DỊCH LỘ LÊ HOA

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Dịch lộ lê hoa - Chương 96 - Chương 100

Chương 96: Phiên ngoại 2: Nước chảy trăng đi không tiếng thanh

Nhược Trường qua đời, mười lăm tháng năm âm lịch.

Người đi một mình, đôi lứa không về.

A Dao và ta nhận được thông báo ngơ ngác đờ đẫn chạy tới, ngồi trong phòng nghỉ ở trạm liên lạc của MSF [100] đủ hai ngày, một chữ không nói cơm nước không đụng. bàn trà trước mặt đặt toàn bộ băng ghi âm, món đồ cuối cùng Nhược Trường để lại cho ta và A Dao. Hai chúng ta, không ai có dũng khí đi mở nó ra, dường như vừa mở, Nhược Trường sẽ thật sự rời khỏi chúng ta, cũng không thể trở về được nữa.

Cứ như vậy, chúng ta tốn hết hai ngày. Thực tế khi đó, thời gian với chúng ta mà nói chẳng có nghĩa lý gì, nỗi thống khổ cùng cực khi một phần sinh mệnh bị ép buộc bóc rời máu chảy đầm đìa đó dường như muốn không ngừng quấy phá nửa đời còn lại của ta và A Dao. Trong sự giày vò không ngừng nghỉ đó, ta nhớ tới nhiều nhiều năm trước, cậu bé với mái tóc đen mềm, bàn tay ấm áp rắn chắc khẽ khàng nắm tay ta, dưới ánh mặt trời nở nụ cười rạng ngời nói với ta: “Anh là Cố Nhược Trường, em phải kêu anh là anh mới đúng.” Có lẽ nụ cười đó quá dịu dàng quá ấm áp như nắng ấm ngày xuân, ta xưa nay có phần bất kham lại thích phá phách trở nên yên tĩnh như kì tích, ngoan ngoãn gật đầu gọi: “Anh.”

Anh, cái chữ này đến bây giờ đã có mấy năm ta chưa từng gọi. Bây giờ ta càng thích gọi Nhược Trường. Nhược Trường, Nhược Trường, mỗi đêm khuya tỉnh mộng, cái tên này cứ vang đi vọng lại trong óc ta, trằn trọc quấn quýt, xua mãi không đi. Quá khứ là thế, hiện tại là thế, sau này cũng thế.

Thời niên thiếu trong trí nhớ càng trôi càng xa, chuyện cũ lại càng lúc càng rõ ràng. A Dao như trà, uống vào thấm tâm gan, trong thời buổi hỗn độn rối ren này khiến ta tin tưởng vào cuộc sống tốt đẹp và sức mạnh của niềm tin. Mà Nhược Trường, như rượu cay nhất cũ nhất, càng ủ càng càng thơm, khiến ta cam nguyện say sưa chìm đắm không thể rời ra.

Không như A Dao có ba mẹ yêu thương, nhà ta là nơi ta không muốn trở về nhất. Ba vốn là người tốt, chỉ là hơn ba mươi thì mê đánh bạc. Ngắn ngủi hai năm, gia cảnh còn tính là bình thường bị thua tới nát. Nhất thời cùng quẫn không chịu nổi. Rốt cuộc mẹ không chịu đựng được ba cả ngày không lo làm ăn chỉ lo bài bạc, gửi hết hi vọng vào trên chiếu bạc, sau một lần ba say rượu hai người cãi nhau, cuối cùng thu dọn hành lý bỏ nhà ra đi. Mẹ đi rồi, ba đau lòng càng trở nên tệ hại, hầu hết thời gian đều vùi trong sòng bài, phung phí hết cuộc sống và tiền bạc vốn không còn bao nhiêu. Ta cũng không muốn ông về nhà, chỉ vì mỗi lần ông về, nhìn thấy ta mắt liền đỏ hoe. Nếu uống say thỉnh thoảng còn đánh đập ta, vừa đánh vừa chửi bới mẹ ta vứt bỏ ông.

Rốt cuộc một ngày, sau khi ta bị ba đánh đau một trận trốn ra khỏi nhà, đờ đẫn chạy đến công viên gần đó, mặt mũi bầm dập quần áo lộn xộn ngồi trong hố cát khóc lớn. Ngay lúc đó, một người ngồi xổm trước mặt ta, đưa cho ta một cái khăn tay ca rô sạch sẽ. Ta ngẩng lên muốn nhìn người đó khổ nỗi mắt khóc tới sưng đỏ, dưới ánh nắng hoàn toàn không nhìn rõ mặt mũi người đó. Song giọng nói ấy dịu dàng vô cùng, khẽ khàng hỏi ta: “Sao lại khóc? Nhà em ở đâu?”

Giọng người đó dịu dàng như thế, song lại khiến ta khóc dữ hơn, ôm chầm lấy người đó, tính làm nũng của trẻ con lộ ra: “Mẹ không cần A Nhiên, ba cũng không cần A Nhiên. Em là đứa bé không ai cần! Em không có nhà!”

Người kia rõ ràng ngẩn ra, nửa ngày bỗng nhẹ nhàng ôm ta, một tay vỗ về ta khóc tới đau sốc hông, giọng hết sức dịu dàng: “Ngoan, đừng khóc nữa, em tên A Nhiên à? Em không phải đứa bé không ai cần, anh cần em được không?”

“Anh là ai?” Ta chùi đôi mắt sưng đỏ, kì quái nhìn người nọ.

Trước mắt là một bé trai không lớn hơn ta bao nhiêu nhưng lại có sức mạnh kỳ lạ khiến người ta thấy an lòng. Người nọ kéo ta dậy, phủi cát bám trên người ta, lại lấy khăn tay lau mặt và tay cho ta, mỉm cười nói: “Anh tên Cố Nhược Trường, em phải gọi là anh mới đúng.”

Sau đó, ta có một người anh tên Cố Nhược Trường, anh ấy có đôi mắt đẹp, giọng nói mềm mỏng và bàn tay ấm áp. Mỗi ngày chỉ cần không đi học, tất nhiên ta bám lấy anh ấy, chạy tới chạy lui, ngay cả ăn cơm, thậm chí ngủ cũng thường xuyên ở nhà anh ấy. Ba mẹ anh ấy bận công tác, cũng không rảnh chăm sóc anh ấy, phần lớn thời gian là anh ấy tự lo cho mình, bây giờ lại thêm ta. Ngoài ta ra, là A Dao. Lúc đó A Dao xinh như một cô công chúa bé, thường hay mặc váy lông trắng, lần nào cũng ngọt ngào ôm Nhược Trường, cười khanh khách. Không thì cũng kéo vạt áo ta, lắc qua lắc lại, vừa lắc vừa hát. Xưa nay ta luôn cảm thấy bọn con gái yếu ớt phiền toái thế mà nhìn cánh tay trắng trẻo của cậu ấy, lập tức mềm lòng, mặc cậu ấy đùa nghịch đủ trò.

Tuổi dần lớn, A Dao và ta đều có tính nghịch ngợm phá phách, còn Nhược Trường nhỏ tuổi mà tính tình điềm đạm, cái gọi là ba tuổi thấy lớn bảy tuổi thấy già, câu này nghiễm nhiên đúng với ba người chúng ta. Ba đứa bé cùng nhau nghịch, mấu chốt luôn là ta và A Dao đứa nào đứa nấy đều nghịch như quỷ, đứa sau hơn đứa trước. Nhược Trường luôn theo sau lưng chúng ta, mặc chúng ta phá phách, thỉnh thoảng răn đe song cũng chẳng nghiêm túc. Đợi đến khi bị người lớn phát hiện, trước sau đều là anh ấy lập tức đứng ra nhận sai, sau đó bất lực nhìn hai đứa ta đang âm thầm lè lưỡi. Mỗi lần như thế, ta và A Dao lại vui vẻ mỗi đứa nắm một tay anh. A Dao nghĩ cái gì ta không biết, ta chỉ đơn thuần thích cái cảm giác ấm áp vững chãi khi nắm tay anh mà thôi.

Năm tám tuổi, trận động đất đó kết thúc sinh mệnh của ba, ta nhờ chơi đùa bên ngoài mà thoát được một kiếp. Lúc ấy gạch ngói đổ nát hoang tàn, khắp nơi là tiếng gào khóc rên la, ta mờ mịt ngồi trước cửa nhà mình, nhìn ba đã tắt thở, kinh ngạc phát hiện mình cũng sẽ khổ sở vì ba, cái gọi là một giọt máu đào hơn ao nước lã có lẽ là thế này đây. Đang cân nhắc có nên khóc hay không bỗng nhiên cảm giác sau lưng có người đột ngột ôm chầm lấy ta, hơi thở quen thuộc lượn lờ, là Nhược Trường.

