Chương 52: Tiếng cười nhiếp hồn người

Liễu Mi lập tức nghĩ ngay rằng: họ đã bắt đầu cuộc thám thính, chỉ nội trong chốc lát, sau khi nhận được sự báo cáo của ba tên hòa thượng, thế nào họ cũng rầm rộ kéo vào đây. Lúc này Hầu Hạo đã thay xong quần áo của Phổ Kiên, Liễu Mi bước ngay lại dìu thân chàng, và nàng rỉ tai Hầu Hạo khẽ nói nhỏ:

- Anh hãy cúi sát đầu xuống, và phải vờ như kẻ bị thương, và nhớ là đừng nên mở miệng nói chuyện, chúng ta ráng để đánh tháo ra trong lúc này!

Ba người hấp tấp ra, Sở Canh đi trước, Liễu Mi lo dìu Hầu Hạo theo sau, bỗng nàng lên tiếng nói với Sở Canh rằng:

- Sở đại ca ơi? Nay người bạn của tôi giả làm vai Phổ Kiên! Anh biết ý tôi chứ?

Nào hay tên Sở Canh chuyến này lại giở quẻ, chỉ nghe hắn ấp úng rằng:

- Nhị cô nương!... như thế... như thế không phải cô đang xúi tôi nói láo đấy sao? Cô cũng biết tính Sở Canh tôi xưa nay đâu có biết nói láo bao giờ đâu?

Liễu Mi cuống lên, vì nàng biết sắp sửa chạm trán với bốn phái nhân mã ngoài cửa núi, nếu chuyện bị lộ tẩy, mọi việc đều tiêu tan, xưa nay tên Sở Canh vẫn chịu nghe lời mình răm rắp, bảo đâu nghe đấy, không biết hôm nay sao hắn lại động chứng đến thế!

Con gái của Thanh Thông Hội đâu phải thứ hiền gì, ý nghĩ giết đã nổi lên trong đầu óc nàng. Nàng từ nhỏ sống trong Thanh Thông Hội, tuy đây không phải là một bang hội tà ác gì, nhưng đối với sự giết người, quả là một chuyện rất bình thường, nhất là nàng được mục đích luôn luôn!

Cũng như nàng để Sở Canh giết Phổ Kiên, hay ngược lại Phổ Kiên giết Sở Canh, chính nàng cũng không biết ai thắng và ai bại, miễn sao bên nào chết cũng thế, và nàng chỉ cần bộ đồ trên thân thể của kẻ bị giết là đủ rồi. Đương nhiên nàng cũng muốn người phe cánh của mình thắng, nhưng ý niệm ấy lướt nhanh qua óc nàng rất nhẹ nhàng. Và ngay trong lúc này, Sở Canh vẫn không phòng hờ đến sau lưng mình đang ẩn hiện nguy cơ, và không ngờ rằng Nhị cô nương đã có ý giết ngầm mình để trừ hậu họa. Nhưng Hầu Hạo đã như cố tình loạng choạng để cho Liễu Mi phải dìu đỡ mình, nhưng tự trong lòng nàng cũng cảm thấy mình không nên hành động tàn nhẫn thế, chỉ nghe nàng thở dài. Ngay lúc đó đằng trước có tiếng chân người đến, Liễu Mi đành rắn đầu, vội khẽ gật Hầu Hạo cúi đầu xuống, và vẫn bình tĩnh dìu chàng đi tới!

Bỗng Sở Canh quay nhanh lại người rằng:

- Nhị cô nương, tôi biết người này là ai rồi? Chính hắn là người mà mọi người đang muốn tìm đây!

Liễu Mi nghe nói thất kinh, giơ ngay chưởng bên phải ra, tính bửa mạnh ra phía Sở Canh... phích lịch nhị lang Sở Canh vẫn tỉnh bơ rằng:

- Nếu họ không hỏi đến tôi, lẽ đương nhiên là tôi không đời nào nói ra, và tôi cho rằng đã là bạn của Nhị cô nương, thế nào cũng là người tử tế cả, tôi biết...

Liễu Mi thở dài rút ngay thế đánh của mình về.

Sở Canh lại rằng:

- Nhưng từ khi biết khôn đến nay, tôi không bao giờ nói láo, nếu có người lại hỏi tôi, có lẽ tôi sẽ làm thinh luôn, nhưng nếu lão bang chủ hỏi đến, tôi không nỡ nào nói dối với bang chủ được... tôi... tôi chỉ còn nước khai thật hết, nếu Nhị cô nương muốn giết tôi, tôi cũng không thể nào nói láo với Liễu bang chủ được!

Đối với loại người quá trung thực này, Liễu Mi cũng đành chịu thua, nàng chỉ nhẹ tiếng nói rằng:

- Thôi cũng được! Nhưng bây giờ anh phải nín thinh ngay!

Trước mặt, một đám tăng lữ tiến tới, có đến trên mười người, người dẫn đầu chính là Vân Cư Sĩ và Hải Không đại sư. Chắc chắn là ba nhóm kia lo chấn giữ ngoài cửa núi, còn nhóm của Vân Cư Sĩ lo vào tìm bắt người. Liễu Mi không chờ họ lên tiếng hỏi trước, nàng bèn lên tiếng ngay rằng:

- Thưa Vân Cư Sĩ thúc thúc, đường bên có khó đi thật? Lại lắm rắn rết, phần thì tối om không thấy, thúc thúc xem, chính Phổ Kiên huynh đã bị ngã thương như thế này, và tay của Sở đại ca cũng bị loài rắn gì không biết cắn đứt mất hai ngón tay! Trông kinh quá!

Quả nhiên Vân Cư Sĩ bị nàng lừa, bèn lên tiếng rằng:

- Vậy mau ra cửa núi đi! Ở đó có sẵn thuốc men để chữa vết độc mau!

Sở Canh thấy Liễu Mi nói dối lừa người ta như vậy trong lòng bất an, rõ rằng mình bị kiếm chém mất hai ngón tay mà nàng lại nói là mình bị rắn đớp mất hai ngón, nhưng không dám lên tiếng cải chính trong lúc này. Chỉ nghe Liễu Mi rằng:

- Dạ thưa thúc thúc, phải chăng các ngài đi vào trong mỏ đó không?

Vân Cư Sĩ đang cùng với đám hòa thượng tiến bước vào hầm mỏ, nghe Liễu Mi hỏi bèn quay ngay đầu lại rằng:

- Đúng thế! Liễu cô nương có muốn vào trong chơi cho biết không?

Liễu Mi cười rằng:

- Dạ không! Tôi còn phải đi tìm thân phụ tôi, xin chào thúc thúc!

Đám người đi xa, thế là nàng Liễu Mi tạm thoát được một trận đầu, nghĩ đến tình thế giấy không thể nào đem gói được lửa, nhất lả khi nghĩ đến cỗ tử thi của Phổ Kiên và then cài cửa của đám khổ lực trong hầm mỏ, không chóng thì chầy, thế nào cũng bị lộ tẩy, nhưng khổ cái đây chỉ có mỗi một con đường độc đạo có thể đi, phía cửa núi lại có nhóm thủ hạ của cả phái canh giữ, nếu muốn trốn khỏi dưới làn mắt của họ đâu phải là dễ. Liễu Mi vừa bước đi vừa lo nghĩ kế để gỡ rối, khi ra đến nơi, lập tức có người phát giác ngay. Thanh Thông bang chủ Liễu Khải, Bắc kiếm Phổ Côn vội hấp tấp kinh ngạc đứng dậy. Liễu Khải vội bước lại, Bắc kiếm Phổ Côn đưa tay ngoắt ngay Tư Đồ Cống hấp tấp bước lại thăm hỏi.

Liễu Khải lên tiếng hỏi rối rít:

- Con cha sao thế! Xảy ra chuyện gì vậy?

Liễu Mi tươi cười rằng:

- Dạ không có chuyện gì, anh Phổ Kiên bị té nặng, nghỉ ngơi chút chắc khỏe ngay, nhưng tay của Sở đại ca đã bị rắn cắn đứt ngón tay, trông kinh lắm! Cha cho con xin chút thuốc con băng bó cho anh ấy ngay!

Nói xong nàng dìu ngay Hầu Hạo tới một phiến đá gần ngay đó ngồi xuống nghỉ ngơi, tên Tư Đồ Cống thấy vậy hấp tấp quay về cạnh Bắc kiếm Phổ Côn.

Liễu Mi lo săn sóc cho hai người, hình như nàng không muốn cho ai nhúng tay vào trong việc này, trong đám người có mặt tại đây, nhất là những chàng trẻ, đều cho rằng Phổ Kiên khéo tu kiếp trước lắm nên nay mới hân hạnh được người săn sóc tận tụy như thế, ai nấy đều cho rằng chàng tốt phúc quá! Còn phần Bắc kiếm Phổ Côn, thấy Liễu Mi lại quí mến con mình như vậy, trong lòng sung sướng vô ngần, nhất là thấy nàng lấy áo đắp lên mặt cho con mình, Thanh Thông bang chủ vội lấy ra một áo khoác đưa cho con gái mặc cho ấm!

Tuy may mắn tránh khỏi tai mắt mọi người trong lúc này, nhưng sau này liệu tính làm sao? Nếu muốn trốn thoát trước mắt mọi người đây, đâu phải là chuyện chuyện dễ dầu gì.

Nàng liếc nhìn về phía cây mà Nam bút Gia Cát Dật đang trốn, nhưng khoảng cách quá xa nhìn không rõ! Tuy nàng là kẻ thông minh tuyệt vời xưa nay, nhưng lúc này cũng nghĩ không ra được mưu kế gì hay hơn. Bụng nghĩ lúc này không thể nào kéo dài thời gian thêm được, bất luận sao cũng phải thoát thân ngay đây mới được, nghĩ lui nghĩ tới, vẫn chưa có kế hoạch gì!

Trớ trêu thay ngay lúc này Bắc kiếm Phổ Côn lại lững thững bước lại để thăm bệnh tình của con mình.

Chỉ Bắc Kiếm lên tiếng gọi:

- Kiên con?...

Không thấy trả lời, vội cúi xuống nói:

- Phổ đại ca ơi! Lệnh tôn đang gọi anh kìa!

Hầu Hạo cố sửa giọng ừ một tiếng cho qua chuyện. Nhưng Bắc kiếm Phổ Côn đã tự lẩm bẩm rằng:

- Trời ơi hình như nó bị ngã nặng lắm sao mà khản cả tiếng như vậy?

Nói xong bước lại tính giở ngay chiếc áo ra xem con mình bị thương như thế nào. Liễu Mi quýnh lên, chợt nàng nghĩ ra được một kế, vội rằng:

- Thưa sư bá! Anh Phổ Kiên bị sướt nơi má, đã thoa thuốc, mà loại thuốc này phải kỵ gió!

Câu xưng hô Thưa sư bá! quả đã sinh hiệu lực vô cùng, Bắc kiếm Phổ Côn vốn đã thích sẵn nàng Liễu Mi, nay thấy nàng xưng hô thân mật với mình như vậy càng thích trí cười ha hả rằng:

- Làm phiền cháu quá! Sau này thằng Kiên nó khỏi hẳn,... hà hà... những bọn trẻ các cháu nên tìm nhiều cơ hội để gần gũi nhau thêm... Ha ha! Ha...

Câu nói của Phổ Côn còn ngầm chứa một ý nghĩ khác làm sao mà nàng Liễu Mi nhận không ra, trong lòng bất giác rủa thầm: Lão già nằm mơ hão huyền mà thôi, ngài đâu có hay là đứa con cưng của ngài đã chầu diêm vương rồi, đáng cười thật! Tuy nghĩ vậy, nhưng nàng không dám ngang nhiên buông lời xúc phạm đến vị già tuổi trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt này, bề mặt nàng vẫn vờ e thẹn, khiến cho Bắc kiếm Phổ Côn càng tỏ vẻ hài lòng mát ruột, chỉ thấy Bắc kiếm Phổ Côn cười ha hả quay thân bỏ đi về vị trí của lão. Thanh Thông bang chủ lại không vừa ý với lối cư xử của con gái mình với Bắc Kiếm như thế, nay thấy Sở Canh đứng ngẩn bên cạnh như kẻ mất hồn, bèn lên tiếng hỏi ngay rằng:

- Sở Canh! Vết thương của nhà ngươi cảm thấy sao?

Sở Canh thất kinh giật mình bèn rằng:

- Tiểu điệt cảm thấy đỡ nhiều lắm rồi!

Liễu Khải vẫn quan tâm hỏi:

- Nếu là bị rắn độc cắn cần phải băng bó bằng thứ thuốc khác đấy?

Phích Lịch Nhị Lang xưa nay chưa bao giờ nói dối với vị bang chủ của mình, nay nghe hỏi, trong lòng không khỏi hồi hộp lúng túng, không biết nên nói sao?

Liễu Mi chỉ sợ đổ bể chuyện ra, nàng bèn lên tiếng rằng:

- Thưa cha! Con ấy không phải loại rắn có độc, và chính tay con đã giết được con rắn ấy!

Nhưng Thanh Thông bang chủ vẫn không yên tâm hỏi rằng:

- Con chớ nên coi thường, vì trong đêm tối đây làm sao có thể nhận rõ đích xác được. Này Sở Canh, thế ngươi có thấy nơi bị cắn tê ngứa không?

Sở Canh thành thật nói:

- Dạ không! Chỉ cảm thấy tê nhức từng chút một!

Thanh Thông bang chủ lấy làm lạ hỏi rằng:

- Tê nhức từng chút, từng chút như thế, đó là lối đau nhức của vết thương đao kiếm? Quái lạ!?

Bị nói trúng tim đen Sở Canh chỉ cảm thấy mặt mình nóng bỏng lên, Liễu Khải vốn là kẻ bang chủ, đôi mắt tinh đời chẳng phải tầm thường gì, lão anh hùng nghi ngay có chuyện gì mờ ám, bèn lên tiếng hỏi ngay:

- Sở Canh! Nhà ngươi đã giao tranh với ai? Mau nói thật ngay ra!

Sở Canh lục thần vô chủ, chàng quýnh lên ngó Liễu Mi, rồi đưa tay khẽ chỉ vào thân Hầu Hạo đang nằm dưới đất, lúng ta lúng túng, sắp sửa khai toạc hết.

Liễu Mi đứng cạnh trả lời hộ rằng:

- Dạ thưa cha, Sở đại ca và Phổ đại ca vì câu chuyện hiểu lầm nên gây cuộc giao tranh, và Phổ đại ca không cẩn thận nên đã lỡ tay đưa kiếm dụng phải tay của Sở đại ca...

Câu nói này vừa thoát ra khỏi cửa miệng Liễu Mi, ai nấy đều cho ngay rằng đôi bên vì đã ghen nhau nên đã ra tay quyết đấu với nhau, nhưng không ngờ đôi bên đều bị thương cả, nhóm người già thì chẳng nói năng gì, nhưng đám người trẻ thì thào bàn tán cười nói huyên náo, Sở Canh càng đỏ mặt, nhưng lại không tiện phân bua.

Thanh Thông bang chủ tuy là người chiều chuộng con gái nổi tiếng, nhưng lúc này cũng không bằng lòng cho lắm, nhận xét bên ngoài, vết thương của Sở Canh có phần nặng hơn Phổ Kiên là khác, mà Liễu Mi thì chỉ lo chăm sóc cho Phổ Kiên, tuy Thanh Thông bang chủ không muốn can dự đến chuyện riêng của con, nhưng vì từng có xích mích ít nhiều với Bắc kiếm Phổ Côn, lẽ đương nhiên là không muốn con gái mình tỏ ra thân mật với con trai của người ta! Bụng lão anh hùng nghĩ: Con gái út mình xưa nay đoan trang đứng đắn lắm, không giống con chị nó chút nào cả, sao hôm nay lại giở chứng giờ quẻ kỳ lạ thế này? Khiến cho hai thằng con trai đấu với nhau vì ghen tuông! Trước mặt hai phái hữu danh của Phổ Côn Bắc Kiếm và phái Điểm Thương, lão anh hùng cảm thấy hơi bị ngượng mặt!

Lúc này lại thấy Liễu Mi cứ xoắn xít bên cạnh Phổ Kiên, bất giác trong lòng đâm bực mình, nói ngay rằng:

- Liễu Mi! Con hãy qua đây!

Liễu Mi đành lủi thủi bước sang đứng bên cạnh cha mình. Bắc kiếm Phổ Côn bước tới một bước lạnh lùng rằng:

- Này lão già họ Liễu kia, ông muốn nhiều chuyện sao? Nếu thằng con tôi có mệnh hệ nào, thế nào ta cũng bắt thằng họ Sở kia đền mạng cho mà xem! - Dứt lời tính bước lại khám xem người con của mình bị thương ra sao!

Liễu Mi hú vía hoảng hồn, vội phi thân lại ngăn cản rằng:

- Kẻ bị thương không thể nào thấy gió được!

Bắc kiếm Phổ Côn càng đâm nghi con mình bị thương nặng, lạnh lùng rằng:

- Xin tiểu cô nương hãy tránh xa, tôi muốn xem nó bị thương những chỗ nào cho biết!

Dứt lời, ống tay áo khẽ phất gạt Liễu Mi, rồi cúi xuống, ngay lúc này, Liễu Mi đưa mắt nhìn cho Sở Canh chuẩn bị ứng biến. Đang lúc nguy cơ đằng này tính bộc phát, bỗng đằng xa có tiếng vọng lại rằng:

- Thôi hỏng hết chuyện hết! Thằng nhãi con ấy đã trốn thoát mất rồi!

Mọi người kinh ngạc nhao nhao lên, Bắc kiếm Phổ Côn ngừng ngay tay đứng dậy.

Chỉ thấy Vân Cư Sĩ dẫn theo một đám tăng lữ, chạy như bay về, đến trước mặt mọi người thở hổn hển rằng:

- Hỏng chuyện! Hỏng chuyện? Thằng nhãi ấy đã bị một đứa con gái cứu thoát! Đồng thời Phổ Kiên đã bị người ta giết chết? Cả đến đám người khổ lực trong mỏ đồng cũng chết khá nhiều, chúng khai rằng: tướng dạng của thiếu nữ ấy là... - Nói tới đây giơ ngay chiếc áo choàng lên, rõ ràng là vật tùy thân của Liễu bang chủ. Hải Không đại sư có bổ túc nhấn mạnh thêm rằng:

- Và người con gái không ai khác hơn là chính Liễu cô nương, chính chiếc áo choàng này nàng đã để lại trong hầm mỏ.

Liễu bang chủ bỗng lên tiếng quát:

- Chớ có nói điên!

Bắc Kiếm Phổ Kiên thình lình quay nhanh lại, nhưng Liễu Mi và người xưng là Phổ Kiên dưới đất đã biến mất. Bắc Kiếm vội phóng tia mắt nhìn thấy hai người chạy chưa bao xa, Phổ Côn bèn lập tức ra lệnh đuổi theo! Ai nấy cắm đầu cắm cổ lo rượt theo, dần dà họ bao vây hết nhóm Thanh Thông Hội vào giữa.

Hầu Hạo công lực chưa khôi phục được, Liễu Mi phải quắp chàng, nên động tác bị cấn cáng không linh hoạt, nay thấy thiên hạ đã gần bắt kịp, Thanh Thông bang chủ Liễu Khải phía sau lên tiếng gọi rằng:

- Liễu Mi con! Hãy ngừng ngay lại, cha sẽ không làm khó dễ con đâu, có điều gì chúng mình thương lượng để giải quyết cho yên ổn!

Bắc kiếm Phổ Côn mắng ngay rằng:

- Lão quỉ già! Con ta đã chết? Vậy thằng khốn kiếp họ Sở phải đền mạng, nếu thằng nhãi này cũng trốn thoát, ba phái bọn ta sẽ hợp nhau lại chống đối và đoạt luôn mạng của lão quỉ già ngay!
Nhóm thủ hạ của Thanh Thông Hội lo yểm hộ lão bang chủ của phe mình, và trong cả ba phái người, đã có nhiều người tay cầm sẵn ám khí lăm le chực phóng ra. Liễu Khải, Sở Canh và các thủ hạ Thanh Thông Hội vội lớn tiếng kêu gọi ngừng tay phóng ám khí, chỉ sợ họ đánh thương nàng Liễu Mi.

Mắt thấy sắp sửa đuổi kịp hai người, bỗng từ trên cây vù một tiếng, thấy một bóng người nhẹ nhàng lướt xuống, toàn thân áo nho sĩ thần sắc trông an nhàn vô cùng. Liễu Khải và Phổ Côn đều ngừng ngay bước tiến của mình và thốt tiếng:

- Nam Bút!...

Lúc này Gia Cát Dật đã khôi phục bộ mặt thật của mình. Lúc này chỉ thấy Gia Cát Dật đưa tay ra chận ngay mọi người và cho Liễu Mi và Hầu Hạo đứng ngay phía sau lưng mình.

Nam bút Gia Cát Dật rất bình tĩnh khoan thai ôm tay thi lễ rằng.

- Liễu bang chủ, Phổ huynh, Hoàng huynh, Cư sĩ huynh đều có mặt tại đây, hân hạnh! Hân hạnh!

Nam bút Gia Cát Dật vốn là một nhân vật lừng danh trong giang hồ, nên Liễu Khải, Hoàng Kha, Vân Cư Sĩ hấp tấp ôm quyền trả lễ. Duy chỉ có Phổ Côn lạnh lùng và ngạo mạn rằng:

- Gia Cát Dật, bộ ngươi muốn che chở thằng tiểu tử đó sao?

Nam Bút trả lời rằng:

- Không đám!

Bắc Kiếm quát lớn:

- Tránh ra! - Dứt tiếng đưa tay chụp ngay Hầu Hạo phía sau Gia Cát Dật!

Nam bút Gia Cát Dật ra tay gạt ngay, Phổ Côn rụt nhanh tay của mình về, không dám đối chọi thẳng, vì chính Bắc Kiếm cũng e ngại lỡ bị yếu thế thì còn gì thanh danh trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt nữa.

Nam bút Gia Cát Dật hỏi rằng:

- Dám hỏi Phổ huynh, huynh muốn bắt tên thiếu niên này để làm gì?

Phổ Côn tức gần như muốn bốc khói trong người, ngày thường, Gia Cát Dật đối với mình vẫn kính nể, không ngờ hôm nay y lại tỏ vẻ cưỡng ý mình như thế, sắc mặt Bắc Kiếm từ đỏ chuyển sang tái, không biết nên nói sao cho hả cơn giận!

Vân Cư Sĩ đứng cạnh thấy vậy bèn trả lời thay:

- Thiếu niên này có quan hệ với Độc chỉ Thôi Bác, chúng tôi bắt nó, thế nào Độc chỉ Thôi Bác cũng phải đánh đổi với chúng tôi bất cứ bằng giá nào!

Nam bút Gia Cát Dật lạnh lùng rằng:

- Vậy các vị muốn người ta lấy gì để đánh đổi, tuy là vị Độc chỉ Thôi Bác là người mà võ công đứng thứ nhất trong thiên hạ, nhưng người ta đâu có của cải gì đâu?

Vân Cư Sĩ chưa kịp trả lời, người chưởng môn của phái Điểm Thương Hận thư sinh Hoàng Kha thở dài rằng:

- Gia Cát Dật ngài đâu có biết gì, trong mười tám thứ báu vật là Chân châu lũ kim sam và cả hàng muôn ngàn lạng cương (tiền vàng đời xưa), hiện đều nằm trong tay vị Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác hết, như thế mà không gọi là giàu thì thế nào mới bảo là giàu?

Câu nói này đã khai rõ hết những âm mưu của bốn phái, mà đến cả Nam bút Gia Cát Dật cũng ngờ rằng thứ Chân châu lũ kim sam là một bảo vật trong cung cấm của tiền trào, nghe đồn rằng Chân châu lũ kim sam có thể tránh được thủy hỏa, kỵ độc và phòng binh đao, có công hiệu kỳ dị như thế, vốn là vật báu trào cống của ngoại bang, được liệt vào của báu tàng giữ trong đại nội, truyền thuyết rằng: đời Lý Phùng tiến đánh vào Kinh đô, trong cảnh hỗn loạn cướp bóc ấy mười tám thức báu vật trong cung điện bị thất lạc, trong số đó có Chân châu lũ kim sam. Không ngờ thứ báu vật vô giá ấy ngày nay lại lọt vào tay một người được coi như Thiên hạ đệ nhất cao thủ là vị Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, nhưng không hiểu Hầu Hạo có quan hệ gì với vị cái thế kỳ nhân Độc chỉ Thôi Bác mà bốn nhóm người này dám quả quyết là người ta sẽ không tiếc một giá nào để đổi cho bằng được Hầu Hạo.

Nam bút Gia Cát Dật vốn là người thanh tịnh, không hề nổi lòng tham lam, nay thấy bốn phái cùng nhau hợp sức như thế để mưu đồ cuộc trao đổi bất nhân như thế, thì ra họ đều muốn làm giàu. Trong lòng Gia Cát Dật bất giác nổi lên một ý nghĩ khinh khi đối với hành vi ỷ thế khi người của họ càng đâm ngứa mắt trái tai, trong bụng Nam Bút đã quyết nhúng tay vào vụ này!

Bắc kiếm Phổ Côn thừa biết tính tình cương trực của Nam bút Gia Cát Dật, đã là việc nghĩa thì không bao giờ Nam Bút, sợ chết mà không dám ra tay can thiệp, lúc này thấy Nam Bút sau khi nghe lời phân giải của Vân Cư Sĩ, sắc mặt đã hầm hầm lên những nét oai nghiêm chính trực, Phổ Côn biết ngay tính ương ngạnh ngay thẳng của Nam Bút sắp bộc phát.

Biết chắc thế nào Nam Bút cũng can thiệp, Phổ Côn vốn là người nham hiểm và đa trá, ngay lúc ấy tử từ giơ vạt áo bào lên tính nhân cơ hội không đề phòng của Nam Bút, lập tức thình lình thủ tiêu luôn Gia Cát Dật dưới ngọn chưởng của mình.

Nhưng Nam bút Gia Cát Dật đâu phải loại nhân vật tầm thường gì, người đã nhận ngay ra âm mưu đen tối của Phổ Côn, lạnh lùng cười nói:

- Phổ huynh! Không biết Phổ huynh đang có ý nghĩ gì như thế! Mong hãy thận trọng hành vi của mình!

Bắc kiếm Phổ Côn không ngờ bị người ta nhận rõ âm mưu của mình, đành buông lơi vạt áo bào của mình xuống, đứng buồn bã không nói gì.

Nam bút Gia Cát Dật bèn nhìn sang phía Liễu Khải và Hoàng Kha khuyên rằng:

- Thưa Liễu lão gia và Hoàng huynh, nhị vị dù sao cũng là người chưởng môn của một phái, tiếng tăm lừng lẫy trong giang hồ, vậy tại sao lại đi lụy vào chữ lợi làm gì cho khổ thân xác, hơn nữa đó là một việc may mắn thì ít, nguy hiểm lại nhiều, phải biết rằng nhân vật như Độc chỉ Thôi Bác, đâu phải là người dễ dàng đụng chạm tới người ta, nếu chẳng may chuyện gặp trắc trở, lúc đó danh dự lừng lẫy của nhị vị chẳng thành vấn đề lắm sao? Mong nhị vị nên nghĩ cho cẩn thận trước khi hành sự... sự thật, Liễu Khải và Hoàng Kha đều không muốn bị lôi cuốn vào vũng nước đục này, nhưng vì nghe lời mê hoặc của Vân Cư Sĩ, trong số lợi to tát ấy, nên mới động lòng tham và liều thử một chuyến, giờ đây nghe lời khuyên của Nam bút Gia Cát Dật, trong lòng cũng đâm ra do dự cúi đầu suy nghĩ.

Chỉ riêng có Vân Cư Sĩ là không chịu cam tâm, lớn tiếng rằng:

- Này Gia Cát Dật? Tôi mong rằng ông chớ nên xía vào chuyện người ta như thế? Phải biết rằng chúng tôi không thể nào không hành động như thế được. Vì nay thầy trò Độc Ma và lão bà bịt mặt bí mật ấy đã được tin hết cả rồi, thế nào họ cũng cướp đoạt thằng nhỏ họ Hầu này, vậy dù cho chúng tôi có nể mặt Gia Cát Dật tiên sinh đi nữa, nhưng tin chắc rằng tiên sinh cũng tuyệt không thể nào đưa được hắn ra khỏi sơn cốc này, vì đám người Độc Ma cũng sắp sửa đến đây rồi...

Câu nói như nhắc tỉnh mọi người, Thanh Thông bang chủ ôm quyền lên rằng:

- Xin Gia Cát hiền đệ thông cảm cho! Lão phu nay đã nằm trong tình thế tên nằm trong cung không thể nào bắn! - Dứt lời lớn tiếng gọi: - Liễu Mi con, mau dìu ngay Hầu công tử lại phía trước, cha hứa là sẽ không làm khó Hầu công tử đâu, mau!

Liễu Mi nào đâu có chịu, nàng vẫn đứng sau lưng Nam bút Gia Cát Dật lên tiếng rằng:

- Thưa cha! Cha nên về đi, đừng nên chung vai sát cánh với nhóm người bất lương này! Hầu công tử vốn là đồ đệ của Thiên Si đạo trưởng, con nhất định phải bảo vệ cho người ta...

Sau khi nghe câu nói này, mọi người và Bắc kiếm Phổ Côn đều thất kinh, Bắc Kiếm lên tiếng hỏi:

- Rõ là đồ nghiệt chướng! Thế thầy của ngươi bây giờ ở đâu?

Hầu Hạo không trả lời, Bắc kiếm Phổ Côn chỉ sợ hai người nhân có Nam bút Gia Cát Dật yểm hộ rồi trốn thoát bèn ra lệnh hô lên:

- Tất cả hãy tiến lên bắt lấy chúng lại...

Thế là đám người đứng sau Bắc Kiếm và đám tùy tùng của Hoàng Kha ùa hết ra, cả đám hòa thượng Cửu Thiên Tự cũng ập lại...

Nam bút Gia Cát Dật quát lớn:

- Ai dám tiến lên coi!

Không ngờ tiếng quát ấy đã gây nên một hiệu quả mọi người ngừng ngay lại, Bắc kiếm Phổ Côn không còn nhịn được nữa, phất ngay ống tay áo ra, một ngọn kình phong đánh sang Gia Cát Dật, đồng thời lên tiếng rằng:

- Các người cứ việc lên! Ở đây đã có ta!

Liễu Khải, Hoàng Kha, Vân Cư Sĩ, nãy giờ họ chỉ chờ có câu này, và sẵn có Bắc Kiếm lo đối phó với Nam bút Gia Cát Dật, ba đám nhân mã hợp cùng với nhóm người của Tư Đồ Cống mở ngay cuộc bao vây để bắt cho được Hầu Hạo.

Gia Cát Dật thật không thể nào ngờ Bắc Kiếm có thể trở mặt tuyệt tình như thế, trong lòng lạnh lùng hẳn, vận ngay nội lực phát ra, chỉ thấy hai người đang giơ chưởng đối với nhau, không phân thắng bại.

Liễu Mi nhảy đứng ngay trước mặt Hầu Hạo, rút ngay kiếm ra, nàng đã không ngần ngại gì mở cuộc huyết chiến?