Anh dùng sức ôm ta, nỉ non: “A Nhiên, em không sao là tốt, không sao là tốt rồi.”

Ta dùng sức ôm lại anh, bỗng nhiên cảm thấy trận động đất này cũng không có gì đáng ghét. Nhưng động đất chẳng những giúp ta thoát khỏi cái nơi chẳng muốn quay về này, còn mang theo cả ba mẹ A Dao luôn che chở cậu ấy đến lúc chết. Lúc cậu ấy được cứu ra rõ ràng đã sợ chết khiếp, ôm Nhược Trường đầy mình thương tích vì tìm cậu ấy khóc đến long trời lở đất. Ta đứng sau Nhược Trường, nhìn Nhược Trường ôm A Dao cả người toàn bụi đất và máu của ba mẹ cậu ấy, dịu dàng dỗ dành, thân thể A Dao dường như vẫn còn sợ hãi khẽ run run, tay còn dính máu do trầy xước.

Trận động đất kia mang đi cái gì, tác thành cái gì, đến bây giờ đã không cách nào bình luận, nhưng nó để lại cho ba đứa bé, đến bây giờ hãy còn chi phối số mạng cả ba đứa, vận mệnh ngặt nghèo như thế, tình cảm từ đó mà ra khác gì giọt máu đào.

Sau trận động đất đó, một thời gian dài A Dao luôn sợ ở một mình. Mỗi tối đi ngủ, vừa nhắm mắt lại liền khóc lớn. Vì thế tối nào Nhược Trường cũng dỗ cậu ấy, kể chuyện cổ tích hát ru, chờ cậu ấy ngủ say cũng túm tay Nhược Trường không chịu thả, hở động đậy một tí sẽ làm cậu ấy khóc to, thành thử Nhược Trường chỉ đành ngủ chung với cậu ấy. Mà Nhược Trường nhìn ta túm áo ngủ anh ấy không chịu buông, mỉm cười xoa đầu ta “A Nhiên cũng sợ à? Vậy lại đây thôi.”

Vậy là, căn phòng nho nhỏ, cái giường nho nhỏ, ba đứa bé chen chúc nương tựa lẫn nhau, chật hẹp vô cùng song khiến người ta cực kỳ yên tâm. Trong đêm đen, một bàn tay ấm áp nắm tay bạn, cái cảm giác hạnh phúc chân thật đó, dù chuyển thế hai đời cũng chưa từng phai nhạt.

Từ tám tuổi đến mười tám tuổi, mười năm thấm thoát như thoi đưa, đến bây giờ, không đếm được bao nhiêu ký ức. Nhắm mắt lại, dường như còn có thể ngửi thấy mùi thơm ngọt ngào của hoa quế trước phòng, còn nghe được giọng nói dịu dàng ân cần dặn dò của Nhược Trường, còn có thể nhìn thấy trong sân vệt nắng loang lổ, ba đứa nhỏ cùng nhau chơi cờ, bắn bi. Trong óc, hình ảnh thời niên thiếu mờ mờ hư ảo toàn là bóng A Dao và Nhược Trường, người trước xinh đẹp trong trẻo quyến rũ vô vàn, người sau, đáy lòng lắng đọng cảm giác ỷ lại không thể diễn tả bằng lời và khát vọng. Khát vọng có thể đến gần sự ấm áp kia hơn, đuổi theo ánh mắt khoan dung kia, thậm chí đi chạm vào trái tim trước nay luôn lưu luyến quan tâm A Dao và ta.

Có lẽ vì trận động đất hồi bé đó, tận mắt nhìn thấy ba mẹ qua đời đối với A Dao mà nói có ảnh hưởng quá lớn, từ rất nhỏ cậu ấy liền quyết tâm làm bác sĩ. A Dao cực kỳ thông minh, mười tám tuổi đậu vào học viện y như ước muốn, chọn khoa lâm sàng vất vả nhất. Từng nghe người ta nói những đứa nhỏ lớn lên cùng nhau sẽ ảnh hưởng lẫn nhau, hứng thú yêu thích khá tương tự. Có đúng với người khác hay không ta không biết nhưng với ba người chúng ta thì đúng thế. Trên đơn nguyện vọng, ta và Nhược Trường gần như không thèm suy nghĩ liền chọn khoa y lâm sàng, lựa chọn khác hình như không đủ nắm lấy hứng thú của ta. Có người nói cuộc sống tám năm ở học viện y tựa như địa ngục mà lâm sàng chính là tầng địa ngục thứ mười chín, nhưng ta lại cảm thấy tám năm đó trôi qua vô cùng tuyệt vời. Mỗi ngày uống cùng ly nước dùng cùng phích nước hộp cơm, lên lớp thì chép hình vẽ chép chữ của anh ấy, lúc thực tập thì ra ra vào vào cùng một khoa phòng, đêm khuya nghe tiếng anh ấy ngủ say thở đều đều ở giường dưới, ta thường nghĩ sao không thể ở học viện mười tám năm chứ?

Mãi đến một ngày, ta bỗng nhiên phát hiện hóa ra phần tình cảm này còn phức tạp nan giải hơn ta tưởng nhiều.

Lúc ấy ta và Nhược Trường cùng thực tập chuyển khoa ở khoa ngoại. Bác sĩ thực tập luôn đi ba ca, cực kỳ vất vả. Ngày hôm đó đến phiên Nhược Trường ở viện trực ca đêm. Mới sáng sớm ta xách bữa sáng đi mua cùng A Dao, một mình chui vào phòng nghỉ. Trong phòng chỉ có mỗi mình Nhược Trường, thức cả đêm bây giờ đang nằm trên sofa ngủ ngon lành. Ta rón rén tay chân đặt đồ ăn sáng lên bàn trà, đang tính hù anh ấy một cái, bỗng nhiên thấy ánh mặt trời mới mọc xuyên qua cửa sổ mở rộng hắt vào trong phòng, rơi trên gò má trắng trẻo tuấn tú của Nhược Trường, nhuộm hàng mi mấp máy của anh ấy thành màu vàng nhạt, khiến gò má góc cạnh của anh ấy càng trở nên đẹp đẽ tuấn tú. Có lẽ là đêm qua không ít việc, rõ ràng Nhược Trường đã mệt lắm, sau khi ta lay lay anh ấy vài cái, mơ mơ màng màng ngọ nguậy, chớp mắt đã ngủ say lại. Không trầm tính như thường ngày, ngược lại có mấy phần yếu ớt khiến người ta mềm lòng vô hạn. Ánh dương lướt qua chóp mũi và cánh môi anh ấy, khoảnh khắc ấy lòng ta chợt rung động thật mạnh, ma xui quỷ khiến vươn tay vẽ theo đường cong cánh môi của anh ấy, cảm thụ sự phập phồng nơi đó. Rốt cuộc lúc ta phản ứng lại mình đang làm cái gì, lập tức rụt tay về như vừa mới làm ra chuyện tày đình, hận không thể chôn nó xuống đất luôn. Cả sáng hôm ấy, tim ta đập thình thịch, cực kỳ bất an song cũng khá là kích động hào hứng, cái cảm giác đó đến bây giờ vẫn chưa từng phai, chưa từng quên.

Sau hôm ấy, bỗng nhiên ta cảm thấy có gì đó không giống trước nữa. Không phải Nhược Trường, cũng không phải A Dao, từ đầu chí cuối hai người họ chẳng hề phát hiện ra điều gì, bởi vì cái cảm giác mơ hồ bất an đó bị ta che giấu rất kỹ, kỹ đến nỗi thậm chí có lúc chính ta cũng không phát hiện ra. Nhưng mỗi đêm khuya, nỗi nghi ngờ bất an kia lại lặng lẽ trỗi dậy, hoàn toàn vùi lấp ta trong đó.
Có điều bất luận ra sao, thời gian chưa từng ngừng lại. Tám năm trôi qua rất nhanh, nháy mắt ba người chúng ta đã tốt nghiệp. Ngày làm lễ tốt nghiệp, sinh viên mặc áo bác sĩ màu trắng, lập lời thề trong hội trường hơn trăm năm lịch sử. Khi ấy tuổi trẻ ngông cuồng, ta chẳng hiểu, miệng đọc lời thề Hypocrate, khiến ta và A Dao rối rắm đủ hai đời, gánh nặng hai đời, cũng nỗ lực hai đời.

Ngày tuyên thệ ấy, ánh dương rạng ngời cỏ xanh biêng biếc, lưu lại cho ta là lời thề Hypocrate khi ấy không hiểu được cùng sự thức tỉnh như bị một cây gậy đánh vào đầu. Lúc ấy, A Dao mặc áo dài trắng tinh vui sướng cực kỳ lôi kéo Nhược Trường cười nói, tâm nguyện nhiều năm thành hiện thực, cố chấp như A Dao sao không vui cho được chứ? Ta chợt chú ý đến ánh mắt Nhược Trường nhìn A Dao. Đôi mắt ấy thẳm sâu như biển, xao động mênh mang không diễn tả nổi và… nồng nàn. Trước nay, Nhược Trường đối xử với A Dao và ta có thể nói là thân mật vô cùng, trước nay ta đơn giản cho rằng tình cảm ấy là chuyện hiển nhiên, lại sơ sót bỏ qua, dưới đôi mắt Nhược Trường che giấu tình cảm dành cho A Dao như thế. Trong khoảnh khắc, chẳng những ta kinh ngạc, mà thậm chí còn trở nên sợ hãi, bởi vì ta bỗng phát hiện, thì ra, mờ mịt bất an vẫn luôn xuất hiện trong đêm khi nay, tương tự như xao động trong mắt Nhược Trường đến thế, cơ hồ như đúc từ một khuôn. Phát hiện bất thình lình này khiến ta mừng rỡ, kế đó là kinh hoảng tột độ. Đó là Nhược Trường, Nhược Trường từ nhỏ đã cùng ta nương tựa, là Nhược Trường một tay chăm sóc ta và A Dao, là… Nhược Trường yêu A Dao mà…

Bị phát hiện khủng khiếp vô cùng kia đánh gục, ta nhanh chóng đổ bệnh, suốt mấy tháng liền, mê man thiêm thiếp. Nhược Trường và A Dao lo lắng vô cùng, mấy lần xin nghỉ thay ta, ở nhà nghỉ ngơi cùng ta song ta không dám đối mặt với bất cứ ai trong hai người, bệnh chưa lành đã quay về bệnh viện đi làm. A Dao và Nhược Trường nhìn nhau, muốn nói lại thôi, đều không hiểu được tại sao ta thất thường. Rốt cuộc không được mấy ngày, một ca mổ đưa tới, ta choáng váng đầu óc dựa vào cánh cửa ngoài phòng mổ, trước khi ngất đi còn nghe y tá bên cạnh la hoảng lên.

Tỉnh lại lần nữa, phát hiện mình nằm trong phòng bệnh ở khoa mình, hơi động đậy, gương mặt Nhược Trường liền xuất hiện trước mắt. Bàn tay ấm áp của anh sờ trán ta, cẩn thận kiểm tra một lượt, cuối cùng thở phào: “A Nhiên, em có khó chịu chỗ nào không?”

Ta nhìn gương mặt mệt mỏi của anh: “Không có… em?…”

Anh bưng nước đút cho ta uống xong mới nói: “Hôm qua em ngất xỉu bên ngoài phòng mổ, bác sĩ cùng kíp mổ vội vàng đưa em vào ICU, chừng đó mới phát hiện em sốt cao dẫn tới viêm phổi. A Nhiên, em…”

Nói chưa xong, mé giường bên kia động đậy, ta mới phát hiện A Dao nằm úp sấp bên đó, hai mắt nhập nhèm, đầu tóc hơi rối, nghiễm nhiên ngủ chưa tỉnh hẳn. Song vừa thấy ta lập tức trợn mắt, gần như bổ nhào lên: “Thu Nhiên! Cậu tỉnh rồi! Sao rồi, còn chỗ nào khó chịu? Có tức ngực không?” Tay không ngừng, nào là kẹp nhiệt nào là ống nghe, tay chân luống cuống, hoàn toàn không bình tĩnh vững vàng như thường ngày nữa. Nếu bị giáo sư hồi trước nhìn thấy, sợ là bị mắng một trận.

Nhược Trường kéo cô ấy lại “A Dao, anh kiểm tra rồi, A Nhiên không nguy hiểm nữa.”

A Dao vẫn không yên tâm nhìn ta: “Thu Nhiên, đã nói cậu không thoải mái thì phải nghỉ ngơi đàng hoàng, có ca thì để tớ và Nhược Trường thay cậu được rồi. Cậu có biết hôm qua làm tớ chết khiếp không.”

Vừa dứt lời, y tá trong khoa đi vào, vừa thay bình dịch truyền trên giá vừa cười: “Bác sĩ Phó, bác sĩ Lộ nói đúng đó. Nếu thêm lần nữa, khoa hô hấp chúng tôi đều bị hù chết mất. Bác sĩ không biết đấy, tối qua bác sĩ Lộ vừa nghe nói bác sĩ bị ngất ngoài phòng mổ, đưa tới khoa hô hấp lập tức chạy tới đây, nghe nói trên đường đụng đổ hai xe đẩy, còn rơi mất một chiếc giày. Chờ vào khoa, thiếu chút nữa là túm cổ áo chủ nhiệm khoa chúng tôi, cứ mãi hỏi rốt cuộc bác sĩ bị gì. Cả chủ nhiệm chúng tôi cũng bị cô ấy hù không ra tiếng. Bác sĩ Cố cũng thế, hai ngày nay không hề chợp mắt. Đến giờ bác sĩ là bệnh nhân có thể diện nhất khoa hô hấp rồi đó, hai bác sĩ đích thân canh giữ bên giường bệnh, ngay cả dịch này cũng do bác sĩ Cố tự tay truyền đó.”

Nghe y ta lải nhải lắm lời như thế, lòng ta chua xót. Cái gọi là quan tâm quá hóa loạn, viêm phổi nho nhỏ thế mà khiến hai bác sĩ chứng kiến nhiều ca bệnh nặng như Nhược Trường và A Dao rối loạn đến vậy. Đối mặt với hai người yêu thương che chở ta như thế, sao ta có thể thản nhiên đối diện với thứ tình cảm kia của mình? Sao có thể khiến Nhược Trường khổ não? Sao có thể làm A Dao đau lòng?

T

hật ra đời vốn rất đơn giản, nhưng một chữ “tình” chen vào thì trở nên khó khăn. Lúc ta hoàn toàn không cách nào đối mặt với hai người thân thiết nhất, có lẽ trời xanh tác thành, một tờ giấy xin gia nhập MSF của A Dao cứu ta ra khỏi mối tình tiến thoái lưỡng nan kia. A Dao đã muốn đi, đương nhiên ta và Nhược Trường cũng đi theo. Huống chi bác sĩ MSF quả thật là giấc mơ của ta. Ta vốn chuyên khoa chỉnh hình nhưng ma xui quỷ khiến, trong khoảnh khắc điền vào đơn, ta ghi hai chữ “truyền nhiễm” trong ô chuyên môn. Quả nhiên như ta dự đoán, sau khi đơn xin gia nhập được duyệt, Nhược Trường và A Dao chuyên khoa ngoại bị phân tới làm cấp cứu ngoại ở Afghanistan, còn ta bị phái tới phòng dịch truyền nhiễm ở Liberia. Nhìn đơn trong tay, ta âm thầm thở ra, lại thầm lo lắng cho an toàn của hai người ở nơi chiến loạn kia. Đang lúc do dự không chừng, Nhược Trường bỗng giao cho ta một cái hộp “Nhớ phải mang theo cái này, hễ có chuyện gì nhất định phải gửi tin cho anh và A Dao.”

Ta mở ra xem, hóa ra là điện thoại vệ tinh quốc tế. Thứ này gộp hai cái lại cơ hồ tiêu mất hơn nửa năm tiền lương của anh.

“Anh cứ tưởng là A Nhiên điền khoa chỉnh hình, không ngờ là em cũng có hứng thú với bệnh dịch.” Nói rồi vỗ mạnh vai ta “Nhớ kỹ phải thường xuyên báo bình an, đừng để anh và A Dao lo lắng.”Cái hộp trong tay nặng tựa ngàn cân, trừ gật đầu ra ta không biết nên phản ứng thế nào nữa. Lúc ấy đau lòng, nhưng lại không biết thứ này giao cho ta đạo lý làm ta thờ phụng hai đời.

Ba người một khi tách ra đều không có thời gian cảm giác không thích nghi, bác sĩ MSF xưa nay luôn là nơi khiến bạn không có thời gian và tinh lực đi phiền não chuyện gì khác ngoài công việc. Trong điện thoại A Dao nói với ta, không tới Afghanistan thật sự không biết cái gì là chiến trường và mạng người. Ta lắc đầu, nói với cô ấy nếu đến bệnh viện trại tị nạn Liberia một chuyến mới biết cái gì là sống sót.