Liễu bang chủ run giọng rằng:

- Liễu Mi con! Mau tránh ra, đừng có dại yểm hộ cho hắn thế con ngoan! Hãy nghe lời cha! Con gái ngoan của cha! Tránh đi con!

Liễu Mi chưa kịp trả lời cha, bỗng từ đằng xa truyền đến một tiếng thét thê thảm kinh người, mọi người ngơ ngác kinh hồn!

Vân Cư Sĩ lên tiếng ngay:

- Thôi nguy! Bọn Độc Ma đã đến, tiếng thét thê thảm ấy chính là người canh gác của Cửu Thiên Tự đã phát ra, chắc chúng đã giết...Danh tiếng oai lừng của thầy trò Độc Ma trên Vô ảnh Phong quả nhiên gây được hoang mang tinh thần cho mọi người, trong chớp mắt, tất cả bốn phái đều ngừng hết các động tác tính giao tranh, và ai nấy thấy tự hoang mang rối loạn trong mình. Thanh Thông bang chủ vốn là người tôn chủ của một danh phái có khác, lâm nguy không hề nao núng tinh thần, chỉ thấy lão anh hùng vẫn nghiễm nhiên phát lệnh:

- Tất cả hãy vây nhanh thành một vòng tròn để chuẩn bị ứng chiến?

Thế là từ Bắc Kiếm, Phổ Côn, Hoàng Kha, Vân Cư Sĩ và tất cả các thủ hạ của bốn môn phái đều hưởng ứng ngay lệnh của Liễu bang chủ, ai nấy binh khí trên tay, vây kín mít ngay Liễu Mi và Hầu Hạo vào giữa.

Đương nhiên cuộc tranh chấp của họ với Gia Cát Dật đành phải tạm ngưng ngay lại, vì họ cần phải chung sức hợp lực để đối phó với một đại kình địch ghê gớm sắp hiện ra!

Bắc kiếm Phổ Côn, Nam bút Gia Cát Dật, Liễu Khải, Hoàng Kha, Vân Cư Sĩ, năm người thuộc hạng đệ nhất lưu danh trong giang hồ, bây giờ đều lo cẩn thận phòng vệ cho Hầu Hạo, chăm chú động tĩnh khắp bốn phía. Nhưng xung quanh vẫn im tịnh như tờ, ai nấy hồi hộp như muốn đứt hơi thở vì tình hình quá khẩn trương, và họ đều biết rằng đây là trạng thái tột đỉnh giáo đầu của một cuộc kịch chiến sắp bắt đầu, ai mà không biết sự lợi hại của thầy trò Độc Ma, huống hồ lại còn thêm cả nhân vật mới nổi danh trong giang hồ mà khiến ai nghe đến cũng phải kinh hồn bay vía là lão bà bịt mặt bí mật?

Trong khi mọi người chăm chú chờ đợi, thì Liễu Mi lại cảm thấy khoan thai dễ chịu hơn ai hết, nàng lên tiếng với Hầu Hạo rằng:

- Này Hầu đại ca! Anh quả là người có phúc may mắn lắm nhé! Anh xem! Bao nhiêu là bảo tiêu đang lo bảo hộ anh, trông oai phong thật! Làm vua cũng chưa chắc đã có những cận vệ đắc lực như thế. Số anh sướng thật!

Nói xong nàng thích trí cười khanh khách, Bắc kiếm Phổ Côn vội hét rằng:

- Liễu cô nương có im ngay đi không?

Liễu Khải sợ con mình chạm lòng tự ái vì câu nói Bắc Kiếm vội rằng:

- Con gái ngoan của cha chớ lên tiếng nữa! Kẻ địch sắp đến nơi rồi!

Khu rừng phía cửa núi, vẫn im lặng như tờ...

Thình lình, đằng xa có tiếng cười quái dị nổi lên, mọi người giật mình và lo chuẩn bị ứng phó! Nhưng âm thanh của tiếng cười rất quái lạ, khi bổng khi trầm, lúc nhanh lúc chậm, tiếng cười vang dội khắp vùng, nhiếp hẳn hồn người nghe. Bắc kiếm Phổ Côn biết ngay lợi hại, liếc nhìn mọi người, thấy đã có nhiều người chịu không nổi tiếng cười, Bắc Kiếm vội hạ ngay lệnh:

- Hãy bịt tai lại và phủ phục xuống hết mặt đất?

Lập tức có trên mười người phủ phục xuống mặt đất ngoại trừ năm nhân vật khét tiếng ra, và môn hạ của Bắc Kiếm, Tư Đồ Cống, Ngụy Lục, Sở Canh của Thanh Thông Hội và ba vị hương chủ, Hải Không của Cửu Thiên Tự, hai người của phái Điểm Thương cùng với Liễu Mi có thể đương đầu chịu nổi tiếng cười nhiếp hồn người ấy ra, phần đông đều phải bịt chặt tai không dám nghe.

Rõ ràng tiếng cười ấy không xa lắm, bên này nhiều người chịu không nổi phải bịt tai nằm rạp xuống, người phát ra tiếng cười hình như cũng biết rõ lắm! Vì trong tiếng cười đã tỏ ra đắc ý vô cùng, càng lúc tiếng cười càng có một mãnh lực thu hút tâm thần ghê gớm, kẻ nghe chỉ cảm thấy tâm thần vất vưởng bồi hồi. Thời gian kéo dài, Ngụy Lục và một người của phái Điểm Thương lại bịt tai nằm ngay xuống!

Thình lình tiếng cười dứt hẳn, nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vẳng dội liên miên trong rừng. Mọi người lúc này mới kinh dị tinh thần, biết ngay đám người của Độc Ma sắp hiện thân, ai nấy nơm nớp chuẩn bị.

Bỗng bụt! Bụt! hai tiếng vang lên, tiếp theo là hai vật tròn to hơn trái bưởi bay nhanh lại, Bắc kiếm Phổ Côn vụt mạnh ống tay áo lên quạt văng xa một trái, còn Vân Cư Sĩ đưa tay lên nhận ngay một trái, nhìn kỹ thất thanh rú lên một tiếng kinh hãi. Thì ra đó là hai chiếc thủ cấp kinh khủng tột độ. Mọi người còn đang kinh ngại chăm chú nhìn hai thủ cấp, thì Thanh Thông bang chủ bỗng lên tiếng rằng:

- Hãy coi chừng!

Mọi người quay đầu lại nhìn, thấy cách xa hơn một trượng, hiện ra một đám sáu người... giữa là một liễn xa (loại xe kéo của cung điện), trên xe một nam và một nữ, nam khăn đen bịt ngang mặt, áo cẩm bào huy hoàng, chính là chủ nhân của Ma Cung, còn nữ tay cầm quái trượng, chẳng cần nói rõ cũng biết đó là lão bà bịt mặt bí mật. Bên cạnh liễn xa, bốn người đứng ngay thẳng, hai người bên cánh trái mặt mũi như quỉ sống, chính là Tam Hung Đinh Hủy và Tứ Hung Đinh Phá, hai người bên cánh phải, áo đen và đều bịt mặt, thân hình vạm vỡ, oai nghiêm lẫm lẫm.

Ngồi trên liễn xa, Độc Ma đưa mắt nhìn khắp mọi người cười rằng:

- Chà chà! Hôm nay không biết ngọn gió gì đã thổi thế! Khiến nỗi Bắc kiếm Phổ Côn trong Càn Khôn Ngũ Tuyệt. Thanh Thông bang chủ Liễu lão gia, Điểm Thương chưởng môn Hoàng huynh, đều đã bị ngọn gió thần thổi lại tụ hợp tại đây hết! Cả Nam bút Gia Cát Dật cũng có mặt tại đây! Hay lắm! Hay lắm! Cả cư sĩ lão huynh kia nữa! Những hạng người xuất gia đầu Phật như các người, sao không chịu ở yên trong chùa ăn chay niệm kinh Phật, đến đây làm gì vậy?

Vừa nói Độc Ma vừa ôm quyền thi lễ trên liễn xa, Phổ Côn cùng với mọi người đành ôm quyền lên trả lễ, chỉ riêng lão bà bịt mặt là không nhúc nhích gì cả, luôn luôn nổi lên những tiếng hậm hực lạnh lùng, hình như coi đám người trước mắt này không vào đâu cả!

Đinh Phá nhanh mắt, hắn đã nhận được ngay Liễu Mi và Hầu Hạo, và len lén lại báo cho Độc Ma hay. Lập tức đôi mắt của Ma Cung chủ nhân sáng ngời hẳn lên chiếu vào khắp mặt mọi người đứng trước!

Ma Cung chủ nhân lên tiếng hỏi rằng:

- Dám hỏi chư vị! Một cặp Kim đồng Ngọc nữ trong vòng của quí vị ấy là ai vậy?

Mọi người bị tiếng oai hách của Độc Ma hớp vía, không ai biết nên đối đáp ra sao, riêng Thanh Thông bang chủ Liễu Khải lòng thương con, vội kéo ngay Liễu Mi vào lòng mình trả lời rằng:

- Nó là tiểu nữ của ta?

Độc Ma cười ha hả rằng:

- À ra là lệnh viện (gái danh giá) của Liễu bang chủ cơ đấy, hay lắm, hay lắm! Lệnh viện đã từng đến Phi Các tiên cung của ta làm khách thăm viếng một độ trong khi đó chúng ta đã tiếp đãi chểnh mảng, xin thứ lỗi hải hà cho!

Ma Cung chủ nhân càng khách sáo bao nhiêu, Thanh Thông bang chủ càng hoảng hồn bấy nhiêu, bụng nghĩ: con nhỏ đanh đá chanh chua này sao lại có thể lẩn vào Phi Các tiên cung của người ta kìa!

Tiếng Ma Cung chủ nhân tiếp tục rằng:

- Lệnh viện quả là người thông minh hiếm thấy, ngang nhiên có thể tìm cách lẩn vào trong Phi Các tiên cung, đã thế mà còn dùng thủ đoạn dùng mận thay đào đánh tháo một kẻ trọng phạm trong tiên cung đi mất, tuổi trẻ măng như thế mà thủ đoạn không kém ai, khiến cho bản chủ nhân vô cùng kính phục!

Độc Ma vốn là người nổi tiếng tàn nhẫn ác tâm trong giang hồ, nay trống ngực của Thanh Thông bang chủ không khỏi hồi hộp lo ngại vì Liễu Mi đã gây nên một tai họa tày trời này, ngang nhiên dám trêu cả đến vị đại ma đầu khét tiếng này, quả thật nó đã xem trời bằng vung.

Độc Ma trầm giọng rằng:

- Nói ngay ra, đã là chỗ lệnh viện của Liễu bang chủ, chút chuyện đột nhập vào Tiên cung, bản chủ nhân cũng chẳng muốn truy cứu làm gì, nhưng lệnh viện đã cứu mất tên thiếu niên Thượng Quan, mà thiếu niên ấy chính là nhân vật quan trọng của Lão Lão đây, bây giờ tuyệt nhiên không thể nào để thiếu niên ấy thoát được, vậy mong Liễu cô nương mau nói rõ hiện giờ thiếu niên họ Thượng Quan ấy đâu, để bản chủ nhân đây cũng dễ ăn nói với vị Lão Lão đây cho dứt khoát trách nhiệm!

Mọi người kinh ngạc liếc nhìn sang hết phía Liễu Mi, nhưng chỉ thấy nàng lúc này đưa hai tay lên úp vào mặt khóc hu hu. Trong đám người ở đây, chỉ riêng có Nam bút Gia Cát Dật là biết rõ nội tình bên trong, câu hỏi của Độc Ma vô tình đã làm nàng xúc động, nên nàng đã cất tiếng khóc thảm thương. Nhưng Liễu Khải và Phổ Côn và mọi người khác đều đâm ra ngẩn người, không hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao, Liễu bang chủ ôm ngay con gái cưng của mình vào lòng an ủi rằng:

- Cưng của cha, nín đi con, mọi việc sẽ có cha đứng ra lo cho. Nín! Nín cha thương!...

Liễu Mi càng khóc thảm thương, mọi người ai nấy cảm động bất giác họ lại dồn hết tia nhìn trách oán của mình vào trên người Độc Ma, như ngầm trách Độc Ma không nên truy hỏi chuyện vu vơ gì để đến nổi khiến cô bé khóc thảm thương như thế!

Nhưng Độc Ma vẫn lạnh lùng như tiền đồng, chỉ có vị lão bà bí mật ngồi cạnh bỗng lên tiếng nói rằng:

- Thôi giáo chủ, chuyện ấy tôi đã lo thu xếp ổn thỏa rồi đừng nhắc đến làm gì nữa?

Độc Ma vui vẻ rằng:

- Ha! Ha!... Lão Lão thật là người rộng lượng khoan rung, nói vậy Liễu cô nương không còn chuyện gì rắc rối nữa! và ta cũng nể mặt lão phụ của cô nương, tội đột nhập trong tiên cung của ta cũng không truy cứu làm gì nữa - Nói tới đây, thình lình Độc Ma cất cao tiếng ràng: - Vân Cư Sĩ, còn thiếu niên kia phải chăng là chính do ngươi tìm kiếm ra?

Vân Cư Sĩ lúng túng không biết nói sao, trông chẳng khác nào chuột thấy oai mèo, không dám nhận cũng như không muốn chối!

Riêng Kỳ Liên Sơn Phổ Côn có vẻ hách dịch hơn, thấy Độc Ma hiên ngang oai nghi thế, bèn nghiễm nhiên rằng:

- Đúng thế! Vị thiếu niên này chính là người mà ngươi đang muốn tìm kiếm đây, nhưng tiếc thay nó lại là môn đệ của Tây đao Thiên Si đạo trưởng, như vậy tức là sư điệt của ta, nay dưới sự bảo hộ của ta, ngươi muốn tính chuyện gì?

Thần sắc hiên ngang hùng dũng này lập tức có ảnh hưởng ngay tâm lý của mọi người, về phía Độc Ma không khỏi ngạc nhiên thái độ thình lình của Bắc Kiếm như thế, còn những thủ hạ của bốn phái đang đương đầu với Độc Ma bỗng cảm thấy mạnh bạo hẳn trong bụng. Bầu không khí lúc này vô cùng im lặng, hai bên đã gờm sẵn nhau, cuộc kịch chiến chỉ còn chờ cơ là bộc phát ngay lập tức!

Trên liễn xa, Độc Ma dịu giọng rằng:

- Hừ! Chuyện này mới lạ lùng chứ! Thì ra thằng nhãi này lại là môn đồ của Thiên Si đạo trưởng, chẳng cần phải nói là Nam Bút, Bắc Kiếm đứng ra đỡ đầu cho y, lẽ đương nhiên là hắn không còn coi Phi Các tiên cung của chúng tôi vào đâu nữa!

Thấy sắc mặt của Phổ Côn và Bắc Kiếm vẫn kiên quyết hình như họ không ngần ngại gì để sẵn sàng dự một trận chiến, Độc Ma mỉm cười lại rằng:

- Nhưng còn Liễu lão gia, Hoàng chưởng môn, bộ các ngài cũng muốn nhúng tay vào vũng nước bùn này sao?

Liễu Khải và Hoàng Kha, đều là bực tôn chủ của một phái lừng danh, vì danh dự vì thể diện, đâu có thể chứng tỏ mình hèn nhát trước thế lực, nghe xong cả hai ưỡn ngực ra, khí sắc hiên ngang rằng:

- Người này không thể nào giao ngay cho ngươi được!

Độc Ma lạnh lùng cười quay sang phía Vân Cư Sĩ rằng:

- Nói vậy, chắc cả đến Cư sĩ huynh cũng muốn trở mặt với ta luôn hả?

Vân Cư Sĩ đã được trợ giúp của ba phái, cũng đâm ra bạo phổi lớn gan, hiên ngang rằng:

- Giáo chủ không thể nào đem gã thiếu niên này đi được!

Độc Ma lên tiếng khen rằng: - Khá lắm! Kể cũng có chí khí và can đảm đấy! - Dứt tiếng quay sang lão bà bịt mặt bên cạnh rằng: - Thưa ngài, đối với những quân không biết trời cao đất rộng là gì này, phải thẳng tay trừng trị họ mới được.

Lão bà bịt mặt lạnh lùng rằng:

- Giáo chủ cứ yên tâm, với sức sáng đom đóm của họ như thế làm sao có thể bì được với ánh huy hoàng của trăng sao nổi? Nếu quân nào không phục, cứ việc nếm thử cây quái trượng của ta đây cho biết lợi hại!

Liễu Mi ghét nhất là lão bà bịt mặt này, nàng cho rằng chính người này là hung thủ đã hại chết Thượng Quan Linh bèn nói nhỏ với Thanh Thông bang chủ rằng:

- Thưa cha! Mụ già này tai quái nhất!

Liễu Khải gật gù rằng:

- À! Mụ này ức hiếp con của cha đó sao? Được rồi, tí nữa cha sẽ trả thù hộ cho con!

Độc Ma đột nhiên hét lớn tiếng rằng:

- Chư vị đây đã không chịu, thôi cũng được, chúng ta giải quyết với nhau bằng võ công vậy, và chúng ta lấy ngay thiếu niên họ Hầu ra làm giải thưởng cho cuộc đấu, bên nào thắng thì có quyền đem theo thiếu niên họ Hầu đi!

Bắc kiếm Phổ Côn bỗng hét lên:

- Độc Ma! Vậy chúng ta giao đấu bằng cách nào?

Độc Ma cười rằng:

- Phổ Côn! Nhà ngươi muốn đánh ùa cả đám cũng được, nghĩa là cả trên hai mươi người bên ngươi cùng ra tay một lúc, và bên ta đây sáu người cũng đều đứng ra sẵn sàng tiếp chiến, nếu ngươi còn nghĩ đến thể diện giang hồ, bằng lòng phái ra từng trận một, thế thì cứ mỗi trận một bên đó tuyển ra hai người, và bên ta chỉ một người cũng đủ nghênh địch rồi, và trước sau sẽ đấu với nhau ba trận để phân thắng bại. Nhà ngươi nghĩ sao?

Phía bên Bắc kiếm Phổ Côn đương nhiên không tiện cự tuyệt với điều kiện như thế, ngay lúc đó bèn thương nghị trong trận thứ nhất, phái ngay hạng tiểu bối là Thanh môn thần Lưu Khôi của phái Điểm Thương và Ngụy Lục của Bắc Kiếm. Tin chắc như thế đối phương Độc Ma và Lão bà không thể nào ra tay giao đấu với hạng tiểu bối như thế, nếu họ phái Đinh Hủy hay Đinh Phá, hoặc một trong hai tên mặc áo đen bịt mặt, thì bên mình với hai chống một, dù cho không thể thắng địch, nhưng cũng không đến nỗi bại ngay.

Công việc điều binh khiển tướng lúc này do Bắc kiếm Phổ Côn làm chủ, Nam bút Gia Cát Dật tuy không biết công lực của hai đại hán áo đen bịt mặt ra sao, nhưng công lực của Đinh Hủy và Đinh Phá thì biết rõ lắm, lượng sức của hai người Lưu Khôi và Ngụy Lục, tuyệt nhiên không phải là đối thủ của địch, nhưng thấy Bắc Kiếm đã chỉ định cho hai người đánh trận đầu và cả hai đã lững thững bước ra, không tiện lên tiếng can ngăn, trong bụng lo rối lên.

Bên này Lưu Khôi và Ngụy Lục song song bước ra, binh khí họ đã cầm sẵn trên tay, Ngụy Lục dùng kiếm, Lưu Khôi dùng ngọn binh khí độc đáo của phái Điểm Thương là ngọn Tam lăng truy phong trảo, binh khí vung lên, ánh sáng nhoáng lóe trong oai phong lẫm liệt vô cùng.

Nhưng đối với Độc Ma chẳng coi vào đâu. Chỉ nghe Độc Ma lên tiếng hỏi rằng:

- Đinh Hủy và Đinh phá! Hai đứa con đứa nào ra trước nào?

Đinh Hủy lên tiếng chực tung ra ứng chiến. Bỗng bên cánh phải của liễn xa, một tên hắc y đại hán nhảy nhanh ra và nghe hắn nói:

- Giết gà đâu phải dùng dao mổ bò, xin Hủy đại sư hãy nghĩ cho khỏe, để tại hạ cho chúng về chầu diêm vương!

Hắc y đại hán vừa nhảy vào trận đấu, chẳng cần nói ất giáp gì, giơ ngay binh khí lên, Lưu Khôi cùng Ngụy Lục thất kinh hoảng hồn, hình như hắc y đại hán vác luôn cây binh khí của lão bà bịt mặt ra thì phải, chỉ kịp thấy cây gậy đen thui thủi, đón ngược chiều gió, nghe đến ào một tiếng!

Lưu Khôi cướp đánh trước để giữ ưu thế về phần mình, ngọn Tam lăng truy phong trảo phạt ra một lúc cả trái lẫn phải, một nhắm ngay mắt địch, một nhắm dưới vú, thế đánh ra nhanh như nhoáng điện, khiến người không ớn mà lạnh!

Nhưng hắc y đại hán không hề nao núng, thân hình nhẹ đảo cây quái trượng đã vung lên, cheng một tiếng, đúng trúng ngay vào ngọn tam lăng trảo bên phía trên, lập tức hình sắt tam giác bị tung tan tành, sắt vụn văng tứ tán!

Đồng thời tay trái của hắc y đại hán đưa ngay ra trước ngực để bốc hái luôn Tam lăng trảo của Lưu Khôi! Lưu Khôi lúc này hồn bay phách lạc, từ ngày xuất đạo đến nay, quả chưa bao giờ được thấy lối đánh kinh người như thế này, vội thu ngay thế và hấp tấp né tránh. May lúc này môn hạ của Phổ Côn là Ngụy Lục múa tung kiếm lên chống đỡ cho một chập. Lưu Khôi còn lại mỗi một Tam lăng truy phong trảo nhưng cũng ráng vung lên tiến vào trận chiến, lúc này chỉ thấy cây trượng quái gở của Hắc y đại hán múa tít lên như một ngọn độc long tung sóng, thần kỳ tuyệt luân vô tả, kình lực ào ào, khí thế như nổi sóng phong ba. Tam lăng trảo của Lưu Khôi vừa bay ra khỏi tay và nhắm ngay trong ánh trượng đánh tới, nhưng lại nghe một tiếng cheng nổi lên, Lưu Khôi chỉ còn cảm thấy tay mình bổng nhẹ dần, trong lòng giật thót mình, vội nhanh tay rút về, quả nhiên chỉ còn lại sợi xích dài trên tay mà thôi, Tam lăng truy phong trảo đã bị đối phương quất bay từ hồi nào rồi!

Tam lăng truy phong của phái Điểm Thương vốn được chế tạo bằng thứ thép cứng, không ngờ chuyến này lại gặp phải khắc tinh như thế, nhất là cây trượng của hắc y đại hán vừa nặng vừa chắc, nhãn lực của đối thủ lại bén nhọn đích xác, trong cơn rối tung của cuộc chiến mà vẫn ngang nhiên nhận thấy Tam lăng phi trảo bay tới, rồi vung trượng lên dùng nội lực mà đánh bể luôn Tam lăng trảo, công lực như thế quả là hiếm thấy trên đời.

Lưu Khôi mất cả hai ngọn Phi trảo tam lăng nơi hai đầu dây xích, lúc này hai tay trống trơn, trông không khỏi khớp oai của đối thủ, đứng ngẩn trước trận chiến! Trong lúc đó môn hạ của Bắc Kiếm mấy phen tính đi vào thế hiểm và đã chực ra tay dùng đến ngọn chân truyền tuyệt kỹ của Bắc Kiếm là ngọn Hoa Cái kiếm pháp công đánh địch thủ để tự cứu thân, nhưng cây trượng đen của Hắc y đại hán múa lên như một ngọn núi nhỏ, phong tỏa hết các lối của Ngụy Lục, khiến cho Ngụy Lục không còn thì giờ đâu để tung mình lên hầu sử dụng đến thế Hoa Cái kiếm pháp!

Chương 53: Ba trận tỷ thí

Ngụy Lục đang cố sức chống cự, bỗng hắn phát giác hình như Lưu Khôi đã biến đâu mất. Hắn giật mình! Biết mình đang nằm trong tình trạng có thể khổ chiến, ba mươi sáu chước, tẩu vi thượng chước đã hiện ngay trong đầu óc của hắn. Nhưng khí thế của hắc y đại hán lúc này chẳng khác nào như một bức tường đồng vách sắt, khiến cho tên Ngụy Lục không làm sao thoát khỏi. Như vậy trong lòng hắn càng đâm ra khủng hoảng! Hắc y đại hán thình lình tiến nhanh vào một bước, lớn tiếng quát:

- Trúng!

Phổ Côn kinh hoàng trong lòng, nhưng vì qui lệ của giang hồ, Bắc Kiếm không muốn để cho thiên hạ chê cười, nên mắt thấy Ngụy Lục không thể nào tránh khỏi đòn này, chỉ nghe một tiếng hét thê thảm, Ngụy Lục ngã lăn ra mặt đất chết tươi ngay! Hắc y đại hán cười lên một tiếng rùng rợn, rồi lại giơ ngay cây trượng đen ngòm lên, hình như đại hán lại tìm được mục đích nào khác vậy! Hóa ra từ lúc Lưu Khôi bị mất binh khí, như thấy Ngụy Lục đơn thân chiến đấu như thế bèn đứng ngẩn người ra nhìn trận chiến, quên hẳn bản thân của mình lo chuồn!

Hận thư sinh Hoàng Kha không thể nào chịu nổi bèn hét lớn lên:

- Lưu Khôi mau chạy qua đây!

Lưu Khôi tỉnh hồn thất kinh, mắt thấy đại hán áo đen đã vung trượng quét ngang đến, đành tung mình nhảy tránh và chạy như bay. Nhưng đại hán bịt mặt khinh công cũng tuyệt vời, chỉ nội hai ba bước đã bắt kịp ngay sau của Lưu Khôi.

Tư Đồ Cống vội lên tiếng nhắc:

- Lưu huynh hãy cẩn thận phía sau!

Lưu Khôi lúc này hai tay trống rỗng, trong cơn nguy cấp, và tìm sống trong cái chết, hai tay hắn chỉ còn nước vung bừa ra sau, lẽ đương nhiên hắn đã dùng toàn lực đánh ra ngọn chưởng ấy!

Hắc y đại hán cười lanh lảnh, tay trái cầm trượng, chưởng bên phải phạt ngay ra một ngọn, thình lình nghe “páp” một tiếng vang lên, Lưu Khôi rú lên một tiếng kinh hồn! Mọi người đành nhắm mắt không nỡ nhìn cảnh thảm trạng trước mắt! Lưu Khôi sau khi trúng chưởng của địch, toàn nội phủ đã bể nát hết, cố gắng bước được hai bước rồi hộc mấu ngã lăn xuống mặt đất chết!

Hắc y đại hán sau khi đã thắng hai người của đối phương, ung dung bước hiên ngang về cạnh bên liễn xa của Độc Ma. Bên này Hận thư sinh Hoàng Kha bỗng lên tiếng gọi trận:

- Vị hảo hán khoan đi, tại hạ đây Hoàng Kha của Điểm Thương Phái xin được hầu giáo vài đường tuyệt kỹ! - Dứt tiếng, toàn thân vụt bổng lên như một con hạc nhẹ nhàng đậu ngay trong vòng trận.

Độc Ma ngồi trên liễn xa, lạnh lùng cười rằng:

- Kìa Hoàng chưởng môn, thiếu niên này là đồ đệ của ngươi đó sao? Đáng tiếc! Đáng tiếc! Nhưng tại hắn học nghệ chưa đến nơi đến chốn, nếu hắn được sự chân truyền của Hoàng lão huynh, đâu mà đến nỗi vài ba hiệp đã bại về tay đệ tử Lão Lão đây nhanh như thế!

Câu nói mát bóng gió này khiến cho Hoàng Kha điên tiết thêm, chỉ nghe Hoàng Kha quát lên rằng:

- Độc Ma, lối khẩu chiến như thế đâu phải bản sắc của kẻ anh hùng? Nếu có giỏi xin mời ngay xuống đây xem nhà ngươi có quả thật bóp nát đôi phi trảo của ta không! - Nói xong vung luôn Tam lăng phi trảo ánh sáng nhấp nhóe lóa mắt!

Độc Ma cười như điên rằng:

- Hừ! Nhà ngươi tưởng rằng hai ngọn quỉ trảo ấy mà lợi hại lắm sao, trong con mắt của ta, chẳng qua chỉ là hai viên đất của trẻ nhỏ chơi mà thôi! Nếu bản chủ nhân ra tay, chỉ e nhà ngươi khó lòng giữ nổi hư danh của một tông phái, và chỉ cần tam đồ đệ Đinh Hủy của ta xuất trận, cũng dư sức thắng nhà ngươi rồi!

Hận Thư Sinh tức muốn vỡ lồng ngực, hét lên rằng:

- Thôi thôi thôi!... Chuyến này ta liều luôn mạng sống này, có thua cũng không chịu thua hơi tức này! Lại đây lại đây! Hoàng Kha ta tuyệt nhiên không cần ai giúp sức, vậy bên ngươi bất luận người nào ra đùa với ta cũng được!

Gia Cát Dật vừa bước ra được nửa, nghe Hoàng Kha nói cương quyết như thế, phần biết Hoàng Kha dù sao cũng bậc tôn sư của một phái, vì danh dự và thể diện, nếu mạo muội ra tay trợ sức, càng khiến cho người khó hạ đài, nên đành ngừng ngay bước lại.

Bên kia Độc Ma chẳng thấy khẩn trương chút nào cả, vẫn ung dung đủng đỉnh nói:

- Này Hoàng Kha, ta có lời giao hẹn trước, không thể nào nuốt lời được, vậy ngươi hãy tỉ thí thử với Tam đồ đệ của ta là Đinh Hủy xem đã, nếu ngươi thắng, chúng ta sẽ đấu sau cũng chưa muộn gì!... Nhưng các ngươi muốn tỉ thí bằng cách nào? Vì tiện đồ của ta vốn trời sinh da bì nó rắn như trâu, e cho đôi Tam lăng phi trảo của ngươi không làm gì nổi nó đâu... thật là một chuyện khó cho các ngươi, nhưng thôi, Đinh Hủy con, vậy con hãy ra tỉ thí nội công với Hoàng tiền bối cho vui!

Đinh Hủy nhảy tung ngay ra đấu trường, hắn tỏ vẻ khách sáo và lễ độ lắm! Chỉ nghe giọng ngọng trứ danh của hắn rằng:

- Nay phụng sư mạng ra cùng Hoàng tiền bối tỉ thí nội lực, may nhờ Hoàng tiền bối không chê bai chỉ giáo. Hân hạnh cho vãn bối Đinh Hủy này lắm lắm!

Tuy lời nói của Đinh Hủy nghe khá trôi tai, nhưng với bộ mặt kinh tởm hãi hùng ấy quả thật ít ai dám lãnh giáo lắm, mặt mũi be bét máu mủ, tiếng nói chứa toàn âm hờ, trông chẳng khác nào chiếc đầu lâu bị rữa thịt, thoạt nhìn ai cũng phải nổi da gà!