Nơi này thiếu thốn kháng sinh, thuốc tê là đồ hiếm, xét nghiệm miễn cưỡng lắm mới thực hiện được kiểm tra công thức máu, những xét nghiệm khác, đừng nói là dãy bệnh độc, chỉ làm xét nghiệm chức năng gan thôi đã khó càng thêm khó rồi. Thiết bị tiên tiến nhất của bệnh viện là một cái máy X quang secondhand đã mười mấy hai chục tuổi, dù là thế, các bác sĩ cũng đã xem như bảo vật, nó mà hỏng thì cũng không biết kiếm đâu ra cái khác nữa. Mỗi ngày bên ngoài phòng khám xếp một hàng dài hơn hai trăm mét, từ sáng sớm đến chiều tà, phòng cách li quan sát luôn đầy ắp bệnh, ngay cả hành lang cũng toàn bệnh nhân. Mấy chục bác sĩ chuyên khoa khác nhau làm việc cả ngày lẫn đêm nhưng không sao bù lại được thiếu hụt thuốc men vật phẩm. Áp lực như thế, chung quy khiến đầu óc ta tạm thời trống trải, chỉ chứa các ca bệnh trong đó.

Đến nơi này tháng thứ ba, ta nhận một người đàn ông hơn năm mươi tuổi nhiễm xoắn khuẩn vàng da. Người đưa tới trễ, chức năng thận gần như suy kiệt. Bệnh này chẳng phải bệnh nan y, nhưng ở nơi thế này, không phải nan y cũng thành phải. Ta nói với ông ấy, nếu đến bệnh viện công ở đây có thể chữa được, nhưng nơi này trừ một cái máy X quang cũ mèm ra gần như không còn gì nữa. Người kia nghe xong lắc đầu, ta khuyên nhủ ra sao ông ta cũng từ chối. Ông ấy nói với ta, ông không định đi khám, vì bệnh viện MSF không thu bất cứ khoản tiền nào ông mới tới đây. Viện phí của bệnh viện công, ông khuynh gia bại sản cũng không trả nổi. Mà nhà ông trừ vợ thất nghiệp ra còn có năm đứa con chờ ăn, nếu lấy tiền chữa bệnh cho ông ta, vợ con ông ta liền hết đường sống. Cuối cùng ông ấy năn nỉ ta, tuyệt đối không nói sự thật cho vợ con mình. Lần đó, ta gật đầu vô cùng khó khăn. Sau đó mấy bác sĩ chia nhau liên hệ bệnh viện công, hết lời nhờ vả vẫn bị từ chối. Báo lên trạm liên lạc song các bác sĩ đều biết rõ trong lòng, một cái máy X quang secondhand cũng xài hơn hai chục năm, sao có thể chuyển đến máy lọc máu chứ? Ta ôm mặt, trên đời này chẳng có gì tuyệt vọng bằng việc một bác sĩ trơ mắt nhìn bệnh nhân rõ ràng có thể cứu được từ từ chết đi.

Ngày người đàn ông đó qua đời, ta làm hồi sức cấp cứu hai lần. Nhưng đối diện với sinh mệnh đã suy kiệt, làm nhiều hơn nữa cũng là phí công. Giây phút sau cùng, ta làm trái quy định cho vợ con ông ấy vào, lúc ấy rõ ràng ta nhìn thấy ánh mắt lưu luyến muôn vàn không nỡ của ông ta, tai nghe vợ con ông khóc gào bằng thứ ngôn ngữ ta không hiểu. Ta lặng lẽ đi ra khỏi phòng cấp cứu, chán nản ngồi xuống, bỗng nhiên đụng phải điện thoại vệ tinh bất ly thân trong túi áo choàng. Trong nháy mắt, xúc động muốn nghe giọng Nhược Trường và A Dao ập đến không sao kềm chế được.

Cước điện thoại đắt kinh hồn, ai ngờ đầu bên kia không phải giọng Nhược Trường hoặc A Dao. Ta ngây ra, hỏi đối phương là ai, A Dao và Nhược Trường đâu, đáp án cơ hồ khiến ta rớt xuống vực sâu không đáy. Nửa đêm hôm qua hai người đến bệnh viện dã chiến rất gần khu giao tranh tham dự một ca phẫu thuật ngoại khoa, đến giờ vẫn chưa về. Chỗ đó hỏa tuyến lắc lư không chừng, đến bây giờ đã là đất chiến đấu, vì thế hai người họ mất liên lạc với bệnh viện trung tâm, trạm liên lạc dùng hết mọi cách nhưng đến giờ vẫn chẳng có bất kỳ tin tức gì.

Mấy phút ngắn ngủi, ta cảm giác như không khí chung quanh đều đóng băng khiến ta không thở được, nhũn ra nơi đó, lòng nóng như lửa đốt. Liberia và Afghanistan cách xa ngàn dặm, ta phải làm sao đây! Ta có thể làm gì đây! Mới rồi ta còn không vui vì bất hạnh của người khác, không ngờ vẻn vẹn có vài phút, chuyện này lại như sấm sét giữa trời quang ập xuống đầu ta! Chỉ có ba mươi phút ngắn ngủi mà thôi, dường như ta rơi vào địa ngục, cả ngón tay cũng không cách nào nhúc nhíc. Bỗng nhiên, điện thoại của ta lại đổ chuông, ta ngây ra đó, nhất thời không biết nên làm thế nào mới tốt. Điện thoại cứ reo mãi, hết lần này đến lần khác, vô cùng cố chấp. Ta nghiến răng, ấn phím nghe, chỉ nghe bên tai truyền đến một âm thanh, êm ái như tiếng trời: “A Nhiên? Cậu mới gọi tới hả?” Âm thanh du dương, chính là A Dao.

Trong chớp mắt ta ngơ ngác ngồi ngây tại chỗ, cái cảm giác trái tim vừa rơi xuống địa ngục thoắt cái nhảy lên thiên đường khiến ta không cử động nổi, chỉ biết vô thức đáp lại, nghe tiếng Nhược Trường gọi qua điện thoại: “A Nhiên? Hôm qua anh và A Dao đi bệnh viện dã chiến chi viện cho một ca mổ, quay về đường bị phong tỏa, trễ một chút. Em có khỏe không? A Nhiên? A Nhiên?”

Giọng nói quan tâm của Nhược Trường vang đi vọng lại bên tai. Gần như trong khoảnh khắc ấy, khúc mắc tích tụ trong lòng mấy tháng nay “xoạch” một cái liền cởi bỏ, trời đất cũng trở nên rộng mở. Đúng thế, ta có tình cảm rung động với Nhược Trường, ta và A Dao lại có tình thân ruột thịt. Nghĩ đến người đàn ông trong phòng cấp cứu kia, ông ấy muốn sống, muốn ở bên cạnh người yêu và người nhà song không thể. Còn ta, người yêu và thân nhân đều ở bên cạnh, quan tâm chăm sóc lo lắng cho ta vạn phần, họ hoàn toàn thật lòng với ta, ông trời hậu đãi ta đến mức nào? Chỉ mới một thời gian ngắn, ta sợ mất đi họ, đã như thế, nếu thật sự có ngày ba người không thể gặp lại nhau, hoặc là tình nghĩa phai nhạt, bảo ta làm sao mà chịu nổi? Ba người gắn bó nương tựa bao nhiêu năm nay, con đường sau này vẫn sẽ đồng hội đồng thuyền, ta cần gì rối rắm để ý mối tình này rốt cuộc nối với ai? Bao năm nay tình cảm Nhược Trường và A Dao dành cho ta, có thiếu quá nửa phần?

Một chữ tình, quý ở chân thành. Đối mặt với hai trái tim chân thành tột đỉnh, quyết không muốn tổn thương ta một chút nào, sao ta lại tự làm khổ mình như thế? Bỗng nhiên ta thở phào, nghe giọng nói nôn nóng của Nhược Trường và A Dao bên tai, vội vàng lên tiếng an ủi.

Người ta nói bác sĩ MSF giúp đỡ những người khốn khó, nhưng hôm nay, sáu tháng làm bác sĩ ở MSF này lại tặng cho kẻ đang lâm vào khốn khó như ta một gậy vào đầu, mở mang đầu óc. Lúc ra đi nặng nề, đến khi quay về, quả nhiên tâm tình thay đổi hẳn. Sân bay, nhìn A Dao mừng rỡ hào hứng ôm ta, nhìn Nhược Trường mỉm cười dịu dàng ấm áp, lòng ta rốt cuộc an ổn lại. Có chút yêu không cần phải nói, cứ để nó giấu sâu trong lòng cả đời, sau đó giúp đỡ yêu thương quan tâm cả đời, không rời không bỏ, có gì mà không tốt?

Mãi lâu về sau, một lần ta và A Dao trò chuyện nhắc đến những chuyện cũ này, A Dao mới nói cái ngày gọi điện thoại đó, nàng và Nhược Trường ở trong bệnh viện dã chiến khói lửa mịt mù, lần đầu tiên trong đời nàng học cách làm một bác sĩ, nguyên tắc cả đời cần theo đuổi. Nghe xong ta âm thầm cảm thán trời xanh thật sự hậu đãi chúng ta, cùng ngày hôm đó, ta hiểu được cả đời ta cần che chở tình cảm, thân tình tình yêu, không có bên nặng bên nhẹ, chỉ có giấu chúng thật sâu, mặc cho năm tháng như nước chảy, tuổi xanh phó xuân thu.