Hận Thư Sinh lúc này đứng cách xa lối vài thước, nên trông càng rõ ràng hơn ai, đến bậc chưởng môn như Hoàng Kha, lúc này nhìn rõ Đinh Hủy cũng không khỏi nổi da gà trong mình, chính xưa nay Hoàng Kha cũng chưa hề thấy rõ bộ mặt thật của thầy trò Độc Ma ra sao, mà chỉ nghe đồn sơ đến hung danh của họ mà thôi, may được thấy Đinh Hủy, quả là kinh khủng thật, bụng nghĩ: sao dưới trần gian này lại có hạng người xấu xí rùng rợn như thế này!

Đinh Hủy thấy đối phương đứng ngẩn người nhìn mình, bèn bước thêm một bước. Hoàng Kha thấp hơn Đinh Hủy, khi hai người đứng gần lại, lại càng rõ ràng hơn nữa, Hận Thư Sinh bất giác tự giật lùi về sau một bước.

Đinh Hủy cười lên những giọng Hò hò rằng:

- Thưa Hoàng tiền bối, xin ngài làm ơn cho mượn chiếc Tam lăng phi trảo dùng chút đã, tôi và ngài mỗi người nắm một đầu, ai nấy vận dụng nội lực của mình để kéo, ai chịu không nổi kể như thua trận, ngài tính sao?

Đương nhiên Hoàng Kha không tiện phản đối, bụng nghĩ mình đã có công rèn luyện trong mấy chục năm và khí công nội lực, bộ lại không thắng nổi thằng quỉ sống này hay sao, đoán tuổi tác của Đinh Hủy, chỉ ước lối gần ba mươi là cùng, vậy dầu cho hắn có luyện võ từ năm lên mười tuổi đi nữa, thử hỏi làm sao có thể bì với công lực khổ luyện trong gần bốn mươi năm trời của mình. Nghĩ vậy, thế nào mình cũng thắng trong vố này, tâm thần phấn khởi hẳn, lấy ngay Tam lăng phi trảo giao ngay cho Đinh Hủy cầm!

Đinh Hủy cầm ngay đôi phi trảo rồi đem nối liền hai đuôi dây xích lại thành một, trong chớp mắt đã thành một sợi dây xích mà hai đầu đều có Tam lăng phi trảo, mọi người thấy vậy ngẩn người ngạc nhiên. Sau khi Đinh Hủy nối liền hai đuôi của dây xích lại, mọi người càng lấy làm lạ, thứ Tam lăng phi trảo này vốn sắc bén vô cùng, không lý Đinh Hủy lại có thể cầm được trong tay hắn sao?

Không lẽ tên quỉ sống này lại hồ đồ làm nhầm công việc nối dây xích? Cả đến Hận thư sinh Hoàng Kha cũng cảm thấy lạ lùng, chẳng hiểu Đinh Hủy tính làm trò ma tịt gì đây? Chỉ thấy Đinh Hủy giao ngay một đầu Tam lăng phi trảo cho Hoàng Kha, còn phần hắn cũng nắm ngay vào lưỡi bén sắc của Phi trảo! Mọi người cho rằng Đinh Hủy đã điên, vì có ai mà lại đi cầm nắm một thứ binh khí vô cùng bén nhọn trong tay mình như thế? Họ tin chắc rằng chỉ trong chớp mắt, Đinh Hủy thế nào cũng bị đứt tay ứa máu ngay!

Nhưng sự xảy ra ngoài sức tưởng tượng của mọi người, Đinh Hủy hình như có ma thuật vậy, chỉ thấy tay hắn nắm chặt vào lưỡi kiếm sắc bén của Tam lăng phi trảo mà không hề hấn gì, cho cả đến Hoàng Kha cũng phải ngẩn người kinh ngạc, Đinh Hủy cười và lên tiếng:

- Kìa Hoàng tiền bối! Xin tiền bối ra tay cho rồi!

Hận thư sinh Hoàng Kha giật mình kinh ngạc, vội vận khí vào ngay chưởng giơ tay nắm ngay Tam lăng phi trảo. Dù khí công Hoàng Kha đã đến mức tinh thông, nhưng trong tay nắm lưỡi Tam lăng phi trảo vẫn cảm thấy khó chịu vô ngần. Trong bụng nghĩ thầm: Chuyến này không khéo nguy to mất, chưa mở cuộc so đấu mà mình đã lộ bại tướng thì còn ra thể thống gì, vậy phải dùng lối đánh chớp nhoáng mới được hãy dùng nội lực chiếm phần thắng đã rồi tính sau!

Hai người lúc này đã chuẩn bị sẵn vị trí của mình, tay mỗi bên cầm một lưỡi của Tam lăng phi trảo, hai lưng đấu dựa vào nhau, chỉ chờ tiếng hiệu lệnh của Độc Ma phát ra, cả hai sẽ chạy tung sang hai hướng khác nhau.

Lệnh của Độc Ma đã phát, chỉ thấy hai người bung chạy về hai hướng ngược chiều, mãi đến khi cả hai cảm thấy bị dây xích giật ngược lại mới chịu ngừng bước và ai nấy lo vận ngay nội lực của mình, đồng thời chuyển nhanh bộ tấn của mình, khoản cách của hai người lúc này được cách xa chừng hơn hai trượng. Nhưng thấy Hận thư sinh Hoàng Kha thình lình hét lên một tiếng lớn, sợi dây xích dồn ngay về phía Hoàng Kha lối năm tấc! Điểm Thương Phái, Thanh Thông Bang, và nhóm Cửu Thiên Tự cùng nhóm Bắc Kiếm đều reo lên hoan hô!

Lúc này Liễu Mi đang đứng dựa người vào mình cha già chậm rãi nói: - Theo con xem, chuyến này Hoàng thúc thúc thế nào cũng thắng trận này.

Nhưng Hầu Hạo đứng cạnh bỗng nhiên lên tiếng rằng:

- Không đâu! Trận này có lẽ Đinh Hủy thắng mất!

Liễu Mi lấy làm lạ hỏi:

- Hầu đại ca vin vào đâu mà nói thế?

Tiếng nói của Hầu Hạo trầm trầm rằng:

- Bởi tôi biết hắn trời sinh thần lực, sức không thua kém gì tôi, vì trong kỳ tỷ thí trước với hắn tại Cửu Lãnh Sơn, kết quả vì đấu một lúc với hai người, nên tôi đành phải bại về tay hắn.

Quả nhiên câu nói này đã nhắc nhở cho Liễu Mi nhớ lại cả giao đấu tại Cửu Lãnh Sơn với hai anh em Đinh Phá và Đinh Hủy dạo nọ. Như thế đủ chứng tỏ Đinh Hủy đã từng cả thắng, thần lực của Đinh Hủy đâu phải là tay tầm thường gì, xem ra Hoàng Kha chuyến này bị trúng mưu gian của Độc Ma, thế nào cũng thua về tay Đinh Hủy mất.

Nhìn lại trong đấu trường, quả nhiên Đinh Hủy đang thắng thế dần dần, Hận thư sinh Hoàng Kha bị lép thế hẳn, mắt thấy không thể nào gỡ nổi cuộc diện. Thình lình trên liễn xa Độc Ma cất tiếng hét lên, sợi dây xích bị Đinh Hủy kéo qua hơn một nửa, cuộc thắng bại đã phân rõ, Độc Ma lớn tiếng rằng:

- Thôi Đinh Hủy! Con đã cả thắng Hoàng lão tiền bối rồi, con không mau mau cám ơn người ta đã cố tình nhường mình sao!

Nghe nói kháy vậy, Đinh Hủy hiểu ngay ý, lập tức lên tiếng ngọng rằng:

- Đa tạ lão tiền bối đã nhân nhượng! Nhân nhượng!

Hận Thư Sinh càng lộn tiết lên đầu, bỗng lão tối tăm mặt mũi vì cơn tức và lăn ngay ra mặt đất!

Nhóm thủ hạ của phái Điểm Thương vội chạy ùa ra khiêng ngay thân sư phụ mình về chỗ, và nhặt luôn binh khí Tam lăng truy phong trảo! Mọi người lo cứu tỉnh Hoàng Kha, khi nhìn đến ngọn Phi trảo, thấy lưỡi trảo mà Đinh Hủy nắm vừa rồi đã biến thành một hình tròn xoe, nghĩa là ngọn phi trảo đã biến thể từ hình tam giác thành hình tròn, đám thủ hạ ai nấy le lưỡi lắc đầu về thần lực lợi hại của Đinh Hủy.

Hận Thư Sinh sau khi tỉnh lại, hổ thẹn muốn tự tử cho yên danh dự, nhưng các thủ hạ cố tâm một lòng khuyên nhủ, cả Gia Cát Dật và Liễu Khải đứng cạnh cũng cảm thấy buồn thầm cho Hoàng Kha. Đám đệ tử của Điểm Thương Phái tự lượng sức và võ nghệ không đi tới đâu không thể nào dám đứng ra trả thù cho tôn sư bèn thảm thiết nói với Gia Cát Dật và Liễu Khải rằng:

- Danh dự của gia sư và tệ phái, chúng tôi tự lượng không thể nào chuộc lại được, duy chỉ dám xin nhị vị hãy vì chút giao tình của gia sư mà đứng ra làm chủ hộ cho!

Gia Cát Dật gật đầu ưng thuận ngay. Lúc này phía Độc Ma liên tiếp thắng hai trận, bên này Vân Cư Sĩ buồn rầu ảo não, Bắc kiếm Phổ Côn ngước mặt nhìn trời không nói gì!

Độc Ma ngập ngừng như mãn ý, rồi nói:

- Phổ Côn! Trong ba trận đấu, các ngươi đã bại hết hai rồi, bộ còn chưa chịu phục sao? Muốn tiếp tục đấu trận thứ ba nữa hả?

Bắc kiếm Phổ Côn chưa lên tiếng, Liễu Khải bước ra với bộ râu trắng phất phơ của mình, lên tiếng rằng:

- Lão phu Liễu Khải, không ngần ngại mạo muội ra tiếp trận thứ ba này, vậy xin cử vị cao nhân nào xuống chỉ giáo cho?

Lão bà bịt mặt cạnh bên Độc Ma lúc này đứng phắt ngay dậy với giọng trầm khàn khó nghe rằng:

- Bà lão ta xin xuống hầu thử vài ngọn tuyệt học của Thanh Thông bang chủ vậy?

Liễu bang chủ lạnh lùng rằng:

- Vậy thì còn gì tuyệt cho bằng! Chính con gái ta đang muốn tìm bà!

Lão bà bịt mặt cười khanh khách rằng:

- Lão già kia! Nếu ngươi thắng ta, đương nhiên nhà ngươi có thể đem thằng nhãi kia đi, và Tiên Cung giáo chủ hãy nể tôi mà tạm tha cho chúng một phen, nhưng nếu nhà ngươi thua. Hà! Hà! Ngoài trừ thằng nhãi kia phải để lại ra, mà đến con bé ranh của nhà ngươi cũng để lại cho ta!

Thanh Thông bang chủ vốn là người trên sáu mươi tuổi, về giang hồ kinh nghiệm có trên bốn mươi năm, tính tình hàm dưỡng khác hẳn với thiên hạ, tuy bị những lời nói hống hách của bà lão bịt mặt nói như vậy Liễu Khải vẫn không hề bị khích động, chỉ thấy vị bang chủ này vẫn lạnh lùng cười.

Lão bà bịt mặt cầm ngay trượng đi ra, thế cầm trượng của lão quỉ dị vô cùng, chẳng khác nào bà ta đang cầm chiếc rìu lớn vậy, dưới chân uyển chuyển như lưu thủy bước theo xung quanh Liễu Khải.

Liễu Khải thình lình bước vọt tới một bước, tà áo vùn vụt thành tiếng, khiến cho lão bà phải giật thót mình, thân hình nhẹ nhoáng, lập tức thối lui bộ về sau. Liễu Khải bất giác cười ha hả, biết ngay đối phương khớp về danh tiếng bang chủ Thanh Thông của mình. Bốn mươi năm danh tiếng trong giang hồ, nhưng vì chưa biết rõ tung tích lai lịch của lão bà này, Liễu Khải cũng không dám mạo muội vội.

Khi lão bà bịt mặt thấy đối thủ chẳng qua chỉ cốt biểu dương thanh thế, liền sấn ngay vào ba bước, vung nhẹ trượng đứng giàn hẳn thế và cuốn người tiến vào, Liễu Khải giơ ngay tay phải đẩy ngay ra, ào một tiếng gió phát ra, ngọn kình phong chạm mạnh ngay cây trượng của đối thủ, chỉ thấy ngọn trượng của lão bà nặng nề như thế mà bị bật hẳn ra. Ngọn đòn tay không này của Liễu Khải quả là lợi hại, vị bang chủ của Thanh Thông Hội dám ngang nhiên dùng hai tay không đối chọi với một vị nữ ma đầu lừng danh gần đây như thế, với công lực này quả thật khiến cho người ta kính phục vô cùng.

Liễu Mi đứng vỗ tay cười hí hửng rằng:

- Thưa cha! Cha bồi thêm một chưởng nữa cho bà quỉ già ấy chết đi cho đỡ gai mắt!

Lão bà bịt mặt đã hầm hầm nổi giận, bèn vận ngay chân lực dồn hết lên cây trượng của mình, đáng lẽ đẩy ngang cây trượng ra, nhưng lúc này thình lình lại giơ cao lên khỏi đỉnh vụt mạnh xuống, oai lực dũng mãnh vô ngần, trong ngọn đòn này lão bà đã dùng hết nội gia chân lực, Liễu Khải vội vung chường lên đỡ, chỉ nghe bùng một tiếng lớn vang lên, cả đôi bên đều bị giật lùi về sau mấy bước.

Liễu Khải sau khi đụng độ xong ngọn đòn này, bộ râu trắng bất giác phất phơ, tà áo bay phần phật, lão đã nhận ngay chân lực của đối thủ quả không phải phàm tục gì. Phải biết rằng lão già bịt mặt đây là người đã từng khổ luyện tuyệt nghệ trên mấy chục năm trời, thế đánh vô cùng ác liệt và quỉ dị, từ ngày xuất hiện trong giang hồ, vì tính tình tàn nhẫn, ra tay hiểm ác, nên lập tức danh truyền khắp nơi xa gần trong thiên hạ, lại được các đảng bí mật bầu làm thủ lãnh! Lúc này chỉ thấy ngọn đòn này nhanh và mạnh vô lường, vội giơ hai chưởng rẽ ngay sang tả hữu đôi bên, ngọn này của Liễu Khải hoàn toàn ỷ hết vào công lực hùng hậu trong bốn mươi năm trời của mình để giải thế đánh quái dị của đổi phương! Tuy thế, nhưng trong bụng Liễu Khải cũng thầm nhủ: Mụ già này quả lợi hại thật, mình chưa hề thấy qua thế đánh này bao giờ, mà cũng không biết được phái nào truyền ra? Gay go lắm mới giải nổi thế đánh này của địch, nếu mụ ta còn ngọn gì quái dị thêm nữa, chắc mình hơi khó xử trí đây!

Thanh Thông bang chủ quả không hổ là một người già kinh nghiệm, thấy mình chịu đòn không bằng mình mở ngay thế công còn thắng thế nhiều, bèn lập tức đổi ngay chưởng phong, trong mỗi thế đánh, đều ngầm chứa nhu lực, hoặc sát hoặc nhử địch, tránh nặng chịu nhẹ, tìm đích nơi hở để tiến đánh thình lình. Nhưng ánh trượng của lão bà bịt mặt tua tủa không khác gì một bức tường kiên cố, ngầm chứa sức hút, và đã thu hút dần Thanh Thông bang chủ vào trong ánh trượng của mình, khiến lão anh hùng không sao thoát thân được? Nhưng dù sao Thanh Thông bang chủ cũng là tôn sư của một phái tăm tiếng trên giang hồ, đâu phải tay tầm thường gì, chẳng qua Liễu Khải đang ngấm ngầm vừa đánh vừa quan sát, tuy phát hiện công lực của lão bà này oai dũng vô biên, nhưng đâu phải đã hết mức tuyệt đỉnh nhập thần xuất thánh đâu. Chẳng qua Liễu Khải đang nghĩ là nên ra tay bằng cách nào cho thắng ngay!

Chợt cơ hội đến, Liễu Khải quạt thốc ra một chưởng, hư hư thực thực, mắt thấy thế chưởng mãnh liệt, chỉ thấy khí thế của lão bà bắt đầu yếu hẳn, thậm chí bị lôi cuốn hẳn vào trong chưởng phong của đối thủ, chỉ nghe tiếng lão bà ý lên một tiếng, trong cảnh nguy cấp tột độ ấy ánh quái trượng đen ngòm và thu về lo giữ bản thân mình, vèo nhanh ra. Liễu Khải cũng bàng hoàng, mình đã giở hết bản lĩnh bình sinh của mình ra, nhưng vẫn không sao thắng được lão bà bịt mặt này. Thình lình lão bà lại tiến nhanh thân vào, nhưng vòng trượng chuyến này được thu nhỏ hẹp, oai lực đột nhiên tăng mạnh lên hẳn!

Tất cả danh dự mấy mươi năm của vị bang chủ Thanh Thông Hội đâu phải là chuyện chơi, lão anh hùng đâu dám chểnh mảng, vội dốc hết toàn lực và tinh thần lo đối phó với vị nữ ma đầu mới nổi tiếng gần đây, lão chỉ mong sao cố đè bẹp cho được kình địch trước mắt đây để giữ toàn thể diện cho Thanh Thông Bang!

Đã trên ba tàn nhang trôi qua, Liễu bang chủ vẫn bị vây hãm - trong ánh trượng mịt mù của lão bà bịt mặt, dần dà thấy đã lộ hẳn yếu điểm. Chỉ thấy các đòn trượng của mụ ta quỉ quyệt vô ngần, nội lực lại mạnh, khiến cho mình không làm sao phản lại cuộc diện cho thăng bằng, dần dà chỉ còn nước chống đỡ để giữ thế, bụng nghĩ phải rút binh khí, nhưng đành bó tay, vì đối thủ không cho hở hơi rảnh tay để thực hiện, đồng thời Liễu Khải cũng nghĩ đến là cây quái trượng đen thui này đã có thể quết bể Tam lăng phi trảo của phái Điểm Thương, tức nhiên loại binh khí này được chế bằng thứ thép rắn đặc biệt, vậy thì thứ binh khí bằng sắt phàm thường của mình làm sao chống nổi. Nghĩ tới nghĩ lui, chẳng có cách gì, nhưng lại không chịu nhận thua, nên vẫn ráng cầm cự để duy trì tình thế cuộc chiến!

Nhưng lão bà bịt mặt ấy càng đánh càng hăng say, khắp mọi người đứng xung quanh, thấy cảnh hỗn chiến của hai tay cao thủ thượng thặng càng lúc càng đi sâu vào quyết liệt ai nấy đều hồi hộp kinh hồn hoảng vía!
Liễu Mi lo cho sự an nguy của lão phụ, có lẽ nàng là người hồi hộp nhất trong số người hồi hộp, và nàng nghĩ cách làm sao cho lão phụ mình thắng trong trận này!

Lúc này thấy Liễu Khải mặt đã đọng mồ hôi! Còn phía lão bà vì có khăn che kín mặt, nên không biết thần sắc của mụ ta ra sao? Nhưng cứ xem xét thế đánh và bộ pháp dưới chân của lão bà, hình như chưa thấy có vẻ gì rối loạn!

Thanh Thông bang chủ lúc này quả thật muốn thu ngay thế nhảy vọt ra ngoài nói vài câu khách sáo giang hồ để hạ màn cho cuộc chiến cam go, nhưng trong lòng lão anh hùng thừa biết rằng: hành động như thế thì tất cả thanh danh và tên tuổi của mình sẽ bị chôn vùi từ đây, không những thế mà đến con gái cưng của mình cũng phải chịu số phận cho người ta bắt đi! Thường có câu: nhân tử lưu danh, báo tử lưu bì (người chết để tiếng, beo chết để da), cho nên trên giang hồ, thiên hạ thường hy sinh vì hai chữ danh dự, dù có thua cũng không cau mày trước cái chết! Càng nghĩ Liễu Khải càng cố duy trì cuộc diện trước mặt, nhưng chỉ thấy Liễu bang chủ mỗi lúc mỗi yếu thế dần.

Liễu Mi cố suy nghĩ để tìm phương pháp giải cứu cho cha già, nhưng suốt từ nãy giờ, nàng không tìm được sơ hở nào của địch để ra tay giải cứu, và nàng càng thừa biết rằng: nếu không mau mau tìm cách gỡ rối, thời gian khi kéo dài, cha già kiệt sức, không bị thiệt mạng thì cũng bị trọng thương, và như thế thì cha già thế nào cũng tự sát để bảo tồn danh dự! Càng nghĩ đến đây càng Liễu Mi càng đâm lo cuống lên!

Chợt nhiên! Nàng nghĩ ngay đến cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, vốn là một trọng báu, thế nào cha mình cũng mang theo bên cạnh người, nay đã nguy cấp kịch liệt như thế, sao không lấy ra thử xem sao? Tuy không biết cha già mình có biết hiệu lực của chiếc cờ nhỏ ấy không, nhưng có đem ra thử cũng còn hơn là chịu bó tay chờ chết! Nghĩ vậy Liễu Mi thình lình lớn tiếng gọi với cha già rằng:

- Cha ơi! Sao cha không lấy Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ra đánh mụ ta!

Tiếng Tiểu Đoạt Hồn Kỳ vừa. thoát ra từ cửa miệng Liễu Mi, cả hai phe đều thất kinh hồn vía, và ai nấy đều mong ước thấy báu vật này xem oai lực của nó sự thật đi đến mức độ nào, đương nhiên mọi người đều không khỏi nơm nớp trong lòng, giương mắt chăm chú sự xuất hiện của báu vật trong võ lâm!

Chỉ thấy Thanh Thông bang chủ thình lình nhảy tung ra phía sau, thò tay vào trong mình.

Dẫu cho lão bà bịt mặt hung hăng đến đâu, lúc này cũng không khỏi thối lui liên miên, vì danh tiếng của Tiểu Đoạt Hồn Kỳ trên giang hồ không ai không biết, nhất là lại được truyền rằng oai lực của nó không thể nào lường nổi, và dù cho lão bà bịt mặt cao cường đến đâu đi nữa, và đã là người, ai chẳng ngán chết! Lẽ nào mụ ta lại chẳng chột dạ trong lòng.

Nhưng chỉ thấy Liễu bang chủ từ trong mình rút ra một vật như cây trâm vậy, một đầu trông giống hình cờ, trông không ra vàng mà cũng chẳng ra thép, hình thế dị hợm! Mọi người thấy vậy thất vọng, thì ra báu vật nổi tiếng trong giang hồ, như cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đây chẳng qua không khác chiếc trâm là mấy!

Lúc này nhìn vào Liễu bang chủ của bang Thanh Thông, hình như ông ta cũng đang ngẩn người không biết nên sử dụng chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ấy bằng cách nào mới đúng!

Lão bà bịt mặt sau khi tỉnh thần lại, và nhìn thấy chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ không có hình thể gì đặc sắc mụ ta bèn bước lên hai bước cười khanh khách rằng:

- Sao lão già? Đó chính là dị bảo trong võ lâm là cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đó sao? E không đúng chăng? Hay là phái Thanh Thông của lão già đã bị người ta lừa dối rồi cũng nên, nhưng chúng ta đâu phải người ngốc, của dỡm như thế mà cũng muốn đem ra lòe thế nhân, nhưng làm sao có thể dọa nổi lão bà ta?

Thấy Liễu bang chủ vẫn đứng ngơ ngác như kẻ trúng gió vậy, lão bà càng đâm bạo gan thêm, thình lình giơ nhanh trượng vọt thanh mình tiến vào quất ngang ngay một đòn khốc liệt qua.

Thanh Thông bang chủ đành phải ra tay chống đỡ đòn địch, lão anh hùng vội giơ ngay cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ khua lên nghênh địch, bỗng chỉ nghe tiếng cheng một tiếng, cây quái trượng đen ngòm của lão bà bịt mặt lập tức bị gãy đôi thành hai!

Cuộc chiến thay đổi hẳn, chỉ thấy phía lão bà nguy như trứng chọi với đá, mụ ta liền giở ngay đòn ăn gian ra là dùng nửa cây trượng gãy trên tay làm ám khí tung vọt hẳn sang địch thủ, Thanh Thông bang chủ lại vội đưa thanh Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ra đỡ, lại một tiếng đụng vang lên, nửa khúc quài trượng đen ngòm ấy lại bị gãy làm đôi. Lão bà bịt mặt bèn nhân cơ hội nhảy tung ngay về phía sau.

Thanh Thông bang chủ từ trong tay tử thần thoát nạn, và lần đầu tiên lão anh hùng dùng đến Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, không ngờ oai lực của nó đã lợi hại như thế, chính cả Liễu Khải cũng chưa bao giờ ngờ được như thế nay tuy đã thắng trong trận này, nhưng quả thật không khác nào như vừa nằm trong một cơn chiêm bao lạ lùng!

Lão bà bịt mặt thoát chết, sau khi tỉnh hồn lại, hai tên đệ tử đại hán áo đen vội đến gần dìu ngay sư phụ mình lên liễn xa. Trong chớp mắt, cả đôi bên đều im lặng tịch mịch. Phía bên Độc Ma, hoàn toàn đã bị chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ trấn át ngay khí thế hung hăng, chẳng ai dám lên tiếng gì, còn bên này Bắc kiếm Phổ Côn, Hận thư sinh Hoàng Kha, Vân Cư Si, ánh mắt của ba người đều long lanh, ai nấy ngầm có một âm mưu riêng trong lòng!

Liễu Mi vốn là kẻ thông minh tuyệt đỉnh, nàng đoán biết ngay, sau khi họ phát giác oai lực ghê gớm của Tiểu Đoạt Hồn Kỳ như thế, ai nấy không khỏi sinh lòng tham lam tính cướp đoạt làm của riêng mình.

Nàng vội lên tiếng nhắc khéo cha già:

- Thưa cha! Chúng mình đi về thôi? - Nói xong đưa tay kéo ngay Hầu Hạo đứng cạnh tính nhảy vọt ra.

Nhưng Bắc Kiếm vung ngay ống tay áo ngăn ngay lại trầm giọng rằng:

- Chớ nên vội thế!

Thanh Thông bang chủ nghe tiếng con gái, đang tính quay thân về, nhưng chiếc liễn xa của Độc Ma đã đẩy gần tới, trên xe, Ma Cung chủ nhân cười rằng:

- Kìa Liễu bang chủ! Ngài tính đi hấp tấp như thế sao?

Liễu Khải giận rằng:

- Độc Ma! Không lý nhà ngươi tính bội ước sao?

Độc Ma rằng:

- Lão lão đã có lời hứa danh dự từ trước, lẽ nào Phi Các tiên cung lại không nể tình, vậy chuyện này tạm gác sang bên đã. Nay ta muốn nói sang chuyện khác: về chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, ta đã nghe danh nó từ lâu nay hân hạnh có duyên được thấy như thế, quả là vật thần diệu bất phàm, nay xem ra những sự thần kỳ của chiếc cờ ấy, đương nhiên không phải chỉ có sức lợi hại thế đâu... Nay xem Thanh Thông bang chủ tuổi đã xế chiều, nếu không biết sử dụng được những kỳ diệu của ngọn cờ ấy, chẳng hóa ra là của báu bị nằm trong bùn lầy sao? Đáng tiếc! Đáng tiếc! Cho nên, muốn tránh cho những kẻ gian trong giang hồ chết về nó, ta đây đã nghĩ được ra một thiện kế đối phó!

Tâm địa của Độc Ma Tư Mã Chiêu, ai mà chẳng rõ âm mưu đen tối của hắn, Liễu Khải làm sao lại nhận không ra, bèn giận rằng:

- Độc Ma! Phải nhà ngươi muốn chiếm chiếc cờ này không?

Khi hỏi câu này, Liễu Khải tưởng đâu vì thể diện và thanh danh, Độc Ma không khi nào dám nhìn nhận dã tâm của mình, ngờ đâu Độc Ma ngồi trên liễn xa lại gật đầu lia lịa và tán thành rằng:

- Liễu bang chủ quả là người tài đoán, thử nghĩ thất phu vô tội, hoài bích kỳ tội! (mình không tội nhưng của báu lại rước tội), của báu như thế mà cứ nằm trong mình bang chủ, e khó lòng tránh khỏi nguy hiểm trong người, lẽ đương nhiên những nhân vật trong giang hồ nghe tin thế nào họ chả kéo nhau để nghĩ cách tước đoạt làm báu vật sở hữu của mình, đến chừng đó, theo ý ta nghĩ, bang chủ không những không sử dụng được chiếc cờ và thông hiểu ngụ ý của chiếc cờ, như thế không có ích gì giúp cho quí bang hưng khởi, mà trái lại còn có thể đưa Thanh Thông Bang hội đi đến chỗ diệt vong là khác! Cho nên, theo ý tôi, chẳng thà Liễu bang chủ tặng cho tôi chiếc cờ này làm kỷ niệm ngày gặp gỡ hôm nay cho đẹp lòng nhau, ta bảo đảm với danh nghĩa của Phi Các tiên cung trên Vô ảnh Phong, tuyệt nhiên các tay cao thủ trong giang hồ không dám to gan bén mảng lên dòm ngó chiếc báu vật Tiểu Đoạt Hồn Kỳ đâu!

Câu nói của Độc Ma vừa dứt, mọi người bên phe Bắc kiếm Phổ Côn nhao lên một lúc, hình như họ không phục giọng nói quá kiêu cuồng của Độc Ma, cả đến lão bà bịt mặt cũng hình như không vừa lòng với câu nói ấy, nhưng vì mụ ta che mặt với khăn đen, nên không nhận rõ mà thôi!

Lúc này Bắc Kiếm chợt lên tiếng quát rằng:

- Đừng có mửa thối ra nữa! - Dứt lời tung mình nhảy ra đứng ngay phía sau bang chủ họ Liễu để bảo vệ rồi mới lên tiếng mắng rằng:

- Này Độc Ma! Trước mặt từng này người ra, bộ nhà ngươi không giữ lời hứa sao? - Đưa tay chỉ ngay Liễu bang chủ nói tiếp: - Liễu bang chủ đã thắng trận này, vậy chúng ta đi thôi!

Mọi người nhao lên tính bước đi, nhưng tiếng cười quái gở trên chiếc liễn xa đột nhiên vang lên, sáu người bên liễn xa, chỉ thoáng cái đã đến ngay trước mặt mọi người và chận ngay lối đi!

Ma Cung chủ nhân lạnh lùng lên tiếng rằng:

- Này Phổ Côn, nhà ngươi cũng chớ có hòng vờ vịt ai còn lạ gì dã tâm của nhà ngươi cũng nằm trong chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ của người ta, nếu Liễu bang chủ mà theo nhà ngươi cũng chưa biết chừng, và lúc ấy chiếc cờ báu lại chả lọt ngay vào tay nhà ngươi à!

Bắc kiếm Phổ Côn vốn là người nóng tính như lửa, đâu có thể nhịn nổi những câu khiêu khích như thế, nổi ngay cơn tam bành rằng:

- Độc Ma! Con người ngũ quan bất toàn, tứ chi tàn phế như nhà ngươi, người chẳng ra hồn người, quỉ không ra vía quỉ, choàng nhau bằng miệng lưỡi như thế, đâu có thể kể là hảo hán được, có giỏi hãy xuống khỏi xe và tới đây giao tranh với ta cho biết hơn kém!

Độc Ma ha hả cười rằng:

- Đừng có nói là một Bắc Kiếm như ngươi, dù cho cả Đông Tăng, Tây Đạo, Nam Bút các người cùng lại đây khiêu chiến với ta đi nữa... đối phó với những hạng như các ngươi, nói thật cho ngươi biết là chuyện như thò tay vào túi lấy đồ vậy!

Bắc Kiếm tự biết miệng mình nói không lại tên Độc Ma này, tức quát lên rằng:

- Chớ nhiều lời, mau mau ra tay cho rồi. - Keng một tiếng, ánh kiếm nhoáng lên thành một hình cung bán nguyệt, từ động tác đến kình lực đều phối hợp một cách khéo léo vô ngần!Bắc kiếm Phổ Côn quả là hạng danh thân pháp có khác, chỉ nội một ngọn xuất thế để đứng tấn ấy cũng khiến cho tên Độc Ma trên liễn xa phải buột miệng khen lên một tiếng: Tuyệt?

Cũng ngay trong tiếng khen: Tuyệt! đó, thình lình toàn thân Độc Ma từ trên liễn xa bay vèo xuống, trông không khác nào như chim đại bàng đang xòe cánh lướt xuống, nghiễm nhiên đứng ngay trên mặt đất trước bao nhiêu cặp mắt kinh ngạc của những người tại trận, cách chỗ đứng Phổ Côn chẳng quá bốn năm thước.

Xưa nay nghe đồn Ma Cung chủ nhân vốn là người tứ chi tàn phế, ngũ quan bất toàn, vì thế sự đi lại không tiện lợi, nên suốt ngày phải ngồi trên xe, nay không ngờ hắn lại có thể nghiễm nhiên đứng uy nghi trên mặt đất, và trông có vẻ linh động lạ lùng. Nhưng hai chân bị hai thân áo bào dài che kín, nên không ai thấy rõ chân tướng bên trong ra sao.

Trong tấm khăn bịt mặt màu đen, tiếng cười rờn rợn của Độc Ma rằng:

- Kìa! Chắc chư vị đây chưa có ai được biết rõ chân diện mục của ta chứ! Vậy càng hay! Nay cơ hội hiếm có, vậy xin các ngài hãy xem cho kỹ?

Sẹc một tiếng, kéo ngay chiếc khăn che mặt ra, ai nấy nhìn kỹ, bất giác kinh ngạc ngẩn người, không thốt ra được tiếng nào!

Trong trí tưởng tượng của mọi người, họ đều tưởng đâu mặt mũi của Độc Ma thế nào cũng phải giống như bốn tên đại đồ đệ của hắn, nghĩa là ngũ quan trên khuôn mặt đều bị tàn khuyết kinh khủng mới phải, và có như thế mới cần đến chiếc khăn đen để che ngang mặt mình để không cho thiên hạ biết chân diện mục của mình!

Nhưng nào hay những lời truyền đồn hoàn toàn khác hẳn sự thật trước mắt đây, khuôn mặt của Độc Ma đây, nào có thấy vẻ gì kinh khủng đâu, da mặt nõn nà, ngũ quan đầy đủ, trông chẳng khác nào Tử Đô tái sinh, Phan An giáng thế, thì ra là một khuôn mặt vô cùng hấp dẫn của vị thư sinh điển hình! Mọi người ngơ ngác lấy làm lạ, không ngờ rằng Độc Ma lại là người điển trai đến thế! Và chính cũng vì khuôn mặt này mà không biết đã hại bao nhiêu là trinh nữ? Và các nàng tha hồ để cho hắn dày vò, đến chết vẫn không hề oán trách một tiếng gì. Nhưng trong con mắt sắc bén của Bắc Kiếm đã có nhiều điểm nghi ngờ ngay? Nếu bảo là trắng, thì hình như đã trắng quá mức, bảo là đẹp, hình như đã đẹp lạ lùng lắm! Bắc Kiếm nghĩ ngay, có lẽ Độc Ma đã chế ra được thứ mặt nạ da người đặc biệt? Nghĩ vậy bèn lên tiếng rằng:

- Đúng là một trò bịp bợm tài tình đấy!

Trên khuôn mặt anh tuấn của Độc Ma bỗng nổi lên một giọng cười gằn, khiến cho người nghe càng cảm thấy hắn trẻ trung và hấp dẫn, Bắc kiếm Phổ Côn lại đâm ra hoài nghi, nếu là mặt nạ, thì những nét thần sắc trên mặt phải cứng đơ chứ, sao khuôn mặt này lại có thể linh động tự nhiên được như thế! Lạ! Lạ!...

Ma Cung chủ nhân cười rằng:

- Quả nhiên Bắc kiếm Phổ Côn giỏi lắm! Trò này của ta không thể nào giấu nhà ngươi được. Hà! Hà! Nhưng mà câu chuyện lại phải nói ngược lại, nếu các ngươi muốn thấy bộ mặt của ta phải có một thông lệ: hễ kẻ nào thấy được bộ mặt của ta, bất luận người ấy là nhân vật nào, đều phải chịu đựng số phận hành quyết của ta, đương nhiên chư vị không ai dại gì đi tìm cái chết như thế! Ha! Ha! Ha!

Thật quả là đúng sát với sự thật, vì ngũ quan này của chủ nhân Ma Cung chỉ nghe thiên hạ đồn là bị tàn khuyết kinh tởm, nhưng trên thực tế chưa hề có người nào biết rõ bộ mật thần bí của hắn, và nhiều khi hắn giết thình lình những cô thiếu nữ trong Ma Cung, chỉ vì vô tình chúng đã được mục kích bộ mặt thật của hắn, và cũng vì tất cả những chuyện thần bí trên ngôi điện Ma Cung của hắn đã tạo nên những tiếng tăm ly kỳ oai nghiêm của đời hắn!

Độc Ma cười ha hả rằng:

- Chắc các người cũng còn tính háo kỳ là muốn biết thêm đôi chân tàn tật của ta nữa thì phải, ta cũng biết trên giang hồ truyền đồn về con người của ta tứ chi tàn khuyết, nên suốt ngày phải ngồi trên xe kiệu, không thể nào tự do cử động! Hờ hờ! Thôi, nay sẵn dịp, ta cũng sẵn lòng cho người biết luôn vậy!

Nói xong, kéo ngay vạt áo bào lên, để lộ hẳn ống chân nhóe hào quang óng ánh của mình, trông chẳng khác nào như đôi chân được bịt bạc vậy, chắc đã được chế bằng thứ kim thuộc. Độc Ma thò ngay chân bên phải ra, co duỗi tự nhiên như ý, linh hoạt vô ngần, mọi người đều biết đây cặp chân giả, nhưng hai chân hắn đều bị cụt, thế khi mang hai ống chân giả này lại nghiễm nhiên có thể linh động như người thường vậy, ai nấy không khỏi ngẩn người ngạc nhiên về sự kỳ diệu của nó!

Ma Cung chủ nhân vẫn cười rằng:

Hôm nay mọi người đã thấy rõ sự thật đôi chân của ta đây là đôi chân giả, thật ra là từ đầu gối trở xuống là giả, nhưng không vì thế mà kém đâu nhé! Chính nó lại còn hơn hẳn cặp giò thật của các ngươi là khác. Chắc các ngươi đã từng nghe tiếng về một loại kim thuộc được sản xuất tại miền Bắc Tân Cương, nằm ở những thung lũng của các hồ lớn, nếu đem dùng làm binh khí và dụng cụ, bền tốt không thể nào tả được vì đặc tính của nó có chất mềm dẻo, có thể tha hồ co giãn tùy ý, nhưng rất khó khăn mà tìm được loại kim thuộc quí báu này, dù chỉ bằng đầu đốt ngón tay, ấy thế mà ta đây bất tài, chính hai ống chân của ta đều được chế bằng chất hàn kim quí báu của miền bắc Tân Cương ấy cả, chẳng những đao kiếm chém trúng không sao, mà đến cả chuyện tung vọt cũng vô cùng nhanh nhẹ như thường, chẳng những không tí gì trở ngại mà trái lại còn tiện lợi vô cùng. Bây giờ nói đến chiếc mặt nạ da người này được tước hẳn trên mặt một thiếu nữ còn trinh, mà phải mười tám tuổi, nhưng chưa lấy gì làm lạ, cái lạ của nó là ở chỗ thuốc ngâm chiếc da mặt ấy, thứ thuốc này sản xuất tại hải ngoại, tên gọi là La sát quả, dùng nó ngâm chung với da mặt người ấy, nó có kỳ hiệu là có thể giữ nguyên sắc thái cho da khỏi biến màu, giống hệt như người sống vậy, cho nên khi các người thấy bộ mặt khá đẹp của ta được tươi như thế, hoàn toàn là do công hiệu của La sát quả mà ra. Vậy các người thử nghĩ, những thứ của báu này, đừng nói là các người không có, mà cả nghe có lẽ cũng chưa ai được nghe nói đến bao giờ là khác, nhưng đối với ta, đó chỉ là một chuyện rất tầm thường mà thôi, như thế, nếu các người muốn đối chọi với ta, khác nào trứng đem quăng mạnh vào đá, không biết tự lượng sức mình? Ha? Ha! Ha!... và ta vốn có một sở thích kỳ lạ là chuyên thích sưu tầm những vật kỳ lạ trong thiên hạ, những thứ nào kém cỏi, có lẽ ta không màng đến lắm, nhưng những thứ đã được coi như báu vật quí tuyệt nhiên ta không đời nào để yên cho. Nay chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ của Thanh Thông Bang hội, từ khi thấy hình dáng nó ta đã thích rồi, và hình như ta có duyên phận với nó lắm! Vậy mong các ngươi hãy nhân dịp này nhân nhượng cho ta, và đừng nên tranh chấp với ta là hơn, nếu trở mặt với nhau chư vị bị thiệt thòi, khi đó không thể nào trách là ta không nói trước...!

Những lời nói ngông cuồng của Độc Ma, khiến cho mọi người nổi cơn tức đùng đùng, Bắc Kiếm không thể nào dằn lòng nổi, lớn tiếng quát ngay rằng:

- Độc Ma! Hãy khoác lác vừa vừa chứ, hãy đỡ kiếm ta đây!

Dứt tiếng kiếm đâm xiên ngay ra. Thân hình Độc Ma không thấy động, vì hắn biết ngay tay trước mặt mình Phổ Côn đây là danh gia về kiếm thuật, trong ngọn đòn này, thế nào khi nửa chừng cũng thình lình thay đổi thế đánh. Quả nhiên Độc Ma đã đoán đúng, mũi kiếm mới đưa ra lưng chừng đã thình lình biến đổi ngay thế, từ trên chúi nhanh xuống phía dưới, trông như một làn khói vèo nhanh ngay lại mặt của Độc Ma. Thế đánh vừa nhanh vừa ác, ánh kiếm nhoáng lên một cái mắt thấy chiếc mặt nạ da người của Ma Cung thế nào cũng bị thích rách trong thế kiếm khó thoát của Bắc Kiếm!

Độc Ma chợt cười lên một tiếng lạnh lùng, thân hình tựa bóng ma, chẳng thấy hắn né tránh, mà trái lại còn ngang nhiên đâm đầu thẳng vào. làn kiếm quang của Phổ Côn và ngang nhiên lướt hắn ra phía sau lưng của Bắc Kiếm. Nhưng Bắc Kiếm đâu phải tay xoàng gì, sau khi hụt đòn, lập tức vèo nhanh thân, nên ngọn điểm rất khéo của Độc Ma đã lọt vào hư không!

Độc Ma cất tiếng cười ha hả rằng:

- Công lực của Phổ Côn khá lắm! Khá lắm! Trong đương kim, kể cũng có thể liệt vào đệ nhị lưu trong võ lâm đấy! Hờ! Hờ!...

Phải biết rằng Phổ Côn vốn là một trong số Càn Khôn Ngũ Tuyệt cũng tiếng tăm lẫy lừng bao nhiêu năm trên giang hồ, và đều được thiên hạ công nhận là đệ nhất lưu cao thủ trong võ lâm, nay do miệng của Độc Ma lại bị người ta ngang nhiên giáng hẳn một bực là đệ nhị lưu như thế, bảo làm sao Bắc Kiếm cam tâm chịu cho được? Nhưng chuyến này bao nhiêu ngạo mạn của Bắc Kiếm đã tiêu tan hết, nghe nói không dám liều mạng tiến vào nữa, chỉ thở tức bằng hai lỗ mũi của mình. Nguyên do này, chỉ riêng có Bắc Kiếm tự biết, ngay trong khi Bắc Kiếm bị hụt đòn, Độc Ma đã ngang nhiên chui ngay vào làn kiếm của mình như một bóng ma, rồi nhanh như chớp đã hiện ngay phía sau lưng mình, và giơ chỉ điểm nhanh vào lưng của Phổ Côn. Chính nơi điểm ấy là Phượng vĩ huyệt là chủ huyệt sau lưng của Bắc Kiếm, kình lực của chỉ lực đã điểm ra, và huyệt đạo cũng đang bị chế ngự, Phổ Côn biết vô hy vọng thoát, đành nhắm mắt chờ chết!

Nhưng thình lình, sau lưng cảm thấy nhẹ hẳn, Phổ Côn đành nhảy vọt ra ngoài. Động tác tuy chỉ xảy ra trong nháy mắt, và cũng đã che được mắt mọi người, nhưng trong lòng Phổ Côn, không thể nào không nhận thua cho được, ngọn điểm ấy Độc Ma đã cố ý thi ân cho mình mà thôi. Nên bị Độc Ma giáng xuống là hạng đệ nhị cao thủ mà Bắc Kiếm không dám lên tiếng gì, càng không dám ra tay để đấu với người ta nữa. Bắc kiếm Phổ Côn đứng ngẩn người ra. Độc Ma bèn nở ngay một nụ cười thâm ý, lập tức chuyển sang hướng Thanh Thông bang chủ Liễu Khải.

Liễu Khải thất kinh, đang tính sửa soạn cuộc đấu. Nhưng Độc Ma quả là nhân vật lợi hại, trong lúc Liễu Khải vừa chuyển mình ấy, đã bị Độc Ma nắm trúng ngay cánh tay trái, và bấm ngay vào mạch, không sao nhúc nhích được! Thế ra tay Độc Ma quá nhanh, thậm chí chưa ai thấy rõ thân pháp của người ta ra sao mà Thanh Thông bang chủ đã lọt ngay vào tay của địch!

Sở Canh, Liễu Mi, Gia Cát Dật, Hoàng Kha, cho chí cả Vân Cư Sĩ, ai nấy đều thình lình thất kinh cả, chẳng ai rủ ai, nhưng lòng họ nghĩ ngay là cứu người, thân người nào cũng như sẵn sàng tung mình ra. Bộ mặt hấp dẫn của Độc Ma vô cùng bắt mắt, nhưng tiếc cái là tiếng cười lạnh lùng của đàn ông trầm trầm rằng:

- Mong các người chớ cổ động đậy mà dại!

Cha con tình nặng, Liễu Mi vội giơ ngay tay ra ngăn ngay cuộc xông vào của mọi người rằng:

- Xin quí vị hãy khoan!

Mọi người ngẩn người ngạc nhiên! Độc Ma lại cười lạnh lùng:

- Kìa Liễu bang chủ, còn đợi gì mà không giao ngay của nợ ấy ra cho ta?

Thanh Thông bang chủ Liễu Khải ung dung rằng:

- Độc Ma! Ngươi dùng quỉ kế như thế, Liễu Khải ta không đời nào chịu phục, còn ngươi muốn ta giao chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ. Xin lỗi! Ta không thể nào chấp nhận lời thỉnh cầu của ngươi!

Ma Cung chủ nhân ha hả cười rằng:

- Khá lắm! Quả nhiên không hổ danh là bang chủ của Thanh Thông Bang! Nhưng không cho nhà ngươi nếm chút mùi vị, chắc nhà ngươi không biết sáng mắt!

Dứt lời, Độc Ma tăng thêm sức bóp, Liễu Khải cố chịu đau để duy trì cho toàn thân khỏi ngả, chỉ thấy trán lão anh hùng toát đầy mồ hôi, trông biết đang chịu cực hình đau khổ, tiếng Ma Cung chủ nhân lại rằng:

- Có đưa ra không?

Liễu Khải cố chịu đau thốt ra một tiếng:

- Không!

Độc Ma lạnh lùng rằng:

- Đã thế ta cho biết tay?

Mọi người thất kinh hoảng hồn, Gia Cát Dật, Liễu Mi, Sở Canh, cả ba cùng một lúc nhảy vọt hết ra!

Độc Ma cười ha hả buông ngay Liễu Khải, lập tức vung ngay song chưởng, ba người, chân chưa kịp đứng vững thế, bị dồn hết ra phía sau. Trong khi đó thì Thanh Thông bang chủ đã hôn mê nằm co quắp dưới đất.

Gia Cát Dật, Liễu Mi, Sở Canh ba người lại xông lần thứ hai, nhưng thủ pháp của Độc Ma nhanh không thể tưởng nổi, chỉ trong nháy mắt, hắn đã lấy được chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ trong ngực của Liễu Khải. Cây cờ báu nằm trên tay, Độc Ma buông những tiếng cười đắc trí. quái gở thân hình nhoáng nhanh, lùi ngay về sau Liễu Mi, Sở Canh lo đỡ ngay Liễu Khải dậy!

Chỉ thấy Độc Ma hớn hở nhìn cây cờ trên tay thích trí cười khanh khách một lúc rồi rằng:

- Đúng là của báu thật! Nghe nói ai thấu hiểu được ý nghĩa của mười tám chữ trên đây, tức khắc võ công người ấy sẽ trở nên cử thế vô song ngay, võ công của ta tuy đã lên đến mức tuyệt đỉnh, nhưng vẫn chưa thấy toại lòng lắm, chuyến này mình có cơ hội nghiên cứu thêm cho đỡ buồn rồi? Ha! Ha! Ha...

Thình lình ào một tiếng từ trên không trung bay vèo xuống một vật đen ngòm, và chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ trên tay Độc Ma vụt bay luôn! Khiến cho Độc Ma cũng bất giác thốt tiếng ối lên một tiếng thất kinh!

Thì ra cây cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ lúc này nằm ngay trong mỏ một con chim ưng cực kỳ lớn, chỉ thấy chim ưng mỏ ngậm cờ bay vụt lên cao!

Độc Ma nào chịu! Vung ngay chưởng bên phải ra phạt lên một ngọn chưởng nhắm ngay chim đi tới. Nhưng cũng chỉ thấy chim ưng cũng thình lình giơ hai cẳng ra đạp mạnh xuống, hình như nó đang trả đòn! Quả đúng thế, chim ưng không hề bị xao động về ngọn chưởng lực của Độc Ma!

Ma Cung chủ nhân chuyến này mất mặt quá, bất giác quát rằng:

- Khá lắm!

Dứt lời, vung luôn song chưởng lên quạt mạnh lên! Trong ngọn đòn này, Độc Ma cũng tính đến tốc độ của chim bay, nên đã dùng hết toàn lực trong người đánh ra. Một ngọn cuồng phong đánh ra tựa như phi sa tẩu thạch, khói tỏa mịt mờ, khí thế như muôn nghiêng trời nghiêng đất! Dũng mãnh vô tả!

Nhưng chuyện kỳ quái cứ tiếp tục diễn ra, sau khi Độc Ma dốc toàn lực đánh ra chưởng ấy, bỗng một tiếng Pác! vang lên.

Mọi người cảm thấy Độc Ma bị trúng một sức rất mạnh ở đâu đánh tới vậy, vì thấy toàn thân Độc Ma bị bật bổng khỏi mặt đất. May nhờ công lực của hắn cừ giỏi, trên lưng chừng hắn đã giữ nổi thăng bằng để nhẹ nhàng hạ xuống mặt đất lại, nhưng khi hai chân chạm mặt đất, thân hắn không khỏi lảo đảo như muốn té.

Mọi người ngơ ngác làm lạ, bỗng nghe đằng xa có tiếng chim ưng kêu vang, khi mọi người chăm chú nhìn, ai nấy hồn bay phách lạc! Chỉ thấy sau làn bụi mập mờ không xa, hiện ra một người dong dỏng cao, sắc mặt trắng bệch, toàn thân bận theo lối nho sinh, hai tay trống không, đang uy nghi ung dung bước lại, và con chim ưng cũng đang lững thững bước theo sau.

Cũng chẳng biết tiếng ai kinh hoảng đến nỗi thốt ra thành tiếng rằng:

- Trời! Độc chỉ Thôi Bác!

Cũng vì câu nói ấy mà khiến cho Phổ Côn, Thanh Thông Bang, Cửu Thiên Tự, Điểm Thương Phái, bốn nhóm người này như vừa sực tỉnh cơn mộng, mọi người lo chia và vây quanh ngay Hầu Hạo vào giữa!

Rõ đúng là danh của người bóng của cây, người được xưng là đệ nhất cao thủ trong thiên hạ Độc chỉ Thôi Bác này vừa xuất hiện, mặc dù tất cả mọi người, đông đảo như thế, nhưng ai nấy đều đánh trống ngực thình thịch, chính vì oai thế lẫm liệt của Độc chỉ Thôi Bác mà nhiếp tinh thần của mọi người!

Độc Ma quả là một người thông minh tuyệt đỉnh, hắn biết rõ trong chưởng lực vừa rồi đã khiến mình lảo đảo ấy chính là do Độc chỉ Thôi Bác phát ra, biết mình không thể nào chống cự lại với nhân vật lẫy lừng này, lập tức len lén bước nhanh ngay về liễn xa của mình, và chuẩn bị đứng xem cuộc đấu của đôi bên.

Lúc này chỉ thấy Độc chỉ Thôi Bác thủng thẳng bước đến. Bỗng trong đám đông, tiếng của nàng Liễu Mi vang lên rằng:

- Kính thưa Độc Chỉ thúc thúc, Hầu Hạo đại ca ở đây ạ!

Bắc kiếm Phổ Côn vội giơ ngay tay bịt miệng Liễu Mi lại, tay còn chưa đụng tới nàng Liễu Mi, bên kia tiếng của Độc chỉ Thôi Bác lạnh lùng rằng:

- Phổ Côn! Hãy buông ngay tay xuống!

Bắc kiếm Phổ Côn giật mình thất kinh, tay tự động buông ngay xuống!

Độc chỉ Thôi Bác dẫn theo con chim ưng lớn của mình đủng đỉnh đến một đám đá cao, không biết vị cái thế kỳ nhân này đã cố ý hay vô tình, nhưng Độc chỉ Thôi Bác đã ngăn đôi ngay hai bên hữu sự. Lúc này chỉ thấy vị Độc chỉ Thôi Bác ngồi trên một phiến đá lớn.

Từ từ đưa mắt nhìn khắp mọi người một lượt, ai nấy đều cảm thấy cái nhìn ấy không khác nào vừa bị lưỡi dao sắc bén cạo qua mặt vậy! Bắc kiếm Phổ Côn hình như không phục, và chuẩn bị hợp tất cả toàn lực của nhóm bốn người lại, mở ngay trận đánh thình lình và chớp nhoáng với con người ngạo mạn này!

Nhưng Độc chỉ Thôi Bác hình như đã thấy rõ được những tư tưởng trong bộ óc của Phổ Côn vậy, chỉ nghe Độc chỉ Thôi Bác giọng vô cùng lạnh lùng:

- Kìa Phổ Côn! Sao nhà ngươi không chịu yên phận chút nào! Bộ còn thích gây rối nữa sao?

Chương 54: Quần ma tán đởm kinh hồn

Bắc kiếm Phổ Côn ức lên rằng:

- Độc chỉ Thôi Bác! Ngươi khi người...

Tiếng quá còn chưa buột khỏi miệng, bỗng cảm thấy có một vật gì bay tọt ngay vào mồm, thế đến rất mạnh, không những khiến cho Phổ Côn bị rụng mấy chiếc răng, mà toàn thân phải loạng choạng lùi về sau vài bước, may nhờ Tư Đồ Cống phía sau đỡ lại mới đứng vững bộ lại, máu miệng ứa ra, Phổ Côn nhổ phì vật trong miệng, chỉ là nắm lá của cánh hoa đã viên tròn lại.

Sự kinh hồn táng phách này còn hơn hẳn vụ giao tranh với Độc Ma vừa rồi, tuy vẫn vờ bình tĩnh, nhưng không ho he thêm gì nữa. Phía Độc Ma thấy tình thế có vẻ không thuận lợi cho mình, càng biết Độc chỉ Thôi Bác này danh bất hư truyền, mới xuất hiện mà đã ngang nhiên hiếm hẳn ưu thế, Độc Ma len lén tính lo chuồn nhẹ cho yên thân. Nhưng Độc chỉ Thôi Bác đã lên tiếng:

- Sáu tên nam nữ bên kia hãy khoan đi đã. Ta có chuyện còn thanh toán với các người!

Bên phía Độc Ma đành đứng im hết lại, Độc chỉ Thôi Bác lạnh lùng liếc nhìn ngay vào mặt Đinh Hủy và Đinh Phá, hai tên Tam hung và Tứ hung trong Phi Các ma cung này bất giác rùng mình ớn lạnh. Chỉ nghe tiếng Độc chỉ Thôi Bác cất tiếng rằng:

- Độc chỉ Thôi Bác ta ít khi xuất hiện trên giang hồ, nhưng chưa nay vẫn ân oán phân minh rõ ràng, tuy ta không thích nhúng tay vào các chuyện phiền phức, nhưng một khi ta đã nhúng tay vào can dự, bất luận là một chuyện gì luôn luôn ta đều làm cho có thủy có chung làm triệt để đến cùng mới thôi. - Ngừng một chập Độc chỉ Thôi Bác như hoài cảm chuyện gì xa xăm vậy, chỉ nghe vị kỳ nhân nói: - Ta còn nhớ mười năm về trước, khi mà ta bắt đầu ẩn cư, trong giang hồ yên tịnh, quân tà ác biến tích, các đạo khấu lục lâm cũng biết an thân thủ phận, và trên giang hồ đã xuất hiện nhiều kẻ hiệp sĩ chánh nhân, và lực lượng của họ đã dư sức để đối phó và đàn áp lũ quân hại người đấy vì thế ta yên tâm ẩn cư trong thâm sơn cùng cốc!... Nhưng trong mười mấy năm gần đây, những biến đổi trong giang hồ đã xảy ra ngoài sức tưởng tượng của ta, những cảnh tre già măng mọc các người có lòng hiệp nghĩa thi nhau tạ thế, khiến nỗi một đám bại loại nhân dịp gây cơn sóng gió phong ba, những tổ chức tà ác đua nhau xuất hiện giang hồ... Nay ngước mắt nhìn giang hồ, đã bị bọn vô loại gây nên biết bao sóng gió hôi tanh, kinh thiên động địa, các người đã sẵn những võ công quỉ dị trên mình, không biết đem ra hành hiệp tế thế, trái lại đã đi ngược lại đường lối chính nghĩa, kết đảng nhóm bè gây những chuyện thị phi hiểm ác thâm độc, tàn sát những dị kỷ, rõ thật không biết công lý và chánh nghĩa là đâu nữa, ngang nhiên chà đạp sinh linh, thật uổng sinh làm người, so với cầm thú còn không bằng... - Độc chỉ Thôi Bác nói đến đây vì quá xúc động, bất giác nổi cơn ho kinh khủng! Thấy vậy, cả phía Độc Ma lẫn đến Phổ Côn, Hoàng Kha, Vân Cư Sĩ đều nao nao tính ra tay thình lình!

Nhưng chỉ thấy Độc chỉ Thôi Bác nuốt ngay một đóa hoa màu đỏ, cơn ho lập tức ngừng ngay, mắt lại liếc nhìn mọi người một lượt, toàn đám lại khiếp vía không ai đám tỏ ý lỗ mãng về hành động của mình.

Thôi Bác lại tiếp tục lên tiếng:

- Hôm nay ta lại đây, chẳng qua là muốn công bình dứt khoát với các người một việc thứ nhất: là vụ con gái Ngọc điệp Châu Phụng là Thanh điệp Châu Sách và Hồng điệp Châu Chu, cả hai chị em đã lại tìm ta khóc lóc là chỉ chứng Bạch điệp Châu Ni đã bị thầy trò Độc Ma trên Vô ảnh phong bắt đi, ngoài ra còn có cả Nam bút Gia Cát Dật trong - Càn Khôn Ngũ Tuyệt và một vị thiếu niên Thượng Quan Linh cùng nhị cô nương của Thanh Thông Hội cũng bị giam hãm trong Vô ảnh Phong, và xin ta lập tức ra tay cứu nguy. Ngay lúc đó ta đã phái Đại Hắc (tên chim ưng) đi cứu, nhưng sau khi Đại Hắc về, mới hay là Thượng Quan Linh và Liễu cô nương thoát nạn, và Gia Cát Dật cùng với một thiếu nữ khác được Đại Hắc cứu ra khỏi Ma Cung, nhưng còn phần Châu Ni thì đã bị hy sinh...

Độc chỉ Thôi Bác bỗng im bặt, không khí nặng nhọc bao phủ mọi người. Thình lình, Thôi Bác lên tiếng hỏi:

- Độc Ma! Vụ này do ai gây nên.

Độc Ma không chịu lép thế, hiên ngang nhìn nhận rằng:

- Quả đúng là có chuyện như thế,- con bé Châu Ni do tiểu đồ Đinh Hãm bắt về, nhưng về sau nó tự tỉnh giác và cắn lưỡi chết. Chuyện như thế, trong Phi Các tiên cung thường xảy ra như cơm bữa, nếu nhà ngươi tính nhúng tay vào vũng nước đục này, xin cứ việc cho biết cao kiến. Độc Ma ta không hề rụt rè đâu!

Độc chỉ Thôi Bác nổi giận đùng đùng rằng: - Hừ? Ngươi còn tính già mồm hả? Ta hẹn cho nhà ngươi hai tháng trời, bắt ngay tên nhị đồ đệ của ngươi phải tự quyết tự tử để tạ tội của nó, còn không ta quyết không dung tha nó....

Độc Ma lên tiếng: - Chà! Khẩu khí hống hách quá! Nhưng ta không thèm nghe! Nếu ngươi có giỏi thì cứ lên thử phi Các tiên cung của ta! Chừng ấy sẽ biết ai lợi hại ngay!

Dứt lời, vung tay ra lệnh cho cho liễn xa đi nhanh, Độc chỉ Thôi Bác cả giận, miệng hét lên một tiếng sáo rít tai, con chim ưng bay thẳng đuổi theo.

Trên liễn xa cũng như dưới liễn xa, sáu người của Độc Ma vội ra sức chống đỡ, nhưng thấy con chim thần hung hăng mổ tứ tung, dữ dằn không thể tưởng, chỉ trong nháy mắt Đinh Phá và một hắc y đại hán bị chim ưng mổ trúng, tuy vết thương không nguy hiểm, nhưng cũng khiến cho người đau kêu ai ái lên!