Thế nhưng, ta không ngờ, tình cảm yêu thương chăm sóc giúp nhau cả đời ấy lại ngắn ngủi như thế. Mới có ba năm, Nhược Trường xảy ra chuyện. Từ nay cùng trời cuối đất, một đi không về. Những chuyện sau đó ta không có can đảm đi nhớ lại nữa, đoạn kí ức u ám đó là cơn ác mộng cả đời ta. Nhược Trường qua đời, ta ngày đêm chìm trong men rượu, mãi đến khi A Dao cũng xảy ra chuyện tiếp, bấy giờ mới khiến ta lấy lại tinh thần. Nhược Trường để lại hai câu phó thác, ta phụ lòng sạch sẽ. Ta còn xứng đáng với sự nhờ vả của Nhược Trường sao, còn xứng đáng với người đau lòng nhất lúc này là A Dao sao? Ta hung hăng quăng hết tất cả rượu ra khỏi cửa, nghiêm túc mà mạnh mẽ rửa sạch sẽ mặt mũi, nhìn thẳng vào tình hình hết sức bê bết của A Dao.

May mà rốt cuộc A Dao dũng cảm hơn ta nhiều lắm, cai nghiện, vượt qua ác mộng Nhược Trường qua đời, vượt qua nỗi đau lý tưởng gánh trên vai, hai kiếp luân hồi, nàng luôn dũng cảm kiên cường hơn ta, từ đầu tới cuối luôn nhìn thẳng vào những sự kiện không chịu nổi kia, để mình cõng trên vai tội nghiệt, trách nhiệm vốn dĩ có một nửa của ta, một mình đi khắp chân trời góc bể. Mà ta, vẫn như lời hứa với Nhược Trường năm xưa, từ đầu chí cuối che chở chăm sóc nàng, để nàng có thể không vướng bận, áo cơm không lo, khiến nàng từ từ thực hiện giấc mộng năm xưa của ba người chúng ta, khiến nàng lúc mệt mỏi vạn phần, có nhà để về. Với hai chúng ta mà nói, một chữ tình, lúc này không phải chỉ cần hai chữ chân thành là có thể nói hết, mà đó là máu mủ ruột rà thấm vào xương tủy. Tình yêu dành cho Nhược Trường năm xưa càng lúc càng nồng song cũng bị chôn giấu càng sâu, cứ để cái bí mật này vĩnh viễn vùi lấp đi, ngàn vạn lần đừng để nó hiện ra, tổn thương A Dao.

Khi nam tử ta vốn cho là cực kỳ nhu nhược kia đứng trước mặt ta, kiên định nói cho ta biết trên thế gian này không có gánh vác nổi hay không, chỉ có nguyện ý hay không nguyện ý mà thôi, ta bỗng nhiên hiểu được vì sao mình và A Dao lại xuất hiện ở nơi này. Có người nói lúc ông trời lấy đi của ngươi cái gì đó, tất sẽ đưa lại cho ngươi thứ khác. Nhiều năm dũng cảm kiên cường của A Dao không uổng công, con người sạch sẽ thanh tao trước mắt, có lẽ là món quà trời xanh thưởng cho A Dao.

Tối đó sau khi Ân Lê Đình đi rồi, ta rải ba chung rượu về hướng tây, nước mắt đè nén trong lòng nhiều năm tràn ra không kềm chế được. “Nhược Trường, rốt cuộc anh yên tâm được rồi.” Còn ta, cuối cùng có thể mặc cho nỗi nhớ nhung cố chấp nơi đáy lòng tựa như cỏ dại tràn lan, mặc sức mở rộng; Rốt cuộc có thể mặc cho tình ý trong lòng như rượu ủ lâu năm bóc ra, hương thơm bốn phía; Rốt cuộc có thể không cần ngày ngày đêm đêm mang theo áy náy đối với A Dao chẳng sợ dù chỉ là một chút; Cũng rốt cuộc, có thể đồng thời giữ được cả tình thân quấn vào xương máu và ái mộ chưa từng phai đi. Ta cười khẽ trong lòng, ai nói xưa nay sự đời khó vẹn đôi đường?

Song ta lại một lần nữa không ngờ, mối tình duyên này của A Dao cũng ngắn ngủi như thế. Chẳng lẽ trời cao thật sự không dung được tình cảm sạch sẽ trong trẻo này sao? Chung quy A Dao quá hiểu ta, biết nhất định ta khó mà đối mặt, ngay cả một lần cuối cùng cũng không cho ta nhìn thấy. Trong nháy mắt, bỗng nhiên ta vô cùng hận mình sao lại yếu đuối trước sinh ly tử biệt đến thế. Có điều khi Ân Lê Đình giao lại thư A Dao gửi lại cho ta, ta lại bỗng thấy may mắn, may mắn A Dao chắc chắn cũng không muốn ta gặp nàng, mà lúc nàng ra đi, nhất định trong lòng cũng ấm áp mà vui sướng. Không có muôn ngàn nghiệp chướng không có vô vàn trách nhiệm, có người yêu thương bên mình, nếu được như thế, còn gì nuối tiếc đây?

Thư A Dao để lại, rất dày rất nặng, tựa như lời thề nàng thực hiện bao năm nay, tình cảm ta khắc ghi, phó thác Nhược Trường để lại. Có điều, cuối cùng ta không có can đảm mở ra, xem thử trong đó viết gì, dường như chỉ cần không mở, A Dao sẽ vĩnh viễn không rời. Ta nghĩ chắc A Dao cũng chưa từng tính đến ta sẽ mở nó ra. Hai kiếp luân hồi, nàng đang nghĩ gì sao ta không hiểu chứ?

Nhược Trường, A Dao rốt cuộc ra đi, lần này em sẽ không đi theo nàng. Bởi vì nàng đã dũng cảm không cần em che chở nữa, bởi vì rốt cuộc nàng đã bước ra khỏi mối duyên tình chết yểu thời niên thiếu, bởi vì rốt cuộc nàng có thể lần nữa đi yêu và được yêu, bởi vì sẽ có một người yêu thương nhung nhớ nàng, tình ý ấy không kém gì em và anh.

Mà ta, rốt cuộc bị giữ lại thế giới này, rốt cuộc có thể yên tĩnh theo tháng năm, rốt cuộc chìm đắm trong âm thanh du dương của nữ hài năm xưa, trong nụ cười khiến người an tâm của nam hài ấy.

Chuyện cũ chưa từng nhạt phai, yêu thương giận hờn hãy còn mồn một.

Trên đời này, mỗi người đều có hận. Đau khổ nhất, chính là hận bản thân. Hận mình vô lực, hận mình vô năng, hận mình hèn nhát, hận mình buông bỏ niềm tin và lý tưởng, hận mình nhếch nhác ghê tởm không chịu nổi. Nhưng có chút hận, xương nghiền thành tro, không hối hận; cũng như có chút yêu, quanh đi quẩn lại, cho dù không ai biết, chung quy cũng không chạy khỏi lưới trời lồng lộng [101].

Nhược Trường, A Dao, trước hai cái tên này, bất cứ việc gì, với ta mà nói, đã không có sai và đúng nữa.

Chương 97: Tình khách đường kim cổ

Nguyên Thuận Đế năm Chí Chánh thứ sáu, tháng giêng, Quản Thành.

Năm nay khí trời ấm lên khá trễ, mười lăm tháng một vừa mới qua, phần lớn phương bắc tuyết tích lũy cả mùa đông vẫn chưa tan đi. Hai ngày nay thời tiết lại lạnh trở lại, tuyết rơi đã nửa ngày. Lúc này sắc trời sắp đen lại, gió bắc đem theo tuyết lông ngỗng bay múa lả tả khắp nơi. Ngoại thành Quản Thành, trên đường không còn người đi nữa, tuyết lớn lấp hết quan đạo bằng phẳng.

Một bên quan đạo có một khách điếm không lớn lắm. Khách điếm chia làm hai tầng, tầng trên ở trọ, sảnh đường tầng dưới mở quán rượu, kiêm bán ít đồ ăn. Thức ăn thì không tới mức mỹ vị nhưng rất rẻ. Lúc này bên ngoài khách điếm tuyết bay lả tả, trong khách điếm bếp lò hừng hực, ánh lửa bập bùng, khá là ấm áp. Có bảy tám người vì gió tuyết cản trở mà dừng chân ở đây tụ tập một chỗ, chọn vài món ăn, đang nghe một ông lão thuyết thư kể chuyện. Ông lão này kể chuyển trầm bổng khá là xuất sắc, mọi người liên tục khen ngợi, ngay cả chưởng quầy cũng sán lại nghe.