Độc chỉ Thôi Bác lại huýt ngay một tiếng sáo, chim thần lập tức bay ngay về, Thôi Bác lên tiếng:

- Độc Ma! Ta mong nhà ngươi hãy sửa đổi hết bản tính lại, cố gắng mà trở nên một người hữu dụng trên giang hồ, nếu không có ngày hối hận không kịp đâu nhé!

Nhóm Độc Ma đâu còn ai dám lên tiếng nữa, ai nấy hấp tấp lo rời đi cho thật nhanh để khỏi rước thêm tai họa vào người!

Bên này! Cả bốn phái được chứng kiến một cảnh hãi hùng như thế, ai nấy quên cả việc đào tẩu của mình, và đương nhiên không ai còn dại gì để ra tay?

Độc chỉ Thôi Bác lên tiếng rằng:

- Gia Cát Dật và Liễu cô nương, tôi xin nhị vị cùng ra đây với Hầu Hạo công tử!

Hầu Hạo tuy ăn mặc quần áo của Phổ Kiên, tóc ngắn, thần sắc bơ phờ lúc này được Nam Bút và Liễu Mi lo hộ tống chàng đi ra khỏi đám đông. Bắc kiếm Phổ Côn thấy Nam bút Gia Cát Dật giờ lại dám công nhiên chống đối với phe mình, trong lòng không vui, lạnh lùng hừ lên một tiếng ống tay áo giơ ngay ra tính ngăn cản ngay lại. Nhưng Độc chỉ Thôi Bác đã tinh mắt nhận ngay ra và lên tiếng rằng:

- Bắc kiếm Phổ Côn! Mong rằng ngươi biết điều cho chút.

Câu nói ấy khiến cho Bắc kiếm Phổ Côn vô cùng sượng sùng, ống tay áo lúc này như bị cứng đơ lại chẳng lên mà cũng chẳng hạ xuống, không biết nên tính sao mới phải.

Thanh Thông bang chủ Liễu Khải không dám ngăn trở, còn Điểm Thương chưởng môn Hoàng Kha lại khiếp oai của Đoạn Trường Nhân, cũng không dám tỏ ý phản đối gì. Chỉ riêng phía Vân Cư Sĩ và Hải Không đại sư cùng với đám tăng lử của Cửu Thiên tự thì rối quýnh lên trong bụng, thấy tất cả bao nhiêu công phu khó nhọc và kế hoạch bấy nay đành bị phá sản. Sau khi thấy ba người ra khỏi vòng ngoài, Vân Cư Sĩ lạnh lùng cười lên mấy tiếng.

Thế là nhóm Cửu Thiên Tự ra tay trước, thiền trượng phất trần, kiếm đao binh khí tuốt hết ra và chạy lại vây kín lại. Còn Bắc kiếm Phổ Côn và Điểm Thương Phái cũng lo ngấm ngầm bổ vây ngay bên vòng ngoài, sẵn sàng ứng chiến. Còn Gia Cát Dật, Liễu Mi cẩn thận lo hộ vệ Hầu Hạo, chuẩn bị ứng phó mọi biến cố có thể xảy ra. Bỗng từ trên lưng chừng không trung tiếng chim ưng kêu trận chiến bổ nhào ngay xuống đám Cửu Thiên hòa thượng! Khí thế của nó vô cùng hung mãnh, hai cánh của nó quạt mạnh ra như làn sóng dữ dội, cả một cảnh rối loạn hiện ngay ra trong đám tăng lữ của Cửu Thiên Tự, Vân Cư Sĩ và Hải Không pháp sư thấy tình trạng quá nguy, vội cấp tốc định thần lo nghênh địch!

Vân Cư Sĩ chém mạnh ngay ra một kiếm, nhưng chim ưng đã ngang nhiên dùng mỏ của nó hất bật ngay thanh kiếm của Vân Cư Sĩ, chỉ thấy Cư sĩ bị loạng choạng đứng không vững, chớp mắt đã bị chim ưng dùng trảo bấu chặt ngang hông bay vọt thẳng lên!

Hải Không đại sư kinh hãi bay hồn, đang tính đào tẩu bỗng cảm thấy sau gáy một luồng gió lạnh ập tới chim ưng đã bay đến, Hải Không chưa kịp quay đầu lại cự địch, con chim tai ác dùng trảo quắp bay bổng lên không! Mọi người kinh hãi nhìn hai trảo của con chim thần đang quắp hai mạng người lơ lửng trên không, thế mà chim ưng vẫn chẳng hề tỏ ra mệt nhọc gì cả và càng lạ hơn nữa là tha hồ cho Vân Cư Sĩ và Hải Không dùng phất trần hay dùng kiếm chém đánh tưng bừng vào đùi của chim ưng, nhưng hắn vẫn điềm nhiên như không hề có chuyện gì xảy ra, trông cặp cẳng của nó như bằng chất sắt thép vậy. Và chim ưng cứ quắp chặt hai người bay lượn thành vòng tròn trên đỉnh đầu mọi người?

Tiếng gào thét của Vân Cư Sĩ và Hải Không đại sư và tha hồ họ đánh chém túi bụi vào chim ưng, nhưng lạ thay là chim thần không hề tỏ vẻ kinh sợ gì, khiến cho toàn đám người đứng bên dưới không khỏi hồi hộp kinh sợ trong lòng, con chim ưng to lớn này lại có bản lãnh phi thường đến thế! Ai nấy biến sắc hãi hùng! Không biết nên tính sao cho phải!

Trong khi đó mọi người chỉ nghe tiếng của Độc chỉ Thôi Bác rằng:

- Cùng các vị, con ưng này của ta tên gọi Đại Hắc, nó vốn còn có một bạn, nhưng nhỏ con hơn nó, tên gọi Nhị Hắc, chúng đã luôn luôn hầu cạnh bên người ta, Và chúng thân mật như hai anh em ruột vậy!

Ngừng một chập, Đoạn Trường Nhân lại cất cao giọng rằng: - Nhưng nay Nhị Hắc đã chết, loại chim ưng này vốn là một giống chim dị chủng ở hải ngoại, đao kiếm, thủy hỏa, cơ hàn đói lạnh, đều không thể nào làm gì chúng nổi, và tuổi thọ của chúng thường ít nhất là ba trăm năm trở lên, nếu không có chuyện mưu hại, tuyệt nhiên không làm sao có thể chết được?

Nhưng đáng giận thay cho đám tăng lữ của Cửu Thiên Tự, khi con Nhị Hắc của ta phụng mạng đến để đón Hầu Hạo, mà chính với đám tăng lữ cũng thừa biết là có hợp hết toàn lực để đối phó với con chim thần của ta cũng không sao cưỡng nổi nó, biết không phải địch thủ của nó, nên đã hèn dùng đến quỉ kế, chúng biết nhược điểm của con Nhị Hắc là thích trà rượu thơm ngon nên đã dùng trà thơm dụ dỗ đến nỗi khiến nó bị trúng độc mà chết. Nhưng con Nhị Hắc của ta vốn là giống Long tựu (loài chim rồng kên kên), theo cạnh ta lâu năm, nói thật ra võ công của nó, có thể ngạo thị (nhìn đời hách dịch) đương kim giang hồ? Vì sau khi nó bị trúng độc, vẫn còn có thể phát oai dọa chạy hết đám tăng lữ của Cửu Thiên Tự, bỏ chạy ngay trong đêm đó, đồng thời Nhị Hắc sợ ta không biết rõ nguyên do vụ này để trả thù cho nó, nên nó đành buông ngay cuộc truy cản địch thủ nên đã tìm một thân cây lớn trong Cửu Thiên Tự đậu lại để cho ta biết! Vậy các người thử nghĩ, một con linh điểu chính trực và trung thành với ta trong bao nhiêu năm trời như thế, nay phải chi bị người ta đánh chết đàng hoàng bằng lối giao tranh, ấy là tại nó không có bản lĩnh, nhưng khổ nỗi nó lại không chết oai hùng được thế, trái lại bị chết cạm bẫy mưu mô của quân gian hiểm. Như thế bảo ta không đau đớn tiếc cho cái chết của nó sao được?

Nay có con Đại Hắc đứng ra trả thù cho bạn nó thật, nhưng trong lòng ta cảm thấy buồn khổ vô cùng, ta đã truy niệm con Nhị Hắc theo ta lâu năm, tình nghĩa không khác nào như cha con, nay nó đã chết, dù cho giết hết bọn tăng trong Cửu Thiên Tự, vẫn không thể nào khiến cho con Nhị Hắc của ta sống lại được, mối hận này quả là một vết thương trầm nặng trong lòng ta...

Càng nói, Độc chỉ Thôi Bác càng thấy bi ai xúc động tâm hồn mình, âm thanh mỗi lúc một cao hẳn.

Mọi người càng hồi hộp kinh hãi! Thình lình vị cái thế kỳ nhân cất tiếng hét lên, không hẳn tiếng khóc, mà cũng chẳng ra tiếng cười, nhưng âm thanh đượm vẻ vô cùng bi ai, Liễu Mi và Gia Cát Dật cùng Hầu Hạo, ba người này như thông cảm nỗi lòng của vị cái thế kỳ nhân này lắm.

Thấy vậy mọi người càng hoảng sợ. Liễu Mi thầm nghĩ Thôi Bác hiệu xưng Độc Chỉ, Đoạn Trường Nhân, có lẽ xưa kia ông ta đã từng có một dĩ vãng quá đau buồn lâm ly, nên đã khiến vị đại anh hùng hiệp sĩ sinh ra một cơn bệnh bất trị, để đến nổi chỉ ỷ trông vào những hoa tiên miễn cưỡng duy trì mạng sống của mình.

Nhất là cuộc sống vô cùng buồn tẻ trên Mặc Phụ Sơn, quanh năm ngày tháng chỉ trông vào hai con linh điểu làm bạn, và chính loại chim này, chỉ có hạng cái thế kỳ nhân như Thôi Bác mới đủ tư cách nuôi nấng chúng nó. Nghĩ đến đây, Liễu Mi nhắm mắt tưởng tượng cảnh sống thanh nhàn của một người, với hai chim biết bao đẹp đẽ? Nay bỗng bị người ta dùng quỉ kế ám hại mất một con linh điểu như thế, bảo sao người ta không đau khổ cho được?

Ngước nhìn lên trên, càng khiến mọi người kinh hãi. Chỉ thấy con Đại Hắc hình như thông hiểu tiếng hét kỳ lạ của chủ nhân nó vậy, nó biết rằng chủ nhân nó đang truy điệu đồng bạn của nó đã chết, cũng kêu lên những tiếng ai oán như hòa nhịp theo với nỗi lòng buồn thảm của chủ nhân.

Nhưng dần dà thấy con linh điểu càng bay quanh càng nhanh, Vân Cư Sĩ và Hải Không đại sư bị nó quắp chặt dưới móng trào như diều hâu bắt gà con, thoạt đầu còn có thể kêu cứu inh ỏi, nhưng với đà bay quá nhanh ấy, chớp mắt tứ chi của hai người đã bị rũ hẳn xuống, không tiếng rên vang và cũng chẳng thấy cử động gì nữa?

Nhưng có một điều lạ là trên tay hai người vẫn nắm chặt binh khí, Hải Không chỉ tay cầm phất trần, Vân Cư Sĩ tay cầm kiếm. Ai nấy thấy vậy kinh hồn táng đởm, ngẩn người ngơ ngác, đưa mắt nhìn quanh nhau, không biết tính sao cho phải!

Bỗng nhiên, cũng chẳng biết là họ đã ngấm ngầm từ lúc nào, một tiếng hét vang lên, đám tăng lữ ầm ầm dùng ngay ám khí chia đánh nhanh ra thành hai mục tiêu chính: một về Độc chỉ Thôi Bác, một về phía linh điểu trên không trung!

Bên này Phổ Côn, Thanh Thông Bang, phái Điểm Thương và cả Liễu Mi, Hầu Hạo, Gia Cát Dật, ai nấy giật mình thất kinh, Gia Cát Dật và Liễu Mi tính ra tay ngăn cản mọi người, nhưng đã không kịp.

Ai nấy chỉ còn thấy những ám khí loang loáng bay nhanh như sao băng qua phía Độc chỉ Thôi Bác, nhưng khi những ánh sáng loang loáng ấy còn cách thân hình của Thôi Bác, đều thình lình bị biến vô tăm vô tích hết.

Riêng có phần Liễu Mi mắt tinh hơn ai hết, nàng kịp nhận thấy ống tay áo của Đoạn Trường Nhân khẽ động đậy, và tất cả những ám khí của tăng lữ Cửu Thiên Tự, như đã gặp sức nam châm thu hút ngay hết vào ống tay của ông ta. Ngay trong khi đó, bỗng hai tiếng hét rùng rợn vang hẳn lên đỉnh đầu mọi người.

Mọi người đưa mắt nhìn lên, ai nấy cũng bất giác phải nhắm mắt lại không dám nhìn cảnh tượng đang xảy ra! Họ chỉ thấy linh điểu khổng lồ ấy, chẳng thèm né tránh gì đến những ám khí đánh lên, mà trái lại nó đã co ngay hai trảo lên, dùng ngay hai người quắp trong móng ấy làm cái thuẫn để đỡ những ám khí của các tăng lữ đã phát ra.

Đám tăng Cửu Thiên Tự có nằm mơ cũng không ngờ rằng con linh điểu lại biết dùng lối đánh ấy để chống cự hiển hách như thế. Chỉ thấy ánh quang nhấp nhoáng, chớp mắt găm hết vào thân hai người, và gây nên hai tiếng thét rùng rợn của người đi vào cõi chết.

Trên thinh không, máu tươi đã nhỏ thành giọt xuống, dù cho hai người chưa chết ngay, nhưng cũng trọng thương khó cứu sống nổi.

Thình lình hai trảo của linh điểu cùng buông ngay ra, thân hình của Hải Không và Vân Cư Sĩ rớt ngay từ trên không xuống! Sau hai tiếng bịch bịch đám tăng lữ của Cửu Thiên Tự ào ào chạy nhanh ngay lại để xem thủ lãnh mình ra sao, nhưng chỉ thấy toàn thân hai người máu me lênh láng, những vết thương lại toàn nằm trong chỗ chí mạng cả, trông không cách gì cứu sống nữa!

Các tăng lừ kinh hãi tột độ. Vội đứng hết cả lên nhìn về phía Độc chỉ Thôi Bác, thấy con linh điểu Đại Hắc không biết đứng cạnh chủ nó từ bao giờ rồi. Hiện giờ trong đầu óc của đám tăng lữ, chỉ còn chứa vỏn vẹn một chữ: Chạy, nhưng khốn nỗi ai nấy đã bay hồn bạt vía, hai cẳng đã chùn hẳn, thì làm sao nhấc nổi để chạy! Và cũng trong đám tăng lữ ấy, có người vẫn còn thính mũi ngửi ra mùi khai khai, chứng tỏ đã có người quá sợ đến vãi nước tiểu...

Lúc này chỉ thấy Độc chỉ Thôi Bác từ từ giơ ống tay áo lên. Liễu Mi biết ngay, trong ống tay áo ấy toàn là những ám khí của đám tăng lữ đã phát ra lúc nãy để đánh lén vị kỳ nhân cái thế này, giờ đây chắc vị Đoạn Trường Nhân dùng lối vật hoàn cố chủ để trả đòn đây, nhưng khá lâu, vẫn không thấy Độc chỉ Thôi Bác ra tay phát ám khí.

Bỗng nhiên, ống tay áo của Thôi Bác buông hẳn ngay xuống thở một tiếng dài rằng:

- Hãy đi ngay! Và từ nay nên bỏ hết các tính tàn ác để ráng tu sao cho xứng danh đệ tử của cửa nhà Phật. Còn ai muốn hoàn tục, cũng phải ráng an phận thủ tánh làm người lương thiện chớ có gây sóng gió tai quái trên giang hồ mà hối không kịp. Phải biết rằng các người có trốn chân trời góc biển nào cũng không thoát khỏi con linh điểu Đại Hắc của ta? Vậy liệu hồn đó mà giữ xác!

Đám tăng như gặp Hoàng ân đại xá tội, vội hấp tấp thu nhặt tử thi Vân Cư Sĩ và Hải Không đại sư lo nhanh chân nhanh cẳng đi luôn một mạch không dám ngoảnh cổ nhìn lại sau!

Bắc kiếm Phổ Côn cùng với bộ hạ cũng chẳng từ rút đi luôn. Độc chỉ Thôi Bác chỉ nhìn họ thở dài, rồi đưa tay ấp vào ngực mình ngồi ngay xuống một phiến đá, con linh điểu lo đứng cạnh rỉa lông cánh của mình.

Hận Thư Sinh của phái Điểm Thương thấy tình trạng vậy, khẽ tiếng nói với Thanh Thông bang chủ Liễu Khải rằng:

- Liễu huynh! Tiểu đệ xin đi trước vậy? Xem ra chuyến này chúng mình đều bị lừa về tên Vân Cư Sĩ, thật ra không nên đến Nhữ Nam làm gì mới phải! Ân hận quá chừng!...

Thế là Hận Thư Sinh lại hiện ra bộ mặt buồn thiu như kẻ đưa ma, chậm chạp leo lên chiếc kiệu lộng lẫy của mình do các đệ tử của mình khiêng ra về.Nhưng Hận Thư Sinh trước khi đi đã cáo biệt với hết thảy mọi người. Độc chỉ Thôi Bác cũng khách sáo mỉm cười nhẹ đưa tay chào!

Chỉ còn lại Thanh Thông bang chỗ Liễu Khải, cũng chẳng phải ông ta không muốn ra về ngay trong tình trạng này, nhưng chỉ vì chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ còn nằm nguyên trên tay của Độc chỉ Thôi Bác. Nhưng Liễu Khải khiếp oai của đối phương, không biết nên hành động ra sao mới phải, lẽ đương nhiên, theo ý thì Độc chỉ Thôi Bác không đời nào lại đi đoạt vật báu của mình như thế, nhưng Liễu Khải không biết nên dùng lời nói gì để đòi về cho khỏi mất lòng người ta?

Lão bang chủ đành lên tiếng khẽ gọi con gái mình:

- Liễu Mi con!

Liễu Mi vốn là cô gái tinh ranh tuyệt luân, làm gì mà nàng lại không đoán nổi tâm trạng của cha già, ngay lúc ấy nàng tươi cười lên tiếng trả lời cha già rằng:

- Thưa cha! Làm gì mà cha phải quýnh lên vội thế! Cây cờ vẫn còn nằm trong tay của Thôi Bác thúc thúc con tin rằng thúc thúc thế nào cũng hoàn lại cho cha mà!...

Liễu Mi quả là lanh trí tinh ranh thật, Nam bút Gia Cát Dật bất giác phải khen thầm: Hèn gì trong giang hồ đồn nói cô bé này thông minh tuyệt đỉnh không ai bằng.

Câu nói của Liễu Mi quả nhiên đã sinh ra hiệu lực Độc chỉ Thôi Bác từ từ trong mình lấy ra cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ, mỉm cười nhìn vào những chữ ghi trên cây cờ sau khi nhìn xong bỗng thu ngay nét cười của mình lại, thần sắc có vẻ vô cùng trịnh trọng!

Thấy vậy Thanh Thông bang chủ trống ngực đánh thình thịch biết ngay Độc chỉ Thôi Bác đang nghiên cứu mười tám chữ quái dị trên cây cờ... Liễu Khải lo và sợ vị kỳ nhân cái thế này nếu là biết được những ý nghĩa trên cây Tiểu Đoạt Hồn Kỳ thì võ công của người ta lại càng tiến thêm lên tuyệt đỉnh của tuyệt đỉnh mất! Nhưng lão anh hùng bất giác từ cười thầm trong bụng, thầm nghĩ: đừng nói đến bản thân của Thôi Bác làm gì, chỉ nội con linh điểu Đại Hắc của người ta, võ công đã hơn hẳn mình rồi, huống hồ là chủ nhân của nó là Đoạn trường nhân Độc chỉ Thôi Bác, nay người ta đã là đương kim vô địch trong võ lâm ngày nay, đệ nhất tuyệt thủ trong thiên hạ, hà tất cần phải nghiên cứu gì vu vơ những chữ oái oăm trong cây cờ nhỏ đó làm gì? Nhưng bản tính của con nhà võ, đều biết rằng thiên ngoại hữu thiên (ngoài trời vẫn còn có trời) mà nhất là võ công càng không biên giới, cũng có lẽ Thôi Bác cũng không thoát khỏi định luật ấy, nhất lại không muốn người khác tham thấu những ý nghĩa trong văn tự ấy, để hòng củng cố địa vị độc bá đệ nhất kỳ nhân trong thiên hạ, không chừng vì ý nghĩa đó mà người ta dám ngang nhiên cướp đoạt luôn chiếc cờ báu của mình cũng nên!

Không nói là sắc mặt của Liễu Khải biến đổi bất thường, với ý nghĩ của mình, mà cả Liễu Mi và Gia Cát Dật cũng chăm chăm ngó theo hành động của Độc chỉ Thôi Bác!

Tuy trong lòng của Liễu Mi rất kính nể vị Thôi Bác này nhưng trong thâm tâm của cô nàng đã nghĩ: dù Độc chỉ Thôi Bác tốt đến mức nào đi nữa, cũng không thể nào đem so sánh với cha già của mình được!

Đương nhiên là Liễu Mi ngả về phía cha mình hơn, nàng mong chiếc cờ báu ấy vẫn thuộc về trong tay cha già mình. Đồng thời, cũng trong thâm tâm của nàng, ẩn hiện có một hình bóng, và địa vị của hình bóng cũng quan trọng không kém gì địa vị của cha già, thậm chí có thể hơn là khác, người ấy là ai? Dạ xin thưa ngay chính là chàng công tử Thượng Quan Linh của nàng ta, nếu chiếc cờ này mà Thượng Quan Linh được, và lại do chính chàng thông hiểu được những chữ nghĩa trên này trở thành đệ nhất cao thủ trong thiên hạ, như thế phải thích biết chừng nào! Vì dù sao chàng còn trẻ nhiều hơn cha già, và càng có thể hoàn thành những sự nghiệp vĩ đại của kiếp đời giang hồ hiệp sĩ...

Nhưng Liễu Mi đã chợt tỉnh ngay với những ý nghĩ quá mơ mộng của mình, người yêu đã quyên sinh tại Đại Ngũ Trì trên đỉnh Phòng Sơn, từ nay âm dương hai cõi xa nhau, những ý nghĩ của mình chẳng qua chỉ là ảo tưởng, và là thứ ảo tưởng không bao giờ thành hình được! Bất giác nước mắt nàng tuôn ra đầm đìa.

Thanh Thông bang chủ là người thứ nhất phát hiện con gái mình khóc, vội lên tiếng:

- Kìa con gái ngoan của cha! - Nói xong ôm choàng ngay lấy con gái vào lòng, lão bang chủ tưởng đâu con gái mình khóc vì chuyện chuyến cờ, nào hay đâu trong lòng cô con gái quí lại còn chuyện đau khổ thầm kín hơn nhiều. Được ôm trong lòng cha già Liễu Mi lại càng khóc thành tiếng!

Độc chỉ Thôi Bác bất giác cũng tỏ ra thái độ hiền hòa từ từ hỏi:

- Chuyện gì mà Liễu cô nương thương tâm như thế. Phải chăng vì cái này?

Nói xong cầm ngay chiếc cờ nhỏ, từ từ bước sang và giao ngay chiếc Tiểu Đoạt Hồn Kỳ ấy cho Thanh Thông bang chủ Liễu Khải.

Cử chỉ ấy, khiến cho mọi người kinh ngạc không ít và chính Gia Cát Dật và Hầu Hạo cũng tưởng đâu rằng Độc chỉ Thôi Bác sẽ chiếm làm của riêng, nay biết mình đã hiểu lầm. Độc chỉ Thôi Bác quả không hổ là người ngồi ghế thứ nhất trong vũ lâm, nhất là phong độ không tham lam, không ỷ tài ức hiếp, khiến thiên hạ khâm phục vô cùng. Giờ có đến Liễu Mi cũng phải ngừng tiếng khóc, nàng tròn xoe đôi mắt đứng nhìn sửng vị kỳ nhân cái thế trước mắt.

Thôi Bác mỉm cười hỏi rằng: - Thế không biết Liễu lão bang chủ đã thông hiểu nổi những kỳ văn trên cờ này chưa không biết?

Liễu Khải nghiễm nhiên trả lời rằng:

- Lão phu quá ngu muội, nên còn chưa am hiểu tí gì về những văn tự trên đồ là nghĩa gì, còn mong đại hiệp vui lòng chỉ giáo nhiều cho.

Độc chỉ Thôi Bác khẽ ngước đôi mày rằng:

- Theo tôi vừa rồi quan sát, trong mười tám chữ trên cây cờ ấy, rõ ràng có liên quan với những lời truyền tụng của thiên hạ trong giang hồ!

Mọi người nghe Thôi Bác sắp sửa thuật nói về lai lịch chiếc cờ Đoạt Hồn Kỳ nhỏ này, ai nấy chăm chú để lo theo dõi câu chuyện.

Tiếng Thôi Bác rằng: - Đời tôi rất thích nghiên cứu về loại cổ tự văn kiện, nên khi thấy những văn tự cổ lỗ trên cờ, trong bụng nổi hứng ngay nên không ngần ngại gì để nghiên cứu xem. Nhưng.sau khi tôi xem kỹ, phát giác tuy trong mười tám chữ này hơi giống loại chữ triện nhưng nó lại không ra lối chữ triện hẳn. Cũng không phải chữ giáp cốt (loại chữ khắc trên xương và mai rùa), mà cũng chẳng phải lối chữ chung đỉnh (lối chữ chạm trên chuông và đỉnh lư đồng). Nhưng ngượng quá! Tôi không làm sao biết nổi nó thuộc loại chữ gì, lẽ đương nhiên càng không hiểu ý nghĩa của nó.

Câu nói này của Độc chỉ Thôi Bác khiến cho mọi người thất vọng hẳn, Thanh Thông bang chủ vội hỏi:

- Nếu vậy, Thôi đại hiệp cỏ thể nhận được mười tám chữ này là thuộc thứ văn tự thông dụng của quốc gia nào không? Độc chỉ Thôi Bác rằng:

- Theo tôi đoán mười tám chữ ấy, rất có thể là loại cổ văn của nước Thân Độc đời xưa, và nước Thân Độc ấy chính là tên nước đời xưa của Thiên Trúc ngày nay, lại có tên là Hiền Đậu, theo sự ghi chép trong địa chí, nước ấy nằm về phía Nam của Trung Thổ, và phía Bắc của Hắc Thủy, giống người ở đây da ngăm đen. Những tăng lữ của cổ quốc Thân Độc được gọi là Bà La Môn, địa vị tuyệt cao được. người kính trọng, những kinh của họ tụng niệm, hoàn toàn giống hệt với những văn tự ghi trên cây cờ của Tiểu Đoạt Hồn Kỳ vậy!

Mọi người kinh ngạc không ít, nàng Liễu Mi cũng khá uyên bác về học vấn, nghe vậy bèn hỏi ngay:

- Thưa Thôi thúc thúc, nếu vậy có thể là lối Phạn văn (lối chữ Ấn Độ xưa) không chừng?

Độc chỉ Thôi Bác thấy mặt nàng Liễu Mi còn chưa ráo nước mắt, bèn cười nói rằng:

- Cũng có thể nói nó là lối Phạn văn, nhưng không phải là lối Phạn văn thông dụng ngày nay đâu, mà lại là một thứ Phạn văn cổ xưa, trong đương kim ngày nay chỉ trừ những đệ tử của Bà La Môn bên Thiên Trúc, may ra có thể biết lối chữ này, ngoài ra thật khó mà tìm được người am hiểu về lối cổ tự xưa trong đời này?

Nghe đến đây, Liễu Mi bất giác vui mừng đưa ngay cờ Tiểu Đoạt Hồn Kỳ lên chăm chú nhìn những chữ như giun rắn trên lá cờ. Thôi Bác thấy Liễu Mi vẫn còn u buồn, bèn cất tiếng hỏi rằng:

- Sao! Liễu cô nương hết buồn rồi chứ!

Nào ngờ câu hỏi này chạm đến nỗi lòng bi thảm của nàng, càng khiến nàng buông tiếng khóc sướt mướt không nguôi, khiến cho ai nấy ngạc nhiên lạ lùng.Thôi Bác hình như đã tỏ vẻ mến thích Liễu Mi, bèn hỏi ngay Liễu Khải rằng:

- Không biết lệnh ái có chuyện gì mà bi ai đến thế!?

Nhưng Thanh Thông lão bang chủ cũng chẳng biết sao con gái mình lại khóc thảm thương như thế, càng không biết trả lời sao cho câu hỏi của người ta.

Bèn quay ngay sang phía con rằng:

- Này con gái cưng của cha, con có chuyện gì uất ức sao? Mau nói đi! Thôi đại hiệp đang hỏi con đấy, chóng ngoan!...

Độc chỉ Thôi Bác cũng hòa nhã rằng:

- Liễu cô nương, nếu cô có chuyện gì khó khăn, cứ nói rõ tôi nghe, thế nào tôi cũng tìm cách giúp cô!

Liễu Mi càng khóc thổn thức và nấc lên nói rằng:

- Người ấy... người ấy đã chết rồi...

Thanh Thông bang chủ ngơ ngác rằng:

- Ai! Con muốn nói ai đã chết?...

Liễu Mi không trả lời chỉ khóc nức nở.

Tiếng khóc Liễu Mi làm cho mọi người phải mủi lòng, ai nấy cố khuyên hỏi, Nam bút Gia Cát Dật cố trấn tĩnh tinh thần buồn rầu rằng:

- Kẻ chết chính là Thượng Quan Linh. Nó vốn là đồ đệ của tại hạ! Và cũng là bạn thân của Liễu cô nương...

Câu nói của Gia Cát Dật vừa thoát ra, Độc chỉ Thôi Bác và Thanh Thông bang chủ chưa cảm thấy có phản ứng gì, nhưng riêng Hầu Hạo, thình lình nhảy tung người lên, đưa tay ra nắm chặt ngay Nam bút Gia Cát Dật hấp tấp hỏi rằng:

- Thưa sư thúc! Ngài nói sao? Sư... sư đệ của con đã chết rồi. Có thật thế không?...

Gia Cát Dật biết cảm tình Hầu Hạo và Thượng Quan Linh rất khắn khít với nhau, còn thân hơn tình anh em ruột là khác, không ngờ câu nói này làm xúc động cho Hầu Hạo đến thế. Đến đây thầy trò của Gia Cát Dật không khỏi gợi lên những nỗi niềm nhớ thương, khiến cho Nam Bút nghẹn ngào không nói nên lời chỉ khẽ gật đầu trả lời câu hỏi của Hầu Hạo.

Hầu Hạo công lực chưa khôi phục, nay nghe hung tin của sư đệ mình như vậy, sự đau buồn uất hẳn lên, chàng lập tức chết giấc tại chỗ. Mọi người lo cuống lên cứu tỉnh Hầu Hạo, Liễu Mi thấy Hầu Hạo tình nghĩa sâu nặng như thế, càng xúc động khóc sướt mướt thêm không nguôi, Hầu Hạo từ từ tỉnh lại, Độc chỉ Thôi Bác khẽ lẩm bẩm rằng:

- Thôi đúng rồi! Chị em Châu Thị từng nói với ta về thiếu niên ấy, nhưng hắn chẳng đã cùng trốn thoát với Liễu cô nương tại Phi Các ma cung là gì?

Nam Bút lúc này nghe Thôi Bác lẩm bẩm một mình như vậy bèn cố cưỡng chế nỗi lòng bi ai của mình để thuật hết mọi tình hình của Liễu Mi và Thượng Quan Linh sau khi trốn khỏi Vô ảnh Phong, và cũng ngay đêm thoát nạn này, hai người bị chia tay. Thượng Quan Linh gặp phải kình địch và bị trúng Phủ Chưởng Hàn độc công, thương tích không thể nào cứu, và chính không muốn Liễu Mi phải thương tâm, nên đã lén đi tìm cái chết trong hoang vắng! Không ngờ giữa đường lại gặp bào muội của Hầu Hạo là Đông Phương Đình, lại nhận lời trọng thác của Song kiếm thư sinh Đông Phương Kiệt, nên phải tiếp tục hộ tống nàng Đông Phương Đình bôn ba trên dặm trường.

Độc chỉ Thôi Bác chăm chú nghe theo lời thuật của Gia Cát Dật, thần sắc càng lúc càng đăm chiêu, còn Hầu Hạo lại càng ngớ ngẩn giương tròn mắt ngó Nam Bút và nghe câu chuyện vẫn tiếp diễn ly kỳ.

Nam bút Gia Cát Dật tiếp tục kể: nào về sau Liễu Mi bí mật theo dõi hành tung của Thượng Quan Linh, và mấy lần ra tay trợ cứu ngấm ngầm trong cơn kịch nguy. Nhưng kết quả là bảy ngày sống thừa của Thượng Quan Linh đã hết, và chàng đã tỏ hết mọi sự thật cho Đông Phương Đình biết, đơn thân độc mã leo ngay lên Đại Ngũ Trì trên Phòng Sơn để tìm nơi chết thanh tao, đến chừng Liễu Mi hay tin lại cứu thì đã muộn...

Nam Bút vừa thuật hết chuyện, Hầu Hạo và Thôi Bác hình như hai người cùng phát tiếng lên hỏi cùng một lượt là: hiện nay nàng Đông Phương Đình ở đâu? Nam Bút lại thuật sơ về chuyện mình bắt gặp họ và cho biết nay Đông Phương Đình và Hạ Quyên cùng trọ tại một khách sạn trong thành Nhữ Châu.

Hầu Hạo tuy mừng là sắp sửa được thấy em gái ruột mình, nhưng khi nghĩ đến lời thuật của Gia Cát Dật, sư đệ Thượng Quan Linh, trong bảy ngày sống thừa ấy hết lòng bảo hộ cho em mình, mang vết thương nặng trên người mà vẫn tử chiến với địch, trong lòng càng cảm thương cho Thượng Quan Linh. Hầu Hạo lúc này chỉ biết gầm mặt xuống khóc như mưa về sư đệ của mình.

Độc chỉ Thôi Bác cũng đâm ra bàng hoàng, suy nghĩ một chập, mới lẩm bẩm rằng:

- Không biết rõ rằng thiếu niên này đã chết chưa?

Nam bút Gia Cát Dật và Thanh Thông bang chủ đều nghĩ thầm trong bụng rằng: vị Thôi Bác này quả là người kỳ lạ thật, đã gieo mình xuống một hồ nước mà đến lông ngỗng còn phải chìm như Đại Ngũ Trì trên Phòng Sơn, đâu lý còn toàn mạng cho được! Rõ lẩm cẩm.

Thôi Bác bỗng rằng:

- Thôi! Liễu cô nương và Hầu Hạo hãy tạm ngưng cơn bi ai lại đã, nước hồ của Đại Ngũ Trì tuy không thể nổi được lông ngỗng, nhưng không thể nào làm gì nổi đến Đại Hắc của ta, để ta phái ngay nó tới đó xem tình hình ra sao, nếu quả số mạng là người kiết nhân thiên tướng thế nào Thượng Quan công tử cũng không hề gì, và Đại Hắc thế nào cũng cứu ra được, còn nếu chẳng may...

Nói tới đây, Đoạn Trường Nhân đưa mắt nhìn mọi người, thấy cả đến Thanh Thông bang chủ Liễu Khải cũng rầu rĩ ngậm ngùi, Thôi Bác cũng động lòng, bèn rằng:

- Thật ra thì thiếu niên này tôi chưa hề được thấy mặt, nhưng đã là môn đệ của Gia Cát Dật, và bạn tốt của Liễu cô nương và Hầu Hạo, và cứ suy theo lời thuật lại của mọi người như thế, tình đời lận đận như thế, kể ra cũng đáng thương thật, nhất là tính tình lại chính hiệp nghĩa, quả là những mẫu người lý tưởng của chúng ta, chính đến ta đây cũng cảm thấy mến tiếc lắm... Nếu quả thật may mắn y còn sống trên trần gian này, và Đại Hắc đem được y về Mặc Phụ Sơn của ta, dẫu cho là độc thương đến mức nào đi nữa, ta cũng có thể chữa khỏi cho y. Theo ý ta nghĩ thì người hiền gặp lành, may ra còn nhiều hy vọng cứu, vậy chớ nên bi thương làm gì trong lúc này!

Dứt lời Độc chỉ Thôi Bác lẩm bẩm những tiếng lạ lùng với chim ưng một hồi, thình lình con chim ưng Đại Hắc tung mình bay vọt lên và biến dạng ngay trong đám mây.

Chim ưng bay khuất dạng xong, Độc chỉ Thôi Bác mới quay lại nói rằng:

- Giờ xin phiền Nam bút Gia Cát Dật dẫn lối để cho huynh muội Hầu Hạo tương phùng đoàn tụ với nhau.

Thế là cả đoàn người rời ngay khỏi núi mỏ đồng. Gia Cát Dật đi trước dẫn đường, Độc chỉ Thôi Bác lấy ra hai đóa hoa đỏ nuốt xong ung dung đi cùng với Liễu Khải, đôi bên trò chuyện có vẻ tương đắc hợp ý với nhau lắm!

Chẳng bao lâu, mọi người về đến thành, Gia Cát Dật đưa mọi người về ngay khách sạn. Hai nàng Đông Phương Đình và Hạ Quyên thấy Liễu Mi và Độc chỉ Thôi Bác về một cách yên ổn như thế, vui mừng quá đỗi. Nhất là Đông Phương Đình sau khi được Gia Cát Dật dẫn kiến cho biết anh ruột mình Hầu Hạo, thấy Hầu Hạo ăn mặc lôi thôi và đầu tóc bờm sờm như thế, chẳng kể sạch dơ gì, chạy qua ôm choàng anh mình vào lòng.

Hầu Hạo cũng còn mang máng nhớ được khuôn mặt của em gái mình, giờ đây được tương phùng, thật không khác nào như trong mộng, mừng tủi giao hòa, bất giác sung sướng chảy nước mắt!

Mọi người đều mừng vui cho anh em hai người trùng phùng gặp nhau. Giờ này đã vào giờ ngọ, Liễu Khải thấy danh nghĩa của vị bang chủ Thanh Thông Hội, ra lệnh cho các thủ hạ còn hợp sức với chủ quán lo dọn ngay cơm rượu để đãi khách. Sau khi chuẩn bị xong xuôi đâu đấy cả, thủ hạ Thanh Thông Hội bèn mở mọi người vào nhập tiệc. Độc chỉ Thôi Bác, Thanh Thông bang chủ Liễu Khải, Gia Cát Dật, Hầu Hạo, Liễu Mi, Hạ Quyên, Đông Phương Đình, Phích lịch nhị lang Sở Canh, và mấy vị hương chủ của Thanh Thông Hội cùng ngồi một bàn.

Trong cuộc tiệc ai nấy lo kính rượu mời Độc chỉ Thôi Bác và vị cái thế kỳ nhân cũng đáp lễ mời lại mọi người, nhưng khi mời đến lượt hai anh em Hầu Hạo, Thôi Bác đã tỏ ra cử chỉ miễn cường, khiến cho hai anh em hoảng lên, tưởng đâu mình đã có gì thất lễ với vị tiền bối kỳ nhân. Vì cả hai anh em Hầu Hạo đã từng bị uống nhầm thuốc độc xưa kia, khiến nỗi những chuyện thiếu thời đều quên hết, chẳng rõ thân thế của mình ra sao, tinh thần luôn bị dầy vò, bèn nhân ngay dịp này hỏi han với Độc chỉ Thôi Bác cho rõ lai lịch thân thế của hai anh em.

Không ngờ hai anh em vừa đưa vấn đề ra hỏi, nét mặt Thôi Bác bỗng ảm đạm ngay, và cho biết rằng: trong đương kim ngày nay, những người biết được thân thế của hai anh em, duy chỉ có bốn nhân vật hiệp nghĩa trong giang hồ biết mà thôi, một vị là liệt danh trong nhóm Càn Khôn Ngũ Tuyệt là Tây đạo Thiên Si, cũng tức là thầy của Hầu Hạo, còn hai người nữa là cha con họ Đông Phương, tức là nghĩa phụ nuôi nấng cô em, họ cũng biết rõ thân thế của hai anh em, và vị chót nữa là Độc chỉ Thôi Bác.

Và cả trong bốn người đều phụ trách cùng một sứ mạng như nhau, nghĩa là phải tìm hết cách để bảo vệ hai anh em này, và trong số bốn người ấy, trách nhiệm của Độc chỉ Thôi Bác là trọng đại hơn hết, nhưng vì trong những năm gần đây buồn rầu về tâm tình, nên ẩn cư tại Mặc Phụ Sơn. Tuy biết rõ hai anh em đã có nơi dung thân, nhưng lại không chịu tìm kiếm ngay, và phía bên cha con họ Đông Phương bị lộ tung tích, và bị dồn dập vì các uy hiếp đưa đến, kết quả là Đông Phương Tường bị chết, và Đông Phương Kiệt lo sứ mạng bao vệ em gái về miền Nam, nhưng kết quả cũng lại bị hy sinh tại dọc đường. Và sự hy sinh này chính là do lỗi sơ ý của Thôi Bác mà nên nông nỗi, cho nên trong lòng Độc chỉ Thôi Bác cảm thấy hối hận vô cùng!

Về lai lịch thân thế của hai anh em, theo lời Thôi Bác, thì hai anh em này có liên can mật thiết đến một bí mật rất lớn, và chính Thiên Si đạo trưởng cũng không tiết lộ chuyện này, và cả cha con Đông Phương Tường khi nhắm mắt cũng chưa nói rõ ra, và nay cả đến Thôi Bác cũng cảm thấy thời cơ chưa tiện lợi, tạm thời không tiết lộ ra là thượng sách hơn hết!

Nhưng Đông Phương Đình đã đề nghị ra một lời thỉnh cầu: tuy vẫn chưa biết rõ về nguồn gốc lai lịch thân thế của mình, nhưng ít nhất họ thật thụ của hai anh em cũng nên cho biết, chứ ai lại mang tiếng anh em ruột mà anh thì Hầu Hạo em lại Đông Phương Đình nghe sao cho ổn!

Thôi Bác sau khi trầm ngâm suy nghĩ một chập, vẫn cho rằng đừng biết rõ trong lúc này vội, cứ tạm dùng theo tên cũ cái đã. Thôi Bác cũng cho hay là hiện chị em Châu Thị Nhị Điệp vẫn còn ở trên Mặc Phụ sơn, và bây giờ tạm đưa Hầu Hạo và Đông Phương Đình về núi đã, chờ cho Đại Hắc về báo tin xem sao rồi định liệu. Đồng thời an ủi Liễu Mi cứ yên trí cùng với cha già về Lạc Thủy đã rồi chờ tin tức sau, và đương nhiên Thôi Bác sẽ sai Đại Hắc báo tin nhanh cho. Còn phần Gia Cát Dật phải lo đưa nàng Hạ Quyên về ngay quê nhà của nàng, thế là sau buổi tiệc vui vẻ, ai nấy lo chia tay tạm biệt nhau, Liễu Mi buồn hơn ai hết, nàng lủi thủi theo cha già lên đường về Lạc Thủy.

Đây xin quay về câu chuyện của tuyệt đỉnh trên Đại Ngũ Trì của tỉnh Ngạc Tây (phía Tây của tỉnh Hồ Bắc)!

Sau khi Thượng Quan Linh gieo mình nhảy xuống hồ nước của Đại Ngũ Trì, chàng cũng thấy toàn thân mình cứ chìm dần xuống mãi... nước lạnh buốt xương, khó chịu vô cùng, chàng nghĩ làm sao mình có thể mau mau chết đuối thì hay biết chừng nào, không thì vết thương Phủ Chưởng Hàn tái phát thì mình làm sao chịu nổi sự đau đớn của nó! Chàng vẫn cảm thấy mình đang bị chìm xuống nhưng quái lạ, hình như Đại Ngũ Trì này không đáy hay sao?

Và cũng chính do sức buốt lạnh ấy đã kích thích trí giác của chàng, nên Thượng Quan Linh càng kinh ngạc lạ lùng, sao từ nãy giờ mà mình vẫn còn chưa bị chết đuối kìa? Chuyện gì quái lạ thế nhỉ?...

Nhưng lập tức Thượng Quan Linh tìm ngay ra nguyên nhân - đó là vì chất nước ở đây quá lạ lùng, nhẹ hơn cả một chất dầu thường, và trơn mướt lạ lùng, rõ ràng là toàn thân mình đều nằm trong lòng nước, nhưng lạ cái là chất nước này lại không chui vào tai mắt mũi để khiến cho mình bị ngộp thở hay sặc mà chết đuối, trái lại vẫn thở hít được như trên bờ mới lạ! Đi tìm cái chết mà cũng khó khăn thật! Trong lòng Thượng Quan Linh vô cùng kinh lạ với sự kiện trước mắt mình.

Chẳng biết là được bao lâu nữa, chàng biết mình đã chìm hẳn tới đáy trì, Thượng Quan Linh nhìn kỹ đáy trì nhẵn trong như được lót bằng ngọc thạch vậy, trông cũng na ná như lối kiến trúc trên Phi Các ma cung trong Vô ảnh Phong vậy, trơn tru sạch sẽ, không cặn bẩn gì.

Thượng Quan Linh bèn lững thững đi ngơ ngơ dưới đáy trì nhẵn nhụi như mặt cẩm thạch ấy, trong bụng cũng không khỏi tức cười, sao ông trời lại khéo sinh ra cái quái trì lạ lùng này, người tự tử lại ngang nhiên không bị chết đuối, thôi thì mặc kệ, không chết đuối cũng chẳng sao, có lẽ tại mình không có số chết về nghiệp nước chăng? Định mạng đã ghi mạng mình phải chết về Phủ Chưởng Hàn! Đành chịu vậy, trước sau gì mà chẳng chết! Và hãy can đảm chờ cái chết quằn quại đưa đến vậy!

Nghĩ vậy, Thượng Quan Linh bỗng lại cảm thấy tâm hồn mình thư thái dễ chịu lạ lùng, chàng nghĩ mình được chết vào một nơi thủy cung tiên như thế này còn gì sung sướng hơn, và chẳng ai tìm ra được xác mình, như thế hay biết mấy! Thật là một cỗ quan tài lý tưởng nhất trần gian!

Nhưng hơi tiếc cái sức lạnh buốt khó chịu, và chàng nhẩm tính thời gian, cơn độc phát ra để đưa hồn mình vào thế giới khác cũng còn một đoạn thời gian tương đối nữa, lúc này thân đứng dưới đáy trì, vừa lạnh, trong mình thật khó chịu vô cùng. Thượng Quan Linh đành lần theo ven đáy trì bước đi khơi khơi, đi được một quãng, bỗng phát hiện một cái cửa lớn ngay tại vách trì. Hai tấm cửa lại như bằng ngọc thạch. Giữa hai cánh cửa lại có hai khoen tròn bằng vàng chói lên, trông vô cùng thích mắt.

Thượng Quan Linh thầm nghĩ, sao lại lắm cảnh lạ lùng thế này? Nhưng thây kệ! Mình cứ đẩy bừa thử cửa bằng ngọc thạch này vào trong xem có gì lạ. Chàng đưa tay đẩy, cửa mở ngay, chàng vừa bước vào, cánh cửa lập tức tự động đóng ngay lại như cũ! Thượng Quan Linh cảm thấy trong mình hơi ấm áp: nhưng lạ hơn nữa là ở nơi đây lại không có lấy một giọt nước nào, xung quanh người không khí có vẻ khô ráo trong sạch.

Một mùi thơm thoang thoảng đã đưa ngay vào khứu giác chàng Thượng Quan Linh. Chàng càng đâm ra háo kỳ, bước men theo mùi thơm đi tới...

Dần dà chàng nhận ra trong đây là một ngôi thạch thất lớn, chỉ cách nhau có mỗi một cánh cửa, ấy thế mà bên này lại không có lấy một giọt nước, ngoài sự có không khí ra lại còn có cả ánh sáng nữa, sau khi Thượng Quan Linh tỉ mỉ quan sát, phát giác trong những bức vách ở đây đều có chất lân tinh, óng ánh phát ra sức sáng như thế. Nhưng thấy ngôi thạch thất dài thành hình chữ nhật này thông suốt ra mãi tít đằng xa, trên vách ngoài những hình người được chạm trổ tinh vi ra, không còn thấy vật gì khác nữa, dưới nền toàn là đá màu trắng phát sáng hẳn, trơn nhẵn vô số kể, nhìn kỹ thì toàn bằng đá cẩm thạch thượng thặng cả.

Chương 55: Tuyết tan hoa nở

Thượng Quan Linh lúc này không khác gì như kẻ nằm mơ, thầm nghĩ: một nơi hoang vắng của Đại Ngũ Trì đây, sau lại có một đáy hồ tuyệt thế này? Xem ra không phải một cảnh thiên nhiên mà chính ra là một cảnh nhân tạo rõ ràng, quả thật không thể nào tưởng tượng nổi. Sức lạnh trong người bớt đi, nhưng cơn đói tăng lên kinh khủng. Những tiếng sôi bụng ục ục nổi lên từng hồi, bụng nghĩ: làm sao trước khi chết mình cũng phải ăn no chứ, ai lại dại gì làm ma đói! Nhưng trong thạch thất này lấy đâu ra thức ăn? Thượng Quan Linh đành đưa chân bước đi lang thang và chàng cố để ý từng nơi khả nghi của thạch thất. Đi được một chập, bỗng thấy phía trước hiện ra một vật đen ngòm, đứng xa nhìn, trông phảng phất như một con thú dữ lớn, hình thù quái đản, Thượng Quan Linh bất giác đứng khựng lại. Chàng cố nhìn kỹ quả là một con thú dị hợm mà xưa nay chàng chưa thấy qua bao giờ. Trông nó cao lại vừa lớn, bề cao của thạch thất có gần hai trượng, thế mà lưng con quái vật lại kề giáp với đỉnh thạch thất, đầu nó cúi sát xuống, nhìn tổng quát con quái vật trông không khác gì con Tích dịch (loại kỳ đà chàng hiu) khổng lồ, toàn thân nó có đến ba bốn trượng, châu thân vi vẩy láng bóng, phía sau cả chiếc đuôi dài lòng thòng, và bốn chiếc chân ngắn cứng cát bám sát trên mặt đất, trông chẳng khác nào như bốn cột trụ nhà đang dựng bốn góc cân đối vậy!

Nhìn kỹ bộ mặt của con quái vật Tích dịch khổng lồ nó có một chiếc đầu khá đồ sộ, một đôi mắt xanh lè to bằng miệng bát lấp lánh ánh sáng, miệng hơi hé mở và để lộ hẳn những hàm răng nanh kinh khủng ra!

Dẫu cho chàng Thượng Quan Linh có to gan bạo phổi đến đâu, trong tình cánh này chàng cũng không khỏi nơm nớp lo trong bụng, chỉ thấy mõm con vật nhô hẳn ra, Thượng Quan Linh tính quay mình chạy cho xong, nhưng bỗng chàng phì cười ngầm, rõ lẩm cẩm, đã định tìm chết mà lại còn sợ chết sao? Nếu tí nữa phải chết quằn quại về vết thương độc hành hạ đau khổ, chẳng thà mình gửi ngay thân vào con quái vật này là yên ổn hơn? Thế là chàng bạo gan đứng lại và bước ngay phía trước mặt con quái thú dị hợm! Chàng không đám mở mắt, bụng nghĩ chuyến này thế nào cũng toi mạng, và sẵn sàng chịu đựng sự ngấu nghiến kinh khủng trong hàm răng cưa của con quái vật khổng lồ. Nào hay chàng nhắm mắt đứng đợi cả đỗi, vẫn không thấy con Tích dịch khổng lồ sơi mình, và cũng chẳng nghe nó động đậy gì. Thượng Quan Linh lấy làm lạ, chàng hé mắt, con vật khống lồ vẫn uy nghi, đôi mắt long lanh màu lục quang, nhưng chẳng thấy nó gầm hét hay nhảy vọt qua, mà chỉ trơ trơ đôi mắt đứng nhìn Thượng Quan Linh, không hề nhúc nhích hay động đậy.

Thượng Quan Linh tự hỏi: không lý con vật khổng lồ này đã chết rồi hay sao? Chàng cố ý bước sát thêm một bước, con vật vẫn bất động: Thượng Quan Linh lại tiến thêm một bước, thân đã sắp kề sát đến mõm con vật nhô hắn ra ấy, nhưng con quái vật khổng lồ này vẫn trơ trơ ra đó. Lúc này chàng mới xác thực là con vật khổng lồ này đã chết từ lâu, chàng bực mình rủa:

- Đồ chết toi! Mi mà cũng cả gan lừa ghẹo ta hả?

Dứt tiếng chàng vung chưởng đánh thẳng vào chiếc mõm dài của con vật vô tri ấy, nghe rầm một tiếng, chẳng khác nào như đánh phải sắt đá vậy, khiến cho tay Thượng Quan Linh tê buốt đau nhói, may là chàng chỉ mới dùng hai ba phần công lực nếu không lại chẳng bị tét hổ khẩu và ứa máu tay mới là chuyện lạ đời!

Thượng Quan Linh càng tức mình, rút phắt ngay cây Lệ thủy tinh kiếm bên mình chém phạt tưng bừng vào con quái vật khổng lồ, nhưng chẳng ăn nhằm gì với bộ giáp vô cùng cứng rắn của nó, dù cho chàng Thượng Quan Linh đã vận hết chân lực vào cây kiếm vô cùng sắc bén của mình, rút cục vẫn không làm gì nổi con quái vật, nó vẫn trơ trơ với thân mình đồ sộ đứng ỳ ra đó! Tuy đường kiếm chém tóe đom đóm lửa, và tiếng kiếm vang lên những tiếng coong coong kinh người! Thượng Quan Linh càng kinh hãi, chỉ sợ cây kiếm quí bị tổn hại, vội vàng ngừng tay xem lại ngọn kiếm, nghĩ rằng đáng lẽ mình không nên đem theo cây kiếm quí bên mình để xuống dưới đáy Đại Ngũ Trì này, đáng lý ra phải đem tặng cho Liễu Mi hay là sư huynh Hầu Hạo mới đúng, như vậy kiếm được gặp minh chủ và nó sẽ tiếp tục lập công nghiệp cho chủ nhân mới của nó. Nay xem ra, cây kiếm này không còn bao giờ xuất hiện trên thế gian nữa, nó sẽ nằm dưới đáy trì này muôn đời, sau khi mình chết đi, và bao nhiêu năm sau đó, khi mà thi hài ta chẳng còn một di tích gì để lại nhưng cây kiếm này vẫn trơ trơ phơi gan với tuế nguyệt. Nhưng nào đâu có ai có thể phát giác về bí mật dưới đáy của Đại Ngũ Trì này cơ chứ? Càng nghĩ đến cây bảo kiếm từ nay bị trầm luân, Thượng Quan Linh càng buồn rầu, chàng nạp ngay kiếm vào vỏ, trong lòng bơ vơ vất vưởng!

Chàng thả bước bâng quơ vào dưới bụng con vật khổng lồ, chàng cảm thấy bốn chân to bằng trụ đình ấy đang chịu hết toàn thân xác của con vật một cách hiên ngang, và chàng cảm thấy mình không khác nào đang đứng trong mái đình làng vậy. Thượng Quan Linh tính nhẩm, sắp tới giờ độc thương Phủ Chưởng Hàn của mình bộc phát rồi đây, mình gửi nắm xương khô dưới bụng con Tích dịch này cũng được lắm. Thế là chàng ngồi sát vào hai mông đùi sau của con quái vật khổng lồ chờ đợi cái chết của mình sắp đến. Nhưng chỉ trong nháy mắt, bỗng có một mùi thơm nhẹ nhàng bay thoảng qua mũi chàng, Thượng Quan Linh hé mắt ra nhìn, cách mình không xa, thấy trên mặt đất mọc sẵn một cây nhỏ bằng đốt ngón tay, và trên ngọn cây ấy lại nở đóa hoa nhỏ trắng như tuyết.

Mùi thơm chính do đóa hoa trắng ấy tỏa ra, Thượng Quan Linh lấy làm lạ, suốt từ lúc trầm mình xuống đây đến giờ, biết bao nhiêu sự kiện ly kỳ đã khiến cho đầu óc chàng mất hẳn với ý thức tại của nó. Trạng thái của chàng đâm ra mơ hồ. Chàng đứng dậy và bước ngay đến ngắt đóa hoa đưa lên mũi ngửi mạnh, nhưng khi có hơi người gần đến, đóa hoa lập tức ủ rũ ngay và héo hẳn, nhưng nó đã biến ra một mùi thơm dịu lạ lùng. Thượng Quan. Linh vội tận hưởng hết những mùi thơm do đóa hoa tiết ra. Bỗng chàng cảm thấy trong mình khoan khoái vô cùng, cả một sự thư thái trong người, thuận tay chàng bứt luôn cây của nó bỏ ngay vào miệng nhai ngấu nghiến và nuốt ngay vào bụng mình, mùi thơm sặc đầy miệng, chàng nhận thấy trong người mình lúc này hây hây lạ, tứ chi bách cốt trong mình, không một chỗ nào mà không cảm thấy khoan khoái, chàng bèn ngồi xuống nghỉ ngơi, nhưng chẳng bao lâu, chợt nhiên chàng cảm thấy kinh lạ, sau khi ăn đóa hoa trắng và cả cuống hoa của nó, trong bụng không còn cảm thấy đói và lạnh nữa.

Chàng sung sướng mỉm cười, và cho rằng ông trời quả nhiên đã không bạc đãi mình, trước khi tuyệt mạng sống lại còn may mắn gặp những sự ly kỳ thế này, không những đã tìm ra một nơi chết lý tưởng như đây mà cả đến nguyện vọng không muốn làm ma đói cũng đã thành đạt! Chàng không còn ân hận gì nữa! Tính nhẩm, hạn bảy ngày cũng sắp đến rồi, giờ đây mình vừa ấm lại vừa no, có thể yên tâm chờ đợi tử thần lại rước đi, chàng ung dung bước vào dưới bụng con quái vật tĩnh tọa, nhắm mắt vận công, trong óc ngầm khấn vái và cầu nguyện, xin cho độc thương trong mình phát ra, làm sao cho chàng được chết ngay tức khắc thì hay, chớ để phải chết trong quằn quại đau đớn thì khổ thân lắm! Khấn xong, Thượng Quan Linh hồi hộp ngồi đợi thời gian đưa đến. Và cũng trong lúc này, chàng mới hiểu rõ chữ chết. Thì ra cái chết cũng không phải dễ dàng gì, nhất là người sống phải chờ đợi cái chết, quả là một sự hành hạ tinh thần đến cực độ. Cũng không biết chờ đợi được bao lâu rồi, Thượng Quan Linh dần dần cảm thấy mệt mỏi, và chàng chợp mắt gửi hồn mình vào làng mộng.

Giấc ngủ của chàng tuy say sưa, nhưng chàng vẫn không quên đây là những giờ giấc cuối cùng nhất của đời chàng, và chàng ao ước giấc mộng sẽ không bao giờ còn tỉnh lại với mình, nghĩa là chàng vẫn muốn chết trong một không khí bất tri bất giác thì tuyệt dời! Thế là chàng yên tâm thả hồn trong giấc mộng, chàng thường nghĩ là giấc điệp này không bao giờ mình còn có cơ hội tỉnh lại nữa... Nhưng oái oăm thay chàng vẫn phải tỉnh lại. Sau khi tỉnh, chàng đâm ra hoài nghi mình không còn sống trong trần gian thì phải? Hình như mình đang sống trong một thế giới khác!...

Chàng dùng tất cả những phương pháp của đời người thường thí nghiệm: hết cắn môi lại cắn đốt ngón tay, nhưng vẫn cảm thấy đau như thường, và còn thấy có máu là khác, chứng tỏ mình hãy còn sống nhăn trên trần gian, thật không thể nào tưởng tượng được, thời gian tận số chưa đến với mình sao? Hay ngọn độc công của Phủ Chưởng Hàn kém công hiệu? Nhưng không thể nào như thế? Luận về thời gian, kỳ hạn bảy ngày đã hết từ lâu, nói về độc công Phủ Chưởng Hàn, lão bà đã coi mình như kẻ đại thù nghịch, sau khi thắng một chường, đã không nhân cơ hội dồn mình vào ngay tử địa mà bỏ đi như thế, chứng tỏ người ta đã cầm chắc vận mạng của mình trong tay! Độc ý thâm ác của địch là muốn cho mình bị chết trong sự quằn quại đau khổ!

Lại nữa Hoạt thương công Hoa Diệp Tử lại là bực hiệp y trứ danh trên giang hồ, lời nói của ông ta đâu có lý sai? Thượng Quan Linh nghĩ liên miên những vấn đề lạ lùng trong đầu óc mình, nhưng tinh thần chàng cảm thấy minh mẫn, trong mình như đầy đủ sinh lực, không có triệu chứng gì là độc thương sắp bộc phát. Chàng lại cố chờ đợi thêm, dần dà chàng đã chịu không nổi cảnh tịch mịch xung quanh, bèn đứng dậy bước loanh quanh sau một giấc ngủ, chàng cảm thấy bụng mình không hề thấy đói. Thượng Quan Linh bước vượt khỏi đuôi con Tích dịch, đi được chừng lối ba mươi bước, chỉ thấy là lối tận cùng của ngôi thạch thất, trống rỗng và không thấy một vật gì, chàng bất giác cảm thấy thất vọng.