Ông lão kể khá hào hứng: “Cái này nói thì trễ lúc ấy rất nhanh, chỉ thấy Võ Đang tam hiệp Du Đại Nham vung đao lên, một chiêu Hoành Phê chém thẳng xuống eo Thành Côn. Mà Thành Côn kia cũng rất được, eo lão cứ như rắn nước mềm nhũn linh hoạt, vặn một cái liền tránh ra. Thành Côn chưa rút lui về bên trái, thì thấy Trương tứ hiệp Trương Tùng Khê kế bên Du tam hiệp xách Thục Đồng côn…”

Nói chưa xong thì nghe cửa khách điếm bị đẩy ra két một tiếng, mọi người đều không ngờ thời tiết như vậy còn có khách, đồng loạt nhìn qua. Chỉ thấy từ ngoài cửa có hai nam tử đi vào. Người đi trước là một hán tử gầy gò chừng bốn mươi tuổi, mặt mũi góc cạnh vuông vắn, một thân áo choàng xanh xám đầy bông tuyết. Người đi sau là một thanh niên chừng hai bảy hai tám, mặt mũi tuấn tú, lúc này đang quay người đóng cửa khách điếm.

Chưởng quầy vội vàng tiến lên: “Nhị vị nghỉ chân ăn lót dạ hay ở trọ? Trời tuyết lớn thế này lạnh hỏng rồi đi? Tiểu nhị mau mang trà nóng lên!”

Hai người lau mặt sạch sẽ, thanh niên nọ nói với chưởng quầy: “Chúng ta nghỉ chân, phiền chưởng quầy cho hai bát mì nóng, một xửng bánh bao, thêm hai cân thịt bò muối.”

“Có ngay. Có điều khách quan à, gió tuyết lớn thế này, xem ra đêm nay cũng không ngừng rơi, lạnh chết người. Nhị vị vẫn nên ở lại tiểu điếm nghỉ một đêm đi, sáng sớm mai lên đường cũng không muộn.”

Tuy chưởng quầy tính kiếm chút tiền nhưng cũng có lòng tốt, thời tiết thế này quả thật không thích hợp lên đường. Hai người bên này cởi áo choàng đầy tuyết ra, rũ áo vắt lên một bên, chưởng quầy nhìn mà không khỏi ngây ra. Thời tiết đóng băng cả giọt nước thế này, bên dưới áo choàng của hai người lại chỉ mặc một lớp trường bào đơn hơi dày, chưởng quầy nhìn không thôi là thấy lạnh rồi, bỗng cảm thấy câu nói vừa rồi của mình đúng là ngu ngốc, nhất thời ngẩn ra.

Thanh niên kia lắc đầu khẽ đáp: “Huynh đệ chúng ta gấp gáp lên đường, đa tạ ý tốt của chưởng quầy.”

Dường như chưởng quầy cũng đã nhận ra tuy hai người này ăn mặc bình thường nhưng phong thái đi đứng có vẻ không phải người tầm thường, biết việc của khách đừng nên nhiều lời, vì thế cao giọng vâng dạ, tự mình đi chuẩn bị.

Bên này bảy tám người khách nghe kể chuyện thấy hai người yên lặng chọn chiếc bàn dựa sát tường mà ngồi, hoàn toàn không có ý quấy nhiễu người chung quanh thì cũng không chú ý nữa, giục giã ông lão kể tiếp. Nhưng ông lão thì quan sát hai người nhiều hơn một chút, thấy gương mặt hai người tuấn tú, xách theo cái bọc dài dài có vẻ là binh khí, dáng vẻ khá giống với người của bang phái giang hồ, không kềm được tò mò. Song người nghe kể thì không để ý, cứ giục giã ông kể tiếp, ông lão mới thu hồi ánh mắt, tiếp tục kể chuyện ban nãy.

“… Thành Côn kia là kẻ khó giải quyết, có điều Võ Đang tứ hiệp cũng là nhân vật vang dội võ lâm, chỉ thấy chiêu cuối cùng này Võ Đang tứ hiệp bốn hóa thành một, mượn lực đả lực đẩy một chiêu như sấm sét của Thành Côn trở về! Đương trường làm Thành Côn bị chưởng lực của mình đánh hộc máu. Lúc này cô nương vừa nãy lại từ đằng sau bốn người bước ra, thong dong đứng trước mặt Thành Côn, cất giọng lảnh lót hỏi lão: ‘Thành Côn, chịu cá phải chịu thua, lão đã thua thì phải tuân theo ước định của chúng ta mới được! Thuốc ở đây, lão uống hay không uống?’ Thành Côn đời nào chịu? Căm hận nói: ‘Lão phu tung hoành nửa đời, há để con nha đầu vô danh ngươi làm nhục?!…”

Nói chưa dứt, một người trong đám đã không nhịn được hỏi: “Cô nương kia rốt cuộc có lai lịch gì? Thuốc đó từ đâu ra?”

Ông lão cười đáp: “Ngài nghe lão nói tiếp là biết.” Nói rồi tiếp tục quay lại câu chuyện ban nãy.

Không ai chú ý, hai người ngồi ở chiếc bàn dựa vào tường nghe chuyện này xong, thần sắc khá lạ lùng. Mà thanh niên kia càng nghe, hình như vẻ mặt càng lúc càng kỳ cục, bàn tay đặt trên bàn siết thành quyền, hơi cúi đầu, ánh mắt lấp loáng, nửa vui nửa buồn, cuộn trào mãnh liệt bên dưới vẻ bề ngoài không mảy may dao động.

Chuyện xưa bây giờ biến thành chuyện lạ lưu truyền thế gian, một đồn mười mười đồn trăm, đã không còn giữ nguyên gốc ban đầu nữa song một nụ cười một cái nhăn mày của người ấy ngày trước vẫn còn rõ mồn một trước mắt, chưa từng nhạt đi, cũng chưa từng thay đổi. Thanh niên bỗng cảm thấy tay mình nóng lên, ngẩng đầu thì thấy nam tử trung niên lặng thinh không nói, nhẹ nhàng vỗ vỗ bàn tay siết lại của chàng. Sư huynh xưa nay nghiêm nghị ít lời, mặt mày luôn lạnh nhạt lúc này trong mắt lộ ra an ủi không lời.

Thanh niên mỉm cười với sư huynh, thấy thần sắc lo âu trong mắt chàng rốt cuộc tan đi, đẩy bát mì tiểu nhị vừa bê lên đến trước mặt sư huynh, nói khẽ: “Nhị ca, huynh dùng trước đi.”

Ngay lúc này, bỗng rầm một tiếng, cửa khách điếm bị đẩy mạnh, tuyết lông ngỗng lẫn với gió rét căm căm xộc vào, ngọn lửa trong lò sưởi lắc lư chập chờn, mấy người nghe chuyện đồng thời không mở mắt lên được, đưa tay che mắt. Chỉ thấy bốn năm người tay chân lúng túng xông vào, trên tay còn hợp lực khiêng một người. Người đi đầu thân hình dũng mãnh nhanh nhẹn rống lên: “Chưởng quầy! Chưởng quầy! Mau mang nước nóng vải trắng tới!”

Người kể chuyện và người nghe thấy người tới ai cũng cao to lực lưỡng, tay xách binh khí sáng choang, người được khiêng vào thì máu nhỏ tí tách dọc đường đều im thin thít, hoảng sợ nhìn bọn họ, không dám phát ra âm thanh nào. Nghe chuyện lạ giang hồ là một chuyện, không cẩn thận đắc tội đám người giang hồ này, trường đao lấp lóa lạnh lẽo kia chém lên người lại là chuyện khác.Chưởng quầy mở điếm đã lâu, suy cho cùng cũng gặp qua cảnh này vài lần, nơm nớp tiến lên “Vị, vị khách, khách quan này…”

“Khách gì mà khác?! Còn không mau đi?! Chậm trễ tính mạng huynh đệ lão tử, lão tử lật điếm nhà ngươi!” Trường đao trong tay đại hán rung lên, vòng sắt nơi mũi đao va leng keng làm chưởng quầy run lập cập “Dạ, dạ, đi ngay!” Nói rồi chạy biến ra sau như làn khói.

Mấy đại hán đó vội vàng ghép hai cái bàn lại với nhau, đặt người bị thương lên bàn. Chỉ thấy trên đùi và cánh tay người nọ bị chém ba đao thật sâu, máu tuôn ra như suối, không sao cầm được, nháy mắt nhuộm đỏ cái bàn. Mấy đại hán nóng ruột đỏ hoe mắt, rảy bao nhiêu kim sang dược đều bị máu cuốn trôi hết, dùng tay ra sức đè cũng vô hiệu, chỉ khiến người kia càng thêm đau đớn, rên la không ngừng.

Đang lúc khách điếm rối thành một nùi, cánh cửa mới được chưởng quầy đóng lại bị đá ra, người trong phòng giật mình, thầm nói lại là toán người nào đến đây thì thấy một hán tử ăn mặc không khác gì nhóm người vừa rồi túm một ông lão bé gầy sải bước vào trong.

Mọi người còn chưa phản ứng lại thì thấy đại hán cầm đầu ban nãy lớn tiếng: “Lão cửu ngươi tìm được đại phu rồi?!”

Hán tử được gọi là lão cửu một tay xách đại phu bị “mời” đến “Mau lên, lão mà không chữa lành cho bát ca ta, hôm nay đừng mơ tưởng từ đây đi thẳng ra ngoài!” Trong lúc nóng ruột đẩy mạnh một cái, lão đại phu bị đẩy loạng choạng, sắp ngã thì bỗng cảm giác có một lực đạo nhẹ nhàng cản thế ngã của ông, giữ vai ông đỡ ông đứng vững. Ông ngẩng đầu lên thì thấy một thanh niên hai bảy hai tám tuổi đỡ mình, nhỏ nhẹ: “Lão tiên sinh, không đụng trúng đâu chứ?”

Lão đại phu vốn bị dọa không nhẹ, nghe giọng người này nhỏ nhẹ nhất thời giật mình: “Không… không, không có… đa tạ công tử…”

Thanh niên lắc đầu “Không sao, ngài khám cho bệnh nhân trước đi.” Nói rồi rút tay về, quay lại bàn mình ngồi xuống.

Lão đại phu thấp thỏm nơm nớp đến trước mặt người bị thương, thấy miệng vết thương, thiên tính y giả rốt cuộc trỗi dậy, cầm hòm thuốc mang theo bên người lấy kéo ra cắt vải, dè dặt cắt quần người nọ ra, xử lý vết thương. Nhưng dù sao vết thương quá sâu, mỗi lần lão đại phu động là người bị thương lại rên la. Đám đại hán đứng bên không làm gì còn quát đại phu: “Lão già kia nhẹ chút cho ta! Không thấy huynh đệ ta đau quá à!”

Ông lão bị dọa không nhỏ, vội vàng gật đầu, tay vì thế mà không nhanh nhẹn lên được. Nửa ngày, xuất huyết chậm đi một ít nhưng vẫn không cầm máu được. Mấy đại hán kia nhìn mà sốt ruột, tai nghe huynh đệ nhà mình rên la không ngớt, nhịn không được túm lấy cổ áo lão đại phu: “Tên lang băm này rốt cuộc có biết chữa hay không?! Sao huynh đệ ta mất máu nhiều thế mà không ngừng được? Huynh ấy mà có bất trắc gì, ta tháo đầu lão xuống hầm…” Nói chưa xong đại hán chỉ thấy trước mắt hoa lên, tay trống trơn, đợi nhìn rõ, lão đại phu không duyên cớ quay lại trước người bệnh nhân, mà đứng trước mình là thanh niên mới rồi.

“Huynh đài, đừng chậm trễ lão đại phu trị bệnh.”
Đại hán thấy có người ra quản chuyện không liên quan đến mình, khá là giận dữ, đẩy một chưởng về phía thanh niên: “Ngươi ở đâu ra? Dám quản chuyện của lão tử?” Một chưởng này của gã lực đạo khá nặng, ai ngờ đánh lên người thanh niên như trâu đất rớt xuống biển, toàn bộ tan biến. Đại hán kinh hãi, không tin có tà lại đột ngột tống mạnh một chưởng nữa nhưng thân hình thanh niên kia không hề nhúc nhích, bình thản đứng ở đó.

Đại hán lạnh người, tưởng đối phương tới kiếm chuyện, rung trường đao leng keng “Tiểu tử! Ngươi thật tình tìm rắc rối lão tử thành toàn ngươi!” Lúc này hán tử bị gọi lão cửu cũng dấn lên rút binh khí ra hỗ trợ. Song không nghĩ binh khí còn chưa tuốt ra thì tay chợt tê rần, gần như trong chớp mắt, binh khí của mình đã không biết đi hướng nào, đợi định thần nhìn lại, thì thấy một tay thanh niên kia bắt lấy binh khí của mình đặt ở một bên. Đại hán cả kinh, gã vốn tên Nghiêm Tam Tiêu, là trại chủ Thái Hồ trại, cũng là nhân vật thành danh nhiều năm trên giang hồ, hành tẩu giang hồ nhiều năm nhưng lần đầu tiên bị người dùng thủ pháp nhanh như thế đoạt binh khí trong tay, thậm chí nửa phần hoàn thủ cũng không có. Đang cắn răng kinh ngạc không thôi thì nghe thanh niên kia nói: “Đại phu trị bệnh có cách thức của mình, các hạ như vậy không sợ làm lỡ bệnh nhân sao?”

Nghiêm Tam Tiêu tuy không biết thanh niên này và hán tử cao gầy bên cạnh từ đâu tới nhưng riêng thủ pháp tay không bắt binh khí nhẹ bẫng này là biết luận võ công mình tuyệt đối không có phần thắng, song nhất thời không xuống nước được, tiến thoái lưỡng nan. Lúc này một người nãy giờ vẫn đứng đằng sau tiến lên nói nhỏ với gã: “Lão đại, người này hình như không có ác ý, thương thế lão bát quan trọng hơn.” Bấy giờ Nghiêm Tam Tiêu mới căm hận trừng thanh niên kia một cái, sải bước chạy tới bên bàn.

Lúc đó lão đại phu đã xử lý xong những vết thương khác, chỉ có vết thương trên đùi là chảy máu ồ ạt, vừa rắc kim sang dược lên liền bị trôi đi, không sao ngừng được. Mắt thấy một bình kim sang dược sắp rắc hết mà vết thương vẫn không khá hơn, lão đại phu vừa bất lực vừa kinh hồn bạt vía, sợ Nghiêm Tam Tiêu không hài lòng lại xách cổ áo ông lên. Đúng lúc này, bỗng ông nghe thanh niên kia lên tiếng: “Lão tiên sinh, ông thử cái này xem.” Nói rồi đưa một cái bình sứ màu xanh ngọc đưa cho ông.

Lão đại phu bán tín bán nghi nhận lấy, mở nút ra ngửi, mùi thơm ngọt mát tỏa ra bốn phía. Kinh nghiệm của ông khá phong phú, vừa ngửi đã biết là thuốc ngoại thương cực tốt, bèn giữ bình, rắc bột phấn trắng lên đều khắp vết thương. Thuốc vừa bôi lên quả nhiên lập tức thấy công hiệu, gần như không tới một chung trà máu đã cầm lại, mọi người nhìn mà há hốc mồm. Lão đại phu nhanh nhẹn băng bó vết thương, nói với Nghiêm Tam Tiêu cầm đầu: “Vị… vị đại gia này, vết thương của y đã xử lý ổn thỏa rồi, đều là ngoại thương, không đáng ngại. Lão viết hai đơn thuốc, sau này mỗi ngày dùng thuốc đơn đầu bôi ngoài da, đơn sau uống là được. Nửa tháng sau sẽ lành.”

Nghiêm Tam Tiêu thấy huynh đệ nhà mình không sao mới đổi sắc mặt. Mặc kệ lão đại phu và thanh niên kia, hấp tấp tìm người khiêng huynh đệ mình lên phòng khách trên lầu.

Bên này lão đại phu viết đơn xong đưa cho chưởng quầy, quay đầu nhìn thanh niên thì thấy chàng đang dùng cơm cùng hán tử trung niên cao gầy nãy giờ chưa hề nói chuyện bèn tiến lên chắp tay với thanh niên nọ: “Hôm nay vị công tử này giải vậy giúp tiểu lão, lão tạ ơn công tử giúp đỡ.” Nói rồi khom người vái.

Thanh niên vội vàng đứng dậy đáp lễ “Lão trượng không cần khách sáo, tại hạ cũng chỉ dốc hết sức mọn mà thôi.”

Lão đại phu lúc này đã hoàn hồn khỏi cơn hoảng sợ, thấy thanh niên ôn hòa lễ độ không khỏi tò mò bèn hỏi: “Lão thấy thuốc của công tử vừa rồi rất có ích nhưng lão lại chưa gặp bao giờ, dám hỏi có phải thuốc ngoại thương hay mà công tử tự chế không? Tiểu lão có thể thỉnh giáo một hai chăng?”

Thanh niên nghe xong ngẩn người, khẽ cúi đầu, chốc lát chậm rãi lắc đầu nói khẽ: “Tại hạ không rành y thuật, thuốc này phối chế theo phương thuốc nội tử soạn ra.”

Lão đại phu nghe xong sửng sốt tròn mắt, không ngờ phương thuốc tuyệt diệu này do nữ tử chế ra.

Thanh niên thấy thần sắc ông cũng không giải thích nhiều, nói khẽ: “Nếu lão trượng có hứng thú có thể tham khảo cuốn Ngoại Thương Bổn Phổ Phương mới xuất bản năm ngoái, trong sách có ghi đầy đủ.”

“Ngoại Thương Bổn Phổ Phương…” Lão đại phu lẩm bẩm đọc lại, không khỏi xuất thần.

Thanh niên bị rầy rà một bận như thế, nhìn cơm trước mặt không biết vì sao nuốt không trôi nữa, ngồi yên ở đó, thần sắc không chừng. Hán tử trung niên thấy thế, biết sợ là giờ chàng không có khẩu vị, vỗ vai chàng, gọi tiểu nhị tới tính tiền, lại gói kỹ bánh bao và thịt muối bỏ vào bọc, liền đó kéo thanh niên xách bọc khoác áo ngoài lên, đội gió tuyết đi ra khách điếm, hai người cưỡi ngựa nhắm hướng bắc mà đi.

Lúc này trong phòng hai mắt lão đại phu chợt sáng lên, như sực nhớ ra gì đó, giọng nói già nua lộ ra chút hưng phấn: “Ngoại Thương Bổn Phổ Phương, đó chẳng phải là tên sách của Kim Lăng Lộ đại phu sao?!” Nói rồi nhìn quanh bốn phía, sớm đã không còn bóng dáng hán tử trung niên và thanh niên kia đâu nữa “Nội tử? Mấy năm nay chẳng hề nghe nói tin tức Lộ đại phu, cô nương này thành hôn lúc nào vậy?”

Người thuyết thư ở bàn bên nãy giờ vẫn dỏng tai để ý bên này, nghe mấy chữ “Kim Lăng Lộ đại phu” đột nhiên đầu óc lóe lên, há miệng hỏi: “Đại phu, ngài nói Kim Lăng Lộ đại phu, có phải họ Lộ tên Dao, là một nữ đại phu không?”

Lão đại phu không rõ vì sao họ có phản ứng lớn như thế, nhíu mày đáp: “Lộ Dao? Ừ, chính là nàng. Vốn dĩ tiếng tăm cô nương này rất vang dội nhưng không biết vì sao mấy năm nay bặt vô âm tín, chỉ có bệnh án sách vở của nàng in ấn hàng năm chứ không nghe tin tức gì khác về nàng, chẳng lẽ là vì thành hôn? Người này là ai…”

Dứt lời, người thuyết thư dường như nhớ ra gì đó, không nhịn được đuổi theo ra cửa, đưa mắt nhìn nhưng bóng dáng hai người kia không còn thấy đâu, chỉ có hai hàng móng ngựa in trên tuyết dọc theo hướng bắc mất dấu ở cuối quan đạo.

Chương 98: Mộng thu trường đình nhỏ

Mới qua mười lăm tháng giêng, Trương Tam Phong giao phó một số việc, cần Du Liên Châu đi Từ Châu một chuyến, mà Ân Lê Đình lại cần đi Tế Nam thành thử hai người đồng hành, tính làm xong công việc lại cùng đi Kim Lăng, tìm thuyền ra biển, nhìn xem có manh mối nào về tông tích Trương Thúy Sơn hay không.

Hai người đi đường gấp rút, rất nhanh đã đến ngã rẽ quan đạo. Đi hướng đông là Từ Châu, hướng bắc là phủ Tế Nam. Hai người gò cương ngựa, dừng ngay giao lộ. Du Liên Châu đưa lương khô ban nãy gói kỹ cho Ân Lê Đình “Lục đệ đi Tế Nam lần này dọc đường phải cẩn thận.”

Ân Lê Đình nhận lấy bọc đồ sư huynh đưa, lặng lẽ gật đầu, thấy Du Liên Châu ít lời nhưng sắc mặt quan tâm, mỉm cười: “Sư huynh không cần lo lắng, chuyện Tế Nam xong rồi tiểu đệ đến Kim Lăng hội họp sư huynh, không tới mấy ngày đâu.”

Du Liên Châu gật đầu. Võ nghệ sư đệ nhà mình chàng không lo, song cũng biết có một số chuyện không phải võ nghệ có thể giải quyết. Bèn không nhiều lời, vỗ vai Ân Lê Đình, thấy chàng hành lễ với mình, quay đầu ngựa phóng về phương bắc, mãi đến khi thân hình mất hút trong tuyết. Du Liên Châu khẽ than, buộc lại bọc đồ đựng binh khí quần áo, thẳng hướng Từ Châu mà đi.

Bên này Ân Lê Đình đi gấp, lại thêm đến ngày thứ hai rốt cuộc tuyết ngừng rơi, vì thế cũng không dừng bước, một đường đi thẳng Tế Nam. Rốt cuộc sáng sớm ngày hai mươi mốt thì vào đến thành tế Nam.

Lúc này tuyết trong thành Tế Nam vẫn chưa tan, nhưng đã không áp chế được chút ý xuân. Ngày hôm đó ánh nắng rất đẹp, ấm áp chiếu rọi khắp nơi, băng tuyết chưa tan lấp lánh ánh sáng, khá là đẹp mắt. Không khí vẫn còn mùi pháo nổ dịp tết, sạp hàng bày ra, người đi đường qua lại cực kỳ náo nhiệt, ai nhìn cũng cảm thấy vui mừng. Ân Lê Đình xuyên qua con phố khá ồn ã, ngoặt vào một con đường có vẻ yên tĩnh hơn đôi chút, đi chừng mấy chục bước, bên trái đường có một tiểu viện khá là độc đáo. Mái cong trích thủy, cánh cửa gỗ tùng, hai bên còn dán hai câu đối đỏ lớn lúc tết. Một cành mai vươn từ trong viện ra ngoài, trên cành đã lấm tấm chồi non xanh mởn hòa với câu đối đỏ và tuyết trắng đọng trên đầu tường, khá là dễ thương. Ân Lê Đình dừng ngựa, tới trước cửa gõ nhẹ, quả nhiên chốc lát nghe trong phòng có tiếng bước chân chạy ra, còn có giọng trẻ con lẩm bẩm: “Tới liền tới liền, ai thế ta?”

Két một tiếng, cửa bị đẩy ra từ bên trong, một tiểu đồng chừng mười tuổi mặc áo đỏ thò đầu ra nhìn, lập tức cười đến rạng rỡ mặt mày, gọi liên hồi: “Là Ân ca ca! Sư phụ sư phụ, Ân ca ca đến thăm người nè!” Nói rồi vội vàng mở rộng cửa ra “Ân ca ca mau vào, mau vào!”

Ân Lê Đình buộc ngựa xong đi vào viện, cười nhẹ vỗ vỗ đầu nó “Tiểu Vân có khỏe không? Một năm không gặp lại cao thêm nhiều.”

Tiểu đồng gọi là Tiểu Vân nhảy nhót kéo vạt áo Ân Lê Đình “Đương nhiên, sư phụ cứ nói đệ không lớn! Đệ lớn hơn năm ngoái nhiều rồi!” Nói rồi chỉ vào gốc mai trong viện “Năm ngoái lúc Ân ca ca đến, đệ mới cao tới cái nút tròn thấp nhất này, năm nay đã vượt qua hai tấc rồi!”

Lúc này trong phòng một ông lão đi ra, chừng hơn bảy mươi tuổi, thân hình lom khom nhưng tinh thần thì quắc thước, thần thái hiền hòa. Ông thấy Ân Lê Đình, khuôn mặt già nua không kềm được mừng rỡ “Lê Đình tới rồi? Mau vào nhà, trời lạnh thế này, đông lạnh hỏng rồi hả?”

Ân Lê Đình thấy ông vội vàng tiến lên cung kính hành lễ: “Lê Đình bái kiến Diệp lão đại phu, dạo này người có khỏe không?”

Ông lão này chính là Diệp Thù danh y Tế Nam, cùng với Hoài Châu Sở Trung Lưu đều tuổi cao đức trọng, có thể nói là Bắc Đẩu trong giới y học bây giờ.

Diệp Thù vội vàng đỡ Ân Lê Đình dậy “Lê Đình con tới đây bao nhiêu lần rồi còn đa lễ làm gì? Bây giờ còn có người nhớ tới lão già này, tới đây giải buồn với ta, đã không dễ rồi. Cái thân này của ta sao không khỏe được? Bị Vân tiểu tử giày vò