Thì ra cả một ngôi thạch thất to lớn này, ngoại trừ con quái vật khổng lồ Tích dịch đứng giữa nhà với thế rùng rợn kinh khủng của nó, và những chất lân tinh lấp lóe của vách tường tỏa ra, không gì khác lạ thêm. Thượng Quan Linh bất giác lại chán nản trong người, thầm nghĩ: dù cho mình may mắn không chết cũng không làm sao mà ra khỏi ngôi thạch thất này nữa, và những lời tương truyền của dân gian về hồ Đại Ngũ Trì, đến lông ngỗng còn không thể nào nổi lên mặt nước được huống hồ là con người? Xem ra mình không bị chết về độc thương Phủ Chưởng Hàn, cũng bị chết cóng về thạch thất đồ sộ này mất. Nhưng Thượng Quan Linh đã bước thử lại phía tận cùng để quan sát xem có gì lạ nữa không, nhưng phía tận cùng mờ ám ấy chàng thấy có một khoen tròn, hình như lại là một khoen cửa. Chàng đưa tay kéo ngay chiếc khoen, quả nhiên là một cánh cửa động, tiếp theo là mùi thơm ngát tỏa vào mũi chàng.

Thượng Quan Linh bước ngay vào bầu không khí thơm bát ngát này, lần này chiếc cửa cũng tự động đóng ngay lại, thế là cánh cửa trông không khác nào thạch bích nằm nguyên lại như một vách tường, nếu không có chiếc khoen tròn, đố ai nhận ra đó lại là cánh cửa động bí mật.

Thượng Quan Linh phải thần phục lối kiến trúc tài tình này, quả là tuyệt luân. Chàng buông mắt nhìn khắp xung quanh, ngoài mùi thơm ngát dịu ra, chỉ thấy ngôi thạch thất này diện tích cũng không khác gì ngôi ngoài kia mấy, nhưng đặc biệt chất lân tinh trên vách trong này có vẻ mạnh hơn bên ngoài kia, ánh lấp lóe của nó khiến cho hoa mắt. Chàng bước lại gần nhìn kỹ, thì ra vách ở đây khác hẳn, ngoài kia sần sùi lởm chởm bao nhiêu thì trong này trái lại nhẵn nhụi bấy nhiêu và trên vách này cũng chạm khắc những bức hình người nhan nhản.

Mỗi bức hình người, chiều dài ngắn đều được bốn năm thước, giơ quyền hất cước, hoặc đứng hoặc khom, mỗi một hình là một thế khác biệt nhau, càng kỳ lạ hơn nữa là những chất lân tinh ấy được chạm gắn vào mắt mũi, ngón tay ngón chân của những bức hình linh động trên vách, nhờ ánh lấp lóe ấy mà càng lộ rõ hẳn những nét linh động của hình người trên vách. Thượng Quan Linh bỗng nghĩ: không lẽ những bức hình tuyệt tinh xảo đã được người ta cố ý tạo ra để cho người xem am hiểu những động tác của bức chạm trổ tinh vi ấy. Trong mắt con nhà võ như Thượng Quan Linh, chàng nhận ngay ra tất cả những tư thế của các bức hình người chạm trổ trên vách, từ: mắt, chưởng, cước, ngón tay, ngón chân của hình người, hiển nhiên là đang diễn từng thế võ một!

Lòng Thượng Quan Linh bất giác háo kỳ, chàng bèn bắt đầu từ bức hình người thứ nhất từ nơi ngõ vào, cẩn thận chăm chú xem, chỉ thấy bức hình như đang hiểu rõ ý: bắt đầu của một lối chưởng pháp, trông điệu bộ quái dị và sống sượng vô cùng.

Thượng Quan Linh nhìn mãi, với sức học uyên bác của chàng, nhất là được sự chỉ dẫn tận tâm của Nam bút Gia Cát Dật trong thời ở Ngao Sơn, khiến chàng đối với các võ công của các môn phái trong thiên hạ, đều cũng biết được một sự tổng quát, nhưng quả thật xưa nay chàng chưa hề được thấy một chường pháp nào mà lại bắt đầu ra tay bằng lối kỳ dị này bao giờ. Chàng cố moi óc nhớ của mình về tất cả các lối mở đầu của chường pháp của hầu hết các môn phái trong thiên hạ, nhưng không có một lối mở đầu chưởng pháp nào bằng lối của bức hình thứ nhất trên vách này, ngầm cảm thấy lạ lùng! Nhìn mãi chẳng hiểu, đành bỏ bức hình thứ nhất, và quay sang nghiên cứu về bức hình thứ hai nhưng chàng càng chăm chú xem hao nhiêu thì bức hình thứ hai này lại càng rối loạn phức tạp bấy nhiêu, nhìn thét rồi chàng cũng đành chịu.

Và cứ thế chàng nhìn hết các bức hình còn lại trên vách, chỉ thấy những bức hình to nhỏ bằng nhau ấy chất lân tinh óng ánh nhoà hoa cả mắt, không làm sao hiểu nổi những điệu bộ kỳ quái bí hiểm ấy, toàn là những thế chưởng cổ quái mà xưa nay chàng chưa hề thấy bao giờ. Nhất là lối ăn mặc quái dị của những bức hình chạm trổ trên vách, chỉ thấy bức hình nào cũng để trần ngực và hở hẳn đến lỗ rốn (rún), từa tựa như những bức Phật Như Lai, trong lòng cũng hơi nghi: những bức hình trên vách này, rõ ràng không phải nhân vật trong miền Trung Nguyên, mà chính là phiên tăng (sư tăng nước ngoài) bên Tây Vực Thiên Trúc, hay Mê tông của Tạng Phái, cho nên những dáng điệu của võ kỹ biểu hiện một cách quái dị lạ lùng như trên những bức hình trạm trổ trên vách đại thạch thất này.

Thượng Quan Linh cảm thấy phấn khởi, trong hai bức vách dài thườn thượt ấy, đều trạm trổ toàn những bức hình nhà sư Tây Trúc, với những điệu bộ không bức nào giống với bức nào. Tuy chàng chưa đếm kỹ, nhưng cũng ước lượng có cả trên trăm bức hình chạm như thế là ít, trong lòng Thượng Quan Linh bèn lập ý tính học ngay những võ công kỳ dị của Tây Vực này xem sao. Thế là bắt đầu từ bức thứ nhất, chiếu đúng theo hình dáng của bức hình trên vách, đầu gối bên phải khẽ co lên, chưởng bên trái chỉ thiên, chưởng bên phải trỏ đất. Thoạt đầu chàng cảm thấy cũng bình thường, không có gì lạ, nhưng chỉ trong chớp nhoáng, bỗng cảm thấy khó chịu ngay, khí huyết rạo rực bồi hồi, vội thu ngay tay lập tức.

Thượng Quan Linh lấy làm kinh dị, không hiểu nguyên cớ tại sao? Khi luyện công lại gặp trở ngại như kỳ này quả thật xưa nay chàng chưa hề có hiện tượng này bao giờ! Nhưng chàng bỏ ngay ý định học về loại võ công kỳ dị này, chàng men theo tường vách bước đi, ước đâu hơn ba chục bước, đã đến nơi tận cùng của thạch thất, chợt chàng thấy một cỗ thạch. sàng (giường bằng đá), nhờ ánh lấp lánh của chất lân tinh chiếu sáng, chàng chập chờn thấy có một người ngồi xếp chân bàn tròn trên thạch sàng. Thượng Quan Linh vừa mừng vừa hoảng, không ngờ một nơi bí mật như đáy hồ Đại Ngũ Trì, chắc phải là một vị ẩn thế cao nhân chứ không phải tay phàm tục tầm thường.

Chàng chờ mãi, không thấy người này nhích động, bèn bạo gan cất tiếng rằng:

- Đệ tử Thượng Quan Linh, nay kính tham kiến lão tiền bối! Mong ngài khoan dung tội mạo muội đột nhập tiên đàn của ngài? - Dứt lời chàng cung kính cúi sát mình thi lễ.

Mặc dù cử chỉ hành động của Thượng Quan Linh vô cùng cung kính, tiếng nói trong rõ, nhưng người ngồi trên thạch sàng vẫn như không nghe và không thấy. Chờ mãi không thấy động tỉnh, Thượng Quan Linh lo nghĩ bụng: không lý người này cũng giống như con quái vật khổng lồ Tích dịch sao? Đã chết từ lâu? Chàng buông tiếng gọi thêm hai câu: Lão tiền bối! Nhưng vẫn tuyệt nhiên không tiếng trả lời, chàng đánh bạo gan bước gần lại xem, chỉ thấy người này ngồi im, tóc xõa ngang vai và xoắn kết từng hàng thành khu ốc, hình như đã không tắm gội từ lâu, và bộ tóc hầu như đã che kín cả khuôn mặt, nên nhận diện không rõ lắm. Nếu phán đoán theo bộ áo nhà tăng kỳ dị trên thân của người này, thì đây quả đúng là một vị tăng lữ, hình như vì thời gian ở trong này khá lâu, nên trên đầu mới có tóc dài như thế. Nhận xét chung về tướng hình của người này, hình như không phải là người ở miền Trung Thổ, mà là tăng lữ miền Tây Vực hoặc giả bên Tây Tạng, hay Phật quốc Thiên Trúc!

Thượng Quan Linh đứng tần ngần một hồi khá lâu, chàng thầm lặng suy nghĩ: chắc nhà sư ngoại quốc này có liên quan mật thiết với những bức hình chạm trổ tinh xảo trên hai bức vách kia, nay thấy nhà sư vẫn uy nghi bất động, chàng cũng không dám đoán chắc là người ta còn sống hay đã chết! Chờ mãi đâm sốt ruột, Thượng Quan Linh liền quyết tâm, tự lẩm bẩm một mình rằng:

- Không biết tiền bối là pháp sư và tiên cư tại đâu mà tọa hóa nơi đây! Chắc ngài còn di mạng (lệnh di chúc) để lại chăng, nay tiểu tử có duyên được gặp mặt ngài, nguyện xin được tuân mạng hoàn thành!

Thượng Quan Linh quên bẵng mình có sống nổi để ra khỏi động thất này không, khom lưng kính cẩn vái dài hai vái, rồi chàng nhẹ đưa tay ra khẽ thọc ngay vào mớ tóc xõa trước mặt tính vén lên để xem chân dung vị tiền bối này ra sao! Nhưng nào ngờ tay chàng cảm thấy thọc ngay vào một nơi lỗ trống hỗng, và ngấm ngầm lành lạnh! Thì ra gương mặt của vị tăng nhân này không biết đã biến đâu!

Thượng Quan Linh bất giác cẩn thận nhìn kỹ lại, dù chàng to gan đến đâu, lúc này cũng giật thót mình tái mặt nhảy vọt ngay về sau? Thì ra màn tóc xõa che phủ bộ mặt, chỉ còn lại một chiếc đầu răng trắng kinh khủng, thịt đã bị hóa từ hồi nào rồi, hai lỗ mắt và một lỗ mũi sâu và đen thui, hàm răng nhe trắng hếu, trông càng tăng thêm vẻ hãi hùng.

Thượng Quan Linh trống ngực vẫn còn đập thình thịch! Khá lâu chàng mới định thần lại được, chàng nghĩ: có lẽ xưa kia vị tăng nhân này cũng như mình bây giờ, lạc lầm vào đáy hồ của Đại Ngũ Trì, và sự đói lạnh đã khiến cho vị tăng nhân này để lại cỗ thây ma tại thạch thất này đây, căn cứ theo hài cốt này, có thể đoán phỏng chừng vị tăng nhân đã chết cách đây mười năm có dư. Bất giác Thượng Quan Linh động lòng trắc ẩn, và càng liên tưởng đến vị tăng này đâu có ngờ bao nhiêu năm qua, lại có một kẻ đi theo con đường tuyệt vọng để đến đây như mình bây giờ... chàng thở dài!

Biết mình nay đã vào đến nơi này, không còn mong tái sinh ra khỏi đây nữa, giờ sao không nhân lúc mình còn chưa chết hẳn đem chôn cất hài cốt của vị tăng nhân này, và chính đây cũng là một việc công đức cuối cùng của ta còn sống. Nghỉ xong chàng bèn lập tức lại quì ngay xuống lẩm bẩm khấn rằng:

- Đệ tử Thượng Quan Linh, nay xin mạn phép được chôn cất hài cốt của tiền bối cho chu đáo, kính mong vong linh ngài phù hộ cho đệ tử hoàn thành công việc này trong thời gian trước khi đệ tử chết.

Khấn vái xong, chàng đứng ngay dậy ra tay di động hài cốt của vị tăng nhân vô danh, khi chàng lấy chiếc áo tăng ra, những lớp bụi trắng bay tứ tung xung quanh và một bộ xương người hiện ra trước mặt chàng, chàng dưa tay đụng vào bộ hài cất, bỗng những tiếng lích kích lốc cốc vang lên, cỗ hài cốt đổ xuống thành một đống xương lộn xộn trắng hếu.

Chàng thẫn thờ, bụng nghĩ: sau này mình cũng chẳng khác gì thế! Nhưng vị tăng nhân này nay còn có mình chôn cất tử tế, nhưng liệu phần mình, sau khi chết, chắc gì có ai lại đây chôn cất cho không?... Chàng không còn nghĩ thêm những điều buồn ấy nữa. Sau khi thu gọn đống hài cốt, và chàng đếm có 31 khúc xương cả thảy, chàng nghĩ nên đựng vào một cái gì, nhưng hay nhất là một cái hộp gỗ có nắp để chôn cất thì tốt quá! Nghĩ vậy bèn đi xung quanh chiếc thạch sàng tìm kiếm, dưới ánh sáng của chất lân tinh trên vách, chàng loay hoay tìm tới tìm lui, thình lình chàng phát hiện ra một chiếc rương lớn kiên cố bằng sắt, sau khi giở nắp rương ra xem, bên trong toàn là quần áo, mà trên đống quần áo lại có một quyển sách nhỏ. Thượng Quan Linh cầm lên giở sơ, thấy có chữ tích, nhưng vì nơi thạch sàng này hơi thiếu ánh sáng nên nhìn không rõ mặt chữ. Thượng Quan Linh thầm nghĩ: chắc có lẽ đây là quyển di chúc của tăng nhân vô danh này đây cũng chưa biết chừng! Và chàng muốn lập tức biết ngay danh tánh và lai lịch của vị tăng nhân này, thế là chàng không cần kiểm điểm những vật linh tinh trong rương sắt, cầm ngay quyển sách nhỏ, đi nhanh lại gần vách tường để mượn ánh sáng của lân tinh xem trong quyển sách ghi chép chuyện gì.

Chỉ thấy trên trang thứ nhất ghi rằng:

Tháng tư Đinh Sửu Sùng Trinh năm thứ mười.Hằng Hà tăng (Tăng nhân miền sông lớn (Le

Gange), nằm phía Bắc nước ấn Độ)

Hữu Duy Na thư thạch thất

Kính đợi ngộ sư huynh Tả Pháp Phụ, hoặc kẻ có duyên phần miền Trung Thổ đến được đây!

May là những chữ trên đây toàn dùng chữ Hán tự, Thượng Quan Linh tính nhẩm ngày tháng ghi trên đây cách nay đã có trên ba chục năm, thời đó rõ ràng là mình còn chưa xuất thế, thế mà vị tăng nhân của miền Hằng Hà Thiên Trúc này quá cố rồi. Chàng bất giác càng kinh ngạc về thời gian tính xa lắc như thế, bèn từ từ giở ngay trang thứ hai để xem tiếp. Hình như vị tăng nhân xưng danh là Hữu Duy Na này rất tinh thông về Hán học, tự pháp sắc sảo nét chữ như rồng bay phượng múa, và đã ghi chép cả một sự tích khá dài! Ở trang hai của quyển sách nhỏ ghi chép rằng:

Ta tên Hữu Duy Na, người xứ Hữu Trà miền Hằng Hà, nay biết ngày chết đã kề gần, trong lòng bần thần xao động kinh khủng, không sao bình tĩnh tự ngưỡng chế nổi tâm tình của mình. Trời ơi!... ta là người qui y tam bảo, cũng là một tăng nhân từng khổ tu lâu năm, giờ này trước khi lên niết bàn, đáng lẽ linh đài phải thanh tịnh, vô suy vô nghĩ, nhưng tại sao ta lại đau khổ và buồn phiền như thế này? Thật quả đúng như lời nói của sư huynh, thân ta mang đầy tội lỗi, dù cho có dùng hết nước sông Hằng Hà để tắm gội, cũng không làm sao rửa hết tội lỗi của mình để mà lên được miền cực lạc đâu!

Nghĩ lại mười năm về trước, tại miền thánh thủy Hằng Hà của nước Thiên Trúc, trong một ngôi tịnh xá trong khu rừng Bàn Na Tha, ta và sư huynh Tả Pháp Thụ, cùng sư đệ Bối Bách Nhân, cùng lo hầu hạ sư phụ ta là Minh Quang đại sư. Sư phụ ta vốn là người miền Trung Thổ, là một vị đắc đạo cao tăng được toàn quốc khiêm kính, ta được hầu cạnh bên ngài, thật còn gì sung sướng cho bằng, và đời sống nhà chùa của ta, suốt ngày chuông mõ tụng niệm Phạn kinh, linh đài thật thanh tịnh, không một chút khổ não nào của trần tục. Sư phụ và sư huynh đều yêu thương ta, và đều dùng tịnh đế (những lẽ phải) của Phật pháp truyền giảng cho ta, càng hết lòng khuyên ta nên cố gắng, để ngõ hầu theo kịp đạo hạnh của thầy và sư huynh ta để sớm thành chánh quả, và thăng lên miền cực lạc!

Nhưng đáng tiếc ta lại là một tăng nhân đầy ma kiếp nghiệt chướng trong mình, chẳng bao lâu, cảnh thanh tịnh của Phật địa Bàn Na Tha, những cảnh vui thú xưa kia ấy, trong nháy mắt đã thành hư không, nay ta ở trong thạch thất của đáy trì này, sóng lòng phảng phất bồi hồi, vẫn còn tưởng nhớ đến những ngày sống thanh bình tại tịnh xá của Bàn Na Tha xưa kia, sự hoài niệm của ta sâu đậm vô ngần, tuy trong lòng ta vô cùng đau khổ, nhưng cũng chẳng biết làm sao hơn, cách xa sư môn, không mong gì sống mà về đến nơi, dẫu cho có võ công tuyệt vời trong người, nhưng cũng chẳng có cách gì, ta cầm bút ghi tới đây, mắt đã nhòa hẳn về những dòng lệ đau khổ. Khởi nguyên của câu chuyện, vào thời năm về trước, vào một cuối buổi của hoàng hôn ta và sư huynh ta Tả Pháp Thụ tôn giả, cả hai lo theo hầu cạnh sư phụ là Minh Quang đại sư, ba thầy trò sau khi lên một ngọn phong phía sau của Bàn Na Tha, trong lúc này ánh tà dương đã khuất núi, gió chiều tà thổi phất phơ, trong lúc này thì thấy sắc mặt của thầy ta rầu rầu không vui.

Minh Quang đại sư, tuổi trên thất tuần, đạo hạnh cao thâm, và đã sớm phá thất tình lục dục, tà ma nghiệp chướng lẽ đương nhiên không có ám ảnh gì có thể xâm hại tâm linh của thầy ta, nhưng không hiểu tại sao ngay trong lúc đó, thầy ta lại có thể có sắc mặt rầu buồn vậy, hiển nhiên trần duyên của ngài còn chưa dứt! Ngay khi đó, ta và sư huynh quì dài ngay xuống hỏi nguyên do, và thầy ta đã thố lộ tâm tình, quả nhiên nhân phi thái thượng (người vẫn không phải thánh hiền tuyệt đỉnh) đâu có thể không xúc động tâm tình được, và thầy ta vốn đến từ miền Trung Thổ, xa quê hương đã gần sáu bảy chục năm, nay công hành sắp viên mãn, và cũng sắp đến ngày phi thăng lên cõi niết bàn, đứng trước cảnh chiều tà, thầy ta cố ngóng trông về miền Bắc, và đã không làm sao cầm lòng nổi, nỗi niềm quyến luyến quê hương của mình, và ngài đã nghĩ đến trước khi tạo hóa (cái chết của nhà Phật), muốn về thăm cố hương một chuyến, và xem các thành quách và thân nhân ngày nay ra sao. Ngay lúc đó, ta và sư huynh cùng hoảng thần, sau khi biết thầy mình có ý này, thế nào cũng sinh nhiều chuyện nghi chướng, thậm chí có thể ảnh hưởng đạo hạnh của thầy ta là khác, và khi bị ảnh hưởng thế thì nhục thân làm sao thành Phật được, chưa chừng vì ý niệm này mà trầm luân trong bể khổ mất!

Ta và sư huynh Tả Pháp Thụ tôn giả, mỗi người vội đưa ngay song chưởng để giúp thầy ta vận công hầu bài trừ tất cả những tà niệm khó khăn, và hai anh em sư huynh đệ chúng ta đã cố dùng đến Vô Tướng thần công để khôi phục sức khỏe cho thầy, chỉ trong nháy mắt, sắc mặt thầy ta thay đổi hơn, và liền hối thúc hai anh em ta xuống núi về ngay tịnh xá. Hôm sau, sư huynh đến cho hay tin, mới hay thầy ta ý niệm xúc động trong giây lát, trần duyên chưa dứt, nên đã bị tà ma ngoại xâm, pháp thể khó chống nổi. Nay ngài đã nằm liên miên trên thiền sàng, tuy không đến nỗi thiệt mạng ngay, nhưng vì thầy ta đã trên sáu chục năm công hành, nay đều đã bị tiêu tan trong một lúc, vì nhớ nhung, nếu nay muốn được bách nhật phi thăng, đắc đạo chánh quả, khác nào như vẽ bánh nhìn cho khỏi đói. Ta đã hầu cạnh thầy ta gần hai chục năm, tình thầy trò thân thiết còn hơn tình phụ tử, nghe tin vậy đau lòng vô cùng, hấp tấp vội cùng vôi sư huynh vào thăm ngài trong tịnh xá sau khi đến nơi, quả đúng như lời sư huynh nói, bao nhiêu năm công tu hành của thầy ta nay đã bị tiêu tan hết, một vị cao tăng đắc đạo nổi danh trong nước, thế mà công lực nay đều mất hết, nghiễm nhiên hóa thành một tục tử phàm nhân!

Sư huynh và ta bèn thương lượng với nhau tìm cách để cứu thầy, sư huynh ta bèn cho hay rằng: nghe đồn trên tuyệt lãnh Phòng Sơn của miền Trung Thổ, có một hồ lớn được mệnh danh là Đại Ngũ Trì, dưới đáy trì có một ngôi thạch thất rất lớn, nghe đâu ngôi thạch thất này do một vị cao tăng thánh giả xây cất, trong đó nghe truyền rằng có một cây dị thảo, cả ngàn năm mới khai hoa, nếu lấy được loại hoa ấy, công lực của sư phụ chúng ta có thể khôi phục lại ngay.

Thế là sư huynh ta quyết ý ngược miền Bắc đến miền Trung Thổ để tìm cây hoa quí ấy đem về Thiên Trúc cứu trị thầy ta, mong công lực thầy có cơ khôi phục, để kịp ngày chánh đạo phi thăng, vì ta theo hầu sát cạnh thầy lâu lắm, nên học được rất nhiều Hán văn và Hán ngữ, nên bàn kỹ là cùng đi với sư huynh cho tiện lợi. Trước khi khởi hành, sư phụ ta đã bói cho hai anh em sư huynh đệ ta một quẻ về hung kiết, nhưng bói phải một hạ hạ chi quẻ (quẻ xăm xấu tệ), báo trước một điềm hung hiểm sẽ đến với hai anh em, thầy ta không vui, và có ý muốn ngăn cản cuộc đi của anh em ta chuyến ngược Bắc này, nhưng sư huynh Tả Pháp Trụ tôn giả quả quyết đi, không hiềm ngại gì về quẻ bói, và hẹn với thầy là trong hai mươi năm sẽ trở về phục mạng. Thấy sư huynh đệ chúng ta thành tâm như thế, sư phụ đành chấp thuận và cố tu thân duy trì chờ đợi bằng lối cố dùng môn Vô Tướng thần công kéo dài cuộc sống thêm hai chục năm để anh em sư huynh đệ chúng ta về. Sau khi nghe lời thầy dặn kỹ lưỡng, anh em chúng ta bèn cáo biệt thầy lên đường!

Ta còn nhớ cảnh, trước khi chia tay tại Bàn Na Tha tịnh xá, sư đệ Bối Bách Nhân biết hai anh em chúng ta lên đường chuyến này hung hiểm gian nan, sư đệ Bối Bách Nhân bèn mặc theo tăng y màu trắng, mang theo chiêng trống pháp khí, tiễn đưa đến tận sông Hằng Hà, và đã tụng hết kinh về Đại bi tiêu họa, cầu thần linh phù hộ cho hai anh em sư đệ chúng ta. Bao phục lên vai tay xách thiền trượng, ngược dòng thánh thủy Hằng Hà hướng về phía Tây khởi trình. Ròng rã hơn tám tháng trời, mới đến miền Trung Thổ, ta và sư huynh vội tìm ngay đến tuyệt lãnh của Phòng Sơn, quả thấy Đại Ngũ Trì hùng vĩ trước mắt, anh em ta bèn gieo mình ngay xuống đáy trì, với ngọn Vô Tướng thần công phá ngay thạch bích. Quả nhiên xưa kia Thánh Giả Thượng Nhân có lưu kệ (câu sấm của đạo Phật) lại, chỉ sơ lược về chiếc cây nhỏ tự tiết ra được mùi thơm ấy, loại cây này thuộc loại tiên phẩm, trời đất tuy là mênh mông đại hải, nhưng lại chỉ độc có mỗi cây này, mà cũng chẳng biết được tên thật của nó. Nhưng Thánh Giả Thượng Nhân đã lưu kệ đặt tên là Tuyết bi, cũng chẳng biết là ý gì, nhưng chắc là thiền cơ của Thánh Giả Thượng Nhân uyên sâu huyền diệu, và công hành của hai anh em sư huynh đệ ta còn non thấp, nên chưa thể nào thấy rõ ngụ ý của vị Thánh Giả Thượng Nhân.

Trong động thất, có con thú khổng lồ Tích long gác giữ cây báu Tuyết bi tiên thảo này, được trồng từ đời nhà Đường, và phải chờ đến ngàn năm sau mới có thể khai ra một đóa hoa màu trắng, và suốt trong mấy trăm năm, con quái thú Tích long lo canh giữ cây tiên thảo này đã sống bằng cách ngửi mùi thơm của Tuyết bi, vì hễ ngửi được mùi thơm thì không còn cảm thấy đói lạnh. Nhưng lúc hai anh em huynh đệ chúng ta đến đây, con Tích long đã chết cứng trong động thất, tra xét theo sấm kệ của Thánh Giả Thượng Nhân để lại thì con vật khổng lồ rùng rợn này đã lo canh giữ cây tiên thảo Tuyết bi chín trăm hai mươi năm, vì hấp thụ mùi thơm của vị thảo quá lâu đời, nên tự nhiên thoát hóa mà chết, nhưng con thú khổng lồ này trước khi chết nó còn biết tám chục năm trách nhiệm chưa hoàn tất xong của mình, nên đã cố gắng chống cho bốn cẳng không bị trụy bẹp xuống để bày ra một thế lo canh giữ cây dị thảo Tuyết bi, trước tinh thần trung kiên của con vật Tích long khổng lồ ấy, quả đã khiến hai anh em huynh đệ ta khâm phục vô cùng.

Khi anh em sư huynh đệ chúng ta vào đến đây, thì nhằm lúc cây dị thảo Tuyết bi đang trổ mầm, tính theo thời gian nở hoa của nó còn phải mất thêm tám năm trời, nếu không chờ đợi mà bứt lấy ngang tay, cây dị thảo này lập tức thành phế vật vô dụng ngay, thế là hai anh em sư huynh đệ chúng ta đành ở lại canh gác và chờ đợi cây dị thảo này khai hoa, rồi sẽ lấy đem ngay về Thiên Trúc cho thầy uống, công như tái tạo, chẳng những công lực bản thân khôi phục lại như xưa, mà còn có thể đắc đạo phi thăng là khác. Cuộc sống của anh em sư huynh đệ ta trong động thất này, thoạt tiên cũng không lấy gì làm cực khổ, vì cây Tuyết bi gần đến kỳ nở hoa, mùi thơm của nó có thể khiến người không cảm thấy đói lạnh, và hai anh em chúng ta đã nghiễm nhiên như trở thành bực tiên nhân không cần ẩm thực đến yên hỏa (khói lửa, ý chỉ những thức ăn phải nấu nướng của phàm nhân)!

Sau một năm trôi qua, vào một hôm, trên thạch sàng, bỗng ta sinh một ý niệm vu vơ.

Ta nghĩ đến thầy ta Minh Quang đại sư, vốn là người Trung Thổ, phiêu bạt tít sang Thiên Trúc, chính ngài đã sáng tạo ra Vô Tướng thần công, trong tất cả những ngọn pháp tinh túy của Vô Tướng thần công, này đã tận truyền hết cho sư huynh Tả Pháp Thụ tôn giả và ta Hữu Duy Na tôn giả, quả là một môn học vô cùng huyền bí thâm sâu, nhưng tiếc thay ta và sư huynh đều là người Thiên Trúc, ta nghĩ: hay là thầy ta muốn có một người Hán nào được sự Chân truyền của môn Vô Tướng thần công, để truyền bá Trung Thổ, biểu dương phái Minh Quang Vô Tướng cũng nên?

Đêm đó ta liền nằm mơ và rõ ý của thầy ta, vội đem những suy đoán ấy nói với sư huynh, và quyết ý ngay là nhân lúc Tuyết bi còn chưa. nở hoa, anh em sư huynh đệ chúng ta nhân tạm đi chu du miền Trung Thổ, tìm kiếm một hậu bối có duyên phận, tư chất căn cơ phải đúng lý tưởng, để truyền cho môn Vô Tướng thẩn công, như thế anh em ta cũng hoàn tất được tâm nguyện của thầy ta phần nào! Nhưng ý quyết định này của ta không được sư huynh Tả Pháp Thụ đồng ý, và còn mắng ta là hão huyền, đồng thời cấm ta có ý niệm tìm học trò để truyền nghề. Xưa nay, ta vốn là một người vô cùng kính nể sư huynh, nên sau khi bị mắng, ta đành bỏ ngay ý niệm tìm người nối truyền.

Nhưng từ đó trở đi, tinh thần của sư huynh ta bỗng nhiên trở nên quái dị lạ lùng, suốt ngày như bồi hồi phảng phất không an, nói mớ trong cơn mộng, ta hết lòng chăm sóc, và dùng công lực của bản thân ra chữa trị cho sư huynh, sau mấy ngày liên tiếp, sư huynh tạm định thần lại bình phục, bỗng sư huynh quyết ý ngay là: đem môn Vô Tướng thần công của thầy truyền ghi khắc toàn bộ lên hết hai bức vách của động thất, để cho những người Hán nào sau này có duyên phận đến đâu, có thể nhìn theo các bức hình toàn bộ đó mà học tập thành công.

Ta nghĩ: động thất dưới đáy của Đại Ngũ Trì đây một nơi vắng vẻ và bí mật như thế, làm sao có người lại được? Còn môn Vô Tướng thẩn công vốn là môn võ học thần kỳ huyền diệu của trí tuệ thầy ta tạo ra, biến hóa tuyệt luân vô cùng tận, những bụng phàm phu tục tử, dẫu tư chất thông minh mà có duyên phận đến được động thất này, nếu không được minh sư chỉ điểm, cũng không thể nào thành công học nổi. Huống hồ khi thầy ta Minh Quang đại sư trong lúc truyền dạy, đã phân chia thành: Tả kiếm hữu chưởng (bên trái dùng kiếm, bên phải dùng chưởng) và hai anh em sư huynh đệ ta chia nhau ra học, mà riêng ta lo tinh cứu về Duy Na chưởng thức cộng tám mươi mốt thế, lại phức tạp vô cùng, nếu không có thầy ta hay ta chỉ điểm tường tận, kẻ học dù có đại trí tuệ, hay đại thông minh đến đâu đi nữa, cũng chật vật khó mà thành công được nếu không lại còn ảnh hưởng đến thể chất của bản thân là khác, nếu tệ hơn, tất cả công lực của bản thân bị mất hơn vài tháng trời mới khôi phục lại. Xem như vậy, dù có ghi khắc lên vách của động thất để chờ kẻ hữu duyên đến, chẳng những không giúp ích gì cho kẻ đến mà trái lại còn gây tai hại cho người ta là khác.

Do đó! ta đã cố khuyên can sư huynh ta bỏ ý niệm này nhưng sư huynh vốn là người cương tính, không chịu nghe, ta phần vì kính nể sư huynh, nên đành miễn cưỡng nghe lời, và ngay từ lúc đó, ta bắt đầu công việc ghi khắc tám mươi mốt thế Duy Na chưởng thức của Vô Tướng thần công lên trên vách của thạch thất!Và sư huynh cũng ghi khắc luôn tám mươi mốt thế Pháp Thụ kiếm chiêu lên trên vách bên cánh trái, thế là hai bức vách nghiễm nhiên trở thành Tả kiếm Hữu chưởng, ghi khắc hết tất cả những tinh tế trong môn Vô Tướng thần công của thầy ta. Đồng thời muốn cho kẻ học được rõ ràng, sư huynh đã nghĩ ra cách khảm gắn những lân tinh thạch (chất đá có lân tinh) lên mắt, và chân tay của hình tượng trên vách, và hai anh em sư huynh đệ ta trong hai năm trời thời gian, mới hoàn thành những bức hình tuyệt tác này.

Sau khi thành công hai bức bích họa lớn lao công phu này anh em sư huynh đệ ta nắm tay cười mừng sung sướng, trong động thất, Tả kiếm Hữu chưởng khổng lồ! Và cũng từ đó trở đi, hễ mỗi lần nửa đêm ta tỉnh giấc, thường thấy sư huynh ta lảng vảng đứng nhìn những bức hình khắc bên phải là Duy Na chưởng thức, thỉnh thoảng lại giơ chân múa tay như tập luyện.

Lúc ấy trong lòng ta bất giác tự hào vô cùng: môn võ học Vô Tướng thần công mà thầy truyền cho hai anh em sư huynh đệ ta, cả hai môn kiếm và chưởng, hợp lại thì thành một, mà chia ra lại thành hai, tương sinh và tương khắc, sư huynh học về kiếm, còn ta học về chưởng, không ai can dự đến ai, sư huynh không biết rõ môn tinh tuyệt của Duy Na bát thập nhất chưởng cũng như ta không thể hiểu thấu môn huyền diệu Pháp Thụ bát thập nhất kiếm vậy, nay sư huynh ngang nhiên vì phạm sư huấn của thầy, tự ý lén học Duy Na chưởng thức. Sau khi ta phát giác vụ này, thoạt tiên là kinh ngạc, nhưng sau ta lại mừng và tự hào, nhất là ta rõ bản tính của sư huynh là người kiêu ngạo tự cao, nếu ngọn Duy Na chưởng thức của ta không hơn ngọn Pháp Thụ kiếm chiêu của sư huynh, không đời nào sư huynh lại chịu đi học lén lút như thế.

Thì ra sự đề nghị của sư huynh ghi khắc Vô Tướng thần công chưởng kiếm lên vách thạch thất là cố ý muốn học lén chưởng thức của ta mà thôi, và ta lập tức nghĩ ngay sau khi sư huynh học lén hết tám mươi mốt thế Duy Na chưởng thức, thân tụ tập hết những tinh hoa của Vô Tướng thần công, công lực thế nào chẳng hơn mình, và không biết chừng vì lòng tự ích kỷ sẽ ngang nhiên xóa hủy hai bức đại bích họa kiếm chưởng trên vách cũng nên.

Nghĩ vậy, lòng háo thắng của ta đã nổi lên, và nhân lúc sư huynh ta ngủ say, ta lén thức và lại vách bên hai cánh trái, dùng thiền trượng làm kiếm, và cũng học lén môn Pháp Thụ kiếm chiêu. Quả nhiên ta phát hiện một điều, là tuy Pháp Thụ kiếm chiêu lợi hại khôn lường, nhưng oai lực vẫn thua xa hẳn Duy Na chưởng thức của ta nhiều lắm, hèn gì sư huynh dám vi phạm sư huấn của thầy để học lén như thế.!

Và từ đó ta cũng chẳng cần phải học lén kiếm pháp của sư huynh, phần nghĩ ta và sư huynh vốn đồng môn, chưởng kiếm lại đồng nguồn gốc, nay sư huynh muốn kiêm cả hai công lực kiếm và chưởng, cũng là tình thường, vì dù sao cũng là sư huynh, lại vì tính hay tự ái, nên không muốn cúi mình hạ thân học hỏi với sư đệ, ngoài hạ sách học lén bằng cách này ra, không còn thượng sách nào hơn, tuy đáng nực cười, nhưng cũng không phải việc làm trái lẽ phải! Từ đó ta bắt đầu an nhiên trong lòng, nhưng thường khi tỉnh giấc, thấy sư huynh lo tập luyện như say sưa vô cùng, ta bất giác chăm chú, vì Duy Na chưởng thức vô cùng thần kỳ và huyền bí, nếu không người chỉ dẫn học tập quả không phải là dễ dàng, nếu không thấu hiểu được những tinh vi ảo diệu của nó, kẻ học thường bị tụ khí buồn nản, tâm huyết rạo rực ngược lưu, công lực sẽ mất ngay.

Từ đó, mỗi lần sư huynh học lén, ta tại ngấm ngầm quan sát, trong lòng lo lắng bất an, song sư huynh là người cũng từng theo hầu thầy lâu năm, Duy Na chưởng thức và Pháp Thụ kiếm vốn cùng một nguồn hệ mà ra, xem ra sư huynh ta cũng không gặp trở ngại gì, mà rất có thể học một thấu ba là khác. Tuy ta mấy lần tính ra tay giúp sư huynh mau chóng thu được kết quả nhưng lại e ngại xúc phạm đến tự ái của sư huynh, nên lại đành thôi, thoáng mắt thời gian lại vụt trôi qua ngày tháng. Một lần nọ bỗng có tiếng rên la khiến cho ta tỉnh lại trong cơn mộng, chỉ thấy sư huynh nằm lăn dưới nền chân vách cánh phải và có vẻ đau đớn vô cùng. Mà vị trí của sư huynh đang quằn quại ấy chính là bức hình thứ bốn mươi chín, tức là thế Huyết lệ giao bưng (máu huyết tung vọt), thế này là thế khó luyện nhất, nay sư huynh vì thiếu người chỉ dẫn, miễn cưỡng luyện bừa, khiến nỗi khí huyết buồn tụ và các đường huyết trong mình bị nghịch lưu, trong sự đau đớn, đành nằm lăn ra mặt đất rên la.

Ta thấy vậy kinh hồn hoảng vía, vội bồng ngay sư huynh lên thạch sàng, và dùng công lực của bản thân trợ giúp cho sư huynh khôi phục lại. Được sự trợ sức của ta, dần dần sư huynh khôi phục lại sức khỏe, và lẽ đương nhiên là sư huynh đã kinh hãi không dám tiếp tục học thêm nữa, bởi vậy ta càng tự hào về trong tám mươi mốt thế Duy Na Chưởng pháp ấy, sư huynh chỉ có thể biết được có bốn mươi tám thế, và từ thế Huyết lệ giao bưng và cũng tức là thế bốn mươi chín trở về sau, sư huynh ta dành phải bỏ dở không dám tiếp tục.

Cũng vì lòng kính nể sư huynh, ta không nỡ nói thẳng ra, và sư huynh cũng tưởng rằng ta không hay biết chuyện học lén chưởng pháp ấy, trong lòng sư huynh cũng an tâm, từ đó trở di hai anh em vẫn hòa thuận như xưa, đều sống trong động thất chờ đợi tiên thảo khai hoa, hầu mau về Thiên Trúc phục mạng với thầy. Cứ thế, thấm thoát lại trôi qua bốn mươi năm trường, và ngày khai hoa của tiên thảo sắp đến nơi.

Một chiều trong sự im tịch cửa động thất, bỗng sinh kỳ biến. Thạch thất dưới đáy Đại Ngũ Trì xưa nay vẫn là một nơi yên tĩnh, lúc này thình lình sóng nước rung động cuồn cuộn, trời nghiêng đất ngửa, ta và sư huynh thấy vậy biết ngay là núi lửa dưới lòng đất chuyển mình, nên đã gây nên địa chấn, nếu không rời khỏi đây khi nước trì sôi động đến mức kinh hoàng của nó, ngôi động thất này thế nào cũng bị hủy mất, và như thế thì hai anh em sư huynh ta làm sao còn sống sót cho nổi với thiên tai dữ dội ấy.

Sư huynh bảo ta cùng mau chạy thoát thân khỏi cảnh hiểm nghèo cái đã, nhưng ta vì tiếc tiên thảo sắp khai hoa, không muốn bị uổng công khó nhọc trong bao nhiêu năm trời đã chờ đợi, và nhất là khi nghĩ đến thầy ta đang trông ngóng tít đằng phương trời Thiên Trúc, cũng chỉ có độc một chiếc tiên hoa này. Thà ta chịu tan xương nát thịt cũng phải ở lại đây để chờ đợi, không thể nào vì chút tham sinh úy tử mà đành về phục mạng tay không với thầy, và nhất là phải chứng kiến cảnh thảm thương của thầy vì tuyệt vọng mà chết. Và ngay lúc đó ta đã quyết chí không rời bỏ động thất này, sư huynh nổi giận trở mặt trách mắng ta thậm tệ, và tính bứt luôn cây Tuyết bi tiên thảo để trốn ngay khỏi nơi nguy hiểm của thiên tai này. Thế là ta cố liều chết lo bảo vệ cây Tuyết bi tiên thảo, do đó hai anh em ta xảy ra ngay một cuộc xô xát kinh khủng ngay bên cạnh con quái vạt khổng lồ tích long.

Trong cuộc tranh chấp kịch liệt này, sư huynh ta đã dùng ngay cây Pháp Thụ thần kiếm, thế đánh kinh khủng, oai lực cực mạnh, ta thấy không sao cưỡng đỡ nổi, bất đắc dĩ phải dùng đến Duy Na chưởng thức để cứu vãn tình thế nguy ngập trước mắt. Thoạt đầu, chỉ nghĩ là chống đỡ thế đánh của sư huynh để lo bảo vệ cây tiên thảo, mong cứu mạng ân sư, nhưng không ngờ sau khi sử dụng ngọn Duy Na chưởng thức, ta không thể tự chủ được nữa, và dồn đánh hết một hơi tuốt bốn mươi tám thế trong Duy Na Chưởng và đến thế thứ bốn mươi chín tức là ngọn Huyết lệ giao bưng, sau khi ta bửa mạnh một chưởng xuống, ngang nhiên phá hẳn thế thần kiếm của sư huynh, mắt thấy mình không mau thu ngay thế đánh lại, sư huynh thế nào cũng bị mất mạng vì ngọn chưởng của ta mất!

Ngay lúc ấy, sắc mặt sư huynh trông thảm thiết kinh khủng đến nay ta ngồi ghi chép mà vẫn còn nhớ rõ mồn một, và ta cũng thừa biết thế đánh hễ đã phát ra, quyết không thể nào nào miễn cưỡng thu lại được, nhưng trời đã phú cho ta một tính tình nhân hậu, vì thế ta đã nghĩ đến tình sư huynh đệ đồng môn, không nỡ ra tay tàn giết sư huynh. Cũng ngay trong lúc đó, ta đã chợt nghĩ đến tất cả những hình ảnh kỷ niệm từ thuở còn bé sống chung với nhau, những cảnh yêu mến của sư huynh đối với ta, nào cảnh vòi vĩnh của ta được sư huynh hết lòng chiều chuộng, sư huynh đối với ta không khác nào anh em ruột thịt... Tất cả những hình ảnh nên thơ lưu luyến ấy trong chớp mắt đã lướt hết qua trong đầu óc ta. Vì thế ta không thể nào hạ sát thủ với sư huynh ta, thà là mình chịu cảnh khí huyết nghịch trở (máu quản dội ngược) để tự hủy thân mà chết còn hơn là giết sư huynh của ta. Ta bèn miễn cưỡng nhắm mắt thu ngay thế đánh của mình lại. Nhưng cũng ngay trong lúc ta thu chưởng về ấy, sư huynh đã được dịp may ngàn năm một thuở, cây Pháp Thụ thần kiếm vụt đưa nhanh ra, xỉa trúng ngay vào vai bên phải của ta, máu tươi vọt thành vòi, ta hét lên một tiếng thê thảm! Sư huynh thất kinh... ngay trong lúc căng thẳng cực độ này, bên phía ngoài động thất, tiếng đất động trời nghiêng ngả vang lên dữ dội, khiến cho cả hai anh em ta đều ngã lăn ra mặt đất!

Sư huynh thấy ta bị thương nặng mà vẫn lo khư khư bảo vệ cây Tuyết bi tiên thảo, lạnh lùng hậm hực rồi vụt tung mình dậy tìm đường ra ngay khỏi cửa động thất luôn. Và ta không ngờ cuộc biệt ly này của hai anh em sư huynh đệ lại thành cuộc tử biệt với nhau.

Sau khi sư huynh bỏ đi, ta vội vận công để trị thương, thời gian đã hết trên một ngày một đêm, bên ngoài động thất, mọi sự đã trở lại bình thường hóa, núi lửa chưa bộc phát, cuộc động đất cũng ngưng hẳn luôn.

Thật là câu hoạn nạn mới biết kẻ trung gian! Lúc lâm nạn, sư huynh đã lo tẩu thoát lấy thân mình, và không biết đã đi về đâu, còn phần ta thì cố duy trì sức lực để đợi chờ ngày tiên thảo khai hoa, hòng đem nhanh về cho thầy miền Thiên Trúc, dẫu mình có chết cũng không ân hận gì! Duy trì thêm được vài tháng, quả nhiên cây tiên thảo đã trổ nụ, cách ngày khai hoa không còn bao lâu nữa, song, chính lúc sắp đạt tới mục đích này thì Hữu Duy Na tôn giả ta đã mắc bệnh quá nặng. Vết thương do cây kiếm của sư huynh gây nên tuy có thể chữa khỏi, nhưng đáng lẽ ta không nên vì chút lòng nhân mà đang nhiên cắn răng chịu khổ, để thu thế đánh thứ bốn mươi chín là Huyết lệ giao bưng về đến nỗi phải chịu cảnh khí huyết nghịch trở bị thương toàn nội phủ, phần sau khi bị thương, lại lo sợ sư huynh quay về cướp đoạt Tuyết bi tiên hoa, đêm ngày lo lắng canh giữ, nên không có tinh thần yên tĩnh để trị thương, thế là bệnh huyết lệ nghịch đảo càng ngày càng tăng nặng, không những công lực đã mất hẳn đi bảy tám phần mười, mà đến nỗi đi đứng cũng cảm thấy khó khăn, nghĩa là ta chỉ còn lại vỏ xác chờ chết! Than ôi...

Lòng ta đau buồn vô kể, mỗi lần nghĩ đến cảnh ân sư đang mong ngóng anh em ta mau về phục mạng, mà nay mình còn vẫn chờ đợi ngoắc ngoải trong động thất này cho hoa nở, sư huynh không biết đi về đâu? Dần dà tiên hoa đã nở, mùi thơm ngào ngạt khắp thạch thất, tuy thứ hoa này có thể chữa khỏi nội thương cực nặng, nhưng hễ ta mỗi lần nghĩ đến ân sư, lại lập tức bỏ ngay ý niệm ích kỷ của mình, ta cố gượng gạo đứng dậy để thử ra khỏi thạch thất này, nhưng mấy lần đều thất bại, biết không còn hy vọng nào rời khỏi Đại ngũ Trì để đem tiên hoa về cho ân sư trừ phi mình ăn tiên hoa, không những khỏi bệnh mà còn khôi phục lại được công lực xưa kia mà mình đã mất dần mất mòn vì chứng bệnh khí huyết nghịch lưu, nhưng ân nghĩa của sư phụ thâm sâu như trời biển vậy mình nỡ nào sinh lòng ích kỷ để chiếm đoạt nguồn hy vọng cuối cùng của thầy được!

Nay cơn bệnh của ta đã trầm trọng hẳn, gần như tê liệt hết toàn thân, ta biết mạng ta không sống được bao lâu nữa, và càng biết không còn cách nào để đem tiên hoa về xứ, bất đắc dĩ đành ghi lại lời di chúc đây nói rõ mọi sự, và kính đợi kẻ có duyên đến!

Khi ta viết đến đây, hơi thở đã thoi thóp, tuy vậy nhưng trong lòng ta vô cùng đau khổ và hối hận, không làm sao chuộc nổi tội lỗi tầy trời của mình, tuy ta chết đi không lấy gì làm hận, nhưng ta không thể nào nhắm mắt được vì cây Tuyết bi tiên hoa. Nay ta có đem theo loại trầm hương đặc biệt của xứ Thiên Trúc để trong động thất này, thứ gỗ thơm này giữ cho toàn thi hài ta trong mười năm trời. Nay ta gần chết, còn mỗi một linh minh là hy vọng sư huynh ta Tả Pháp Thụ tôn giả có thể về động thất này, hoặc kẻ nào có duyên đến đây, và sau khi thấy cảnh xả thân của ta như thế, hãy làm ơn mang cây tiên hoa về nguồn sông Hằng Hà xứ Thiên Trúc, tìm ngay đến tịnh xá trong khu rừng ở Bàn Na Tha, dâng hiến ngay tiên hoa này cho sư phụ của ta là Minh Quang đại sư, được vậy vong linh của ta sẽ biết ơn vô ngần. Ta cũng kính cẩn yêu cầu sư huynh, hoặc kẻ có duyên nào đây, hãy ráng hiểu cho: Tuyết bi tiên hoa này, vốn là dị chủng trong trần gian, kẻ nào may mắn ăn được, có thể nói là đã đoạt hết công tái tạo của tạo hóa, một báu vật như thế, thử hỏi ai mà không thèm cho được, nhưng xin hãy nghĩ cho Hữu Duy Na ta đây, ráng cắn răng chịu nỗi thống khổ ác nghiệt của bệnh khí huyết nghịch lưu, đến nỗi tạng phủ bị tê liệt mà chết cứng một chỗ, như thế mà ta còn không dám đụng đến mảy may Tuyết bi tiên hoa thì biết.

Và chính lòng tin vô biên của ta đã thúc ta phải hy sinh, chết đi để giữ toàn danh dự cho mình, càng bảo vệ được Tuyết bi tiên hoa! Vì thế, ta kính cẩn yêu cầu kẻ có duyên phần đến, đừng nên vì lòng ích kỷ mà đoạt nuốt Tuyết bi tiên hoa. Được vậy ta vô cùng biết ơn và nguyện gội ơn tạc dạ dưới chín suối.... Ta đã sắp chết..

Và ta cũng không quên giao hạn với người đến sau, là ta đã hẹn với thầy ta kỳ hạn là trong hai mươi năm trời, trước khi ta chết đi, ta vẫn còn mười năm trời hẹn với sư phụ ta. Vậy trong mười năm ta chết ấy bất luận là ai, hoặc giả là sư huynh Tả Pháp Thụ tôn giả, hay là kẻ hữu duyên đến sau, đều nhất loạt phải tuân theo di chúc của ta, hái ngay tiên hoa đưa về Thiên Trúc, cứu sống thầy Minh Quang đại sư để tròn hết ý chí duy nhất của ta, được vậy linh hồn của ta dưới âm phủ nguyện sẽ hết lòng phù hộ. Nếu kẻ nào dám cưỡng lời di chúc của ta, ta sẽ hóa ngay quỉ dữ tàn sát ngay trong động thất này.

Nhưng nếu sau khi ta chết trên mười năm, tức là kỳ hẹn đã quá hạn, và như thầy ta cũng đã qui tiên!... Ta cũng tự giải ngay lời nguyền, hoặc giả sư huynh ta, hoặc giả kẻ có duyên phần, đều có thể ăn ngay Tuyết bi tiên hoa, và ta thành tâm cầu nguyện cho người được ăn tiên hoa ấy hãy cố gắng hành hiệp tế thế cho muôn dân được nhờ.... Còn theo lời sấm truyền của Thánh Giả Thượng Nhân để lại, kẻ nào sau khi ăn được tiên hoa ấy, công lực trong người sẽ bị tạm mất hơn đi trong thời gian bốn mươi chín ngày, và nên tĩnh dưỡng ngay trong thạch thất.

Ô hô!... Ta cũng ngu muội thật, trước giờ sắp chết mà còn cố gượng viết bức thư này để lại cho người sau... lúc này ta chỉ còn ngửi thấy mùi thơm của hương trầm hòa chung với mùi bát ngát của Tuyết bi tiên hoa, mắt mơ hồ còn nhận ra những bức ghi khắc vĩ đại trên hai bức vách, bên trái là Tả Pháp Thụ kiếm chiêu, bên mặt là Hữu Duy Na chưởng thức. Ôi tiên hoa! Ôi Thần công! Tâm sức ta đã tàn cạn! Chức trách đã tận, không còn đâu canh giữ cho bọn mi được nữa.

Nay ta mượn quyển di chúc này để lại cho người đến sau, ta tuy chết nhưng vẫn đem theo nỗi hận lòng xuống tuyền đài!...

Hữu Duy Na thủ bút lưu di thư.

Suốt cả một quyển di chúc dài dặc như thế, thì ra đều là thủ bút của vị cao tăng miền Thiên Trúc, mà vị cao tăng này lại là cao túc (đồ đệ giỏi) của Minh Quang đại sư ở tịnh xá Bàn Na Tha thượng du của sông Hằng Hà, tên là Hữu Duy Na! Tính theo ngày tháng năm của quyển thủ bút này, thì Hữu Duy Na tôn giả đã viết cách nay là trên ba mươi năm rồi. Nay thấy lân tinh lấp lánh, dấu vết vẫn như mới tinh, và chàng Thượng Quan Linh sau khi đọc hết những chuyện xảy ra trong quyển thủ bút của vị cao tăng Hữu Duy Na tôn giả này, chàng không khỏi xúc động với những nỗi gian khổ trong mười năm qua của Hữu Duy Na tôn giả, chàng càng kính phục vị cao tăng ngoại quốc này, lại tinh thông văn hóa của Hán tộc miền Trung Thổ như thế.

Không thể nào ngờ được vị cao tăng ngoại quốc này lại có đầy những đức tính: chánh trực, thủ tín, tuyệt không ích kỷ, thà hy sinh mạng sống của mình, cũng quyết không chịu ăn Tuyết bi tiên hoa! Vì vị cao tăng nhất lòng trung thành kính thờ vị tôn sư của mình, lại giữ đúng lời hứa trong hai mươi năm trời, tuy trong mình mang bệnh nặng tuyệt vọng như thế, mà trong lòng vẫn nhất quyết thờ đợi có người đem tiên hoa về cho thầy tại Thiên Trúc. Thượng Quan Linh nghĩ đến mình trong khi vô tình ăn béng mất cây dị thảo ngàn năm một thuở ấy, nhưng cũng may là mình ăn cây Tuyết bi tiên hoa vào lúc vị cao tăng này quá cố đã ba chục năm rồi, nếu vô phúc mình ăn mất trong thời gian còn cấm của người ta, tội này chuộc bằng cách nào cho hết!

Nghĩ đến đây, Thượng Quan Linh toát mồ hôi lạnh trên trán, chàng bất giác thốt lên hai tiếng: Nguy thật! Chàng cẩn thận cất quyển thủ bút lại, và tiếp tục giở xem những vật còn lại trong rương sắt, chỉ thấy toàn quần áo tăng nhân và pháp khí văn cụ, một chiếc rìu và những đồ lặt vặt về dụng cụ, chàng cẩn thận dọn hết ra ngoài, rồi nhặt hết hài cốt của vị Hữu Duy Na tôn giả bỏ hết vào rương sắt, xách theo chiếc rìu và khuân ngay chiếc hòm hài cốt lại ngay phía dưới bụng của con vật khổng lồ Tích long để chôn cất hài cốt. Chiếc rìu vô cùng sắc bén, chắc xưa kia hai anh em sư huynh đệ của Hữu Duy Na đã dùng rìu này để chạm trổ các bức hình vĩ đại trên vách, vì chiếc rìu sắc bén không thể tả, nên công việc chôn hài cốt tiến hành rất thuận lợi! Nhưng Thượng Quan Linh sau khi làm được một chặp, bỗng chàng cảm thấy vô cùng nhọc mệt trong mình, hiện tượng này xưa nay chưa bao giờ xảy ra cho chàng như thế. Bỗng chàng sực nhớ, trong lời nói của Hữu Duy Na trong quyển thủ bút rằng: hễ sau khi ăn Tuyết bi tiên hoa công lực sẽ bị tạm mất đi trong thời gian là bốn mươi chín ngày, không lẽ câu nói này đã linh nghiệm thật sao?!

Thượng Quan Linh cũng sực nhớ lời nói trong quyển di thư là môn Duy Na Chưởng pháp trên bức vách kia, vô cùng khó luyện, nếu không có lương sư chỉ bảo, cứ tập bừa sẽ gây họa khí huyết nghịch lưu ngay vào người, và đến công lực cũng bị ảnh hưởng là khác. Vừa rồi đây mình không nên vì tính háo kỳ học thử trong thế thứ nhất của Duy Na chưởng pháp hèn gì mình cảm thấy khí huyết bồi hồi, chắc có lẽ là tại lý do nghịch huyết đây! Thượng Quan Linh hoảng lên vội đi tìm một viên đá bưng thử xem sao, hòn đá ước chừng có trăm cân, nếu vào ngày thường, một hòn đá như thế đối với Thượng Quan Linh nào thấm thía gì nhưng trong lúc này, mặc cho chàng đã cố vận hết toàn lực trong mình để giở hòn đá lên, nhưng lạ thay, thấy chàng không khác nào như chuồn chuồn bấu vào thạch trụ vậy, hòn đá không hề nhúc nhích.

Thượng Quan Linh biết giờ đây mình đã bị mất hết công lực, lúc này đem so với một người chưa từng tập võ không khác gì yếu như sên, thế nào cũng phải tuân theo lời dạy của Hữu Duy Na trong quyển di thư, phải an tâm tĩnh dưỡng bốn mươi chín ngày trong thạch thất này, để đợi cho tất cả những chất tinh túy tuyệt diệu của Tuyết bi tiên hoa ngấm hết sức lực của nó vào trong toàn cơ thể trong mình, rồi công lực sẽ khôi phục lại như xưa, và còn tăng lên nhiều thêm. Thế là chàng lo làm xong công việc mai táng hài cốt của Hữu Duy Na, quay vào động thất bên trong, lại ngay nơi thạch sàng của Hữu Duy Na đã ngồi nhập hóa ấy ngồi xếp chân bàn tròn, nhắm mắt vận công, để dưỡng điều trị. Nhưng tất cả những sự kiện lại dồn dập chen vào óc của chàng, chàng nghĩ đến độc công Phủ Chưởng Hàn của lão bà bịt mặt bí mật, và phải chăng sau khi mình ăn được thứ cây Tuyết bi hoa tiên lại công hiệu là khởi tử hồi sinh, không cần lo lắng đến đại họa này rồi chứ! Còn thân cuống của cây Tuyết bi hoa tiên, nghĩ đến đóa hoa trắng ấy mình đã không nuốt ngay khi còn tươi, và khi mình ngửi thì đóa hoa lập tức ủ rủ ngay, sau mình mới ăn chung với cuống hoa của nó.

Không biết như thế có thể nói là mình ăn đúng phương pháp của cây Tuyết bi hoa tiên không? Thượng Quan Linh không làm sao đoán cho đúng chắc được vấn đề này! Nhưng có một điều là từ khi hít hết những mùi thơm và ăn nuốt hết cuống lá của cây dị thảo ấy, cơn bệnh đau nhói vì chất hàn độc ấy không còn thấy tái phát nữa! Thượng Quan Linh lại sực nhớ đến trong quyển di thư có nói về loại gỗ trầm đặc của miền Thiên Trúc, chàng bèn ra công tìm kiếm, quả nhiên chàng tìm thấy tại một góc của động thất, khúc gỗ chỉ to bằng ngón tay cái, nhưng sức thơm của nó vô cùng mạnh. Trong lòng Thượng Quan Linh bất giác lại mủi lòng, nghĩ đến xưa kia dụng ý của Hữu Duy Na là cốt giữ cho thi thể khỏi bị rữa thịt, nhưng nào ngờ mười năm sau vẫn không tránh nổi định luật của tạo hóa tất cả đều trả lại cho đất! Đáng thương thay!

Trong những lúc cô liêu quá buồn, Thượng Quan Linh lại đi lục lọi những di vật của Hữu Duy Na, và chàng đối với bộ áo cà sa của vị cao tăng khả kính ấy rất thích thú, thế là chàng thay quách luôn bộ quần áo cũ của mình, nghĩa là chàng thay một cách triệt để bằng từ bên trong đến ngoài, mặc luôn tất cả những phục tăng nhân của Hữu Duy Na vào mình, từ áo cà sa, mũ tăng nhân, giày nhà sư, tất (vớ) nhà chùa, trước ngực cũng đeo một chuỗi niệm châu. Tất cả những thứ chàng đang mang mặc trên mình đây đều vừa vặn như của mình, nhất là chiếc áo cà sa, được thêu chỉ kim tuyến óng ánh, đẹp mắt vô cùng, chàng cảm thấy thư thái trong mình lạ. Dù sao Thượng Quan Linh vẫn còn tính trẻ, sau khi mặc cẩm phục đẹp như thế chàng muốn đi khoe cho thiên hạ biết nét hào hoa của mình, nhưng sực nghĩ nay mình còn ở trong động thất, trong lòng không khỏi ngậm ngùi thương cảm cảnh Cẩm y dạ hành (mặc áo đẹp mà đi trong đêm tối, chẳng có ma nào thưởng thức), nhưng chàng cũng bất giác cười thầm với ý nghĩ lẩm cẩm trẻ con của mình. Nơi một góc của động thất, Thượng Quan Linh bỗng lại tìm được một cây thiền trượng của Hữu Duy Na, nhưng khi chàng cầm lên tay thấy trầm nặng vô cùng, biết ngay là mình hiện giờ đã tạm mất hết công lực, chàng bất giác buồn bã thở dài!

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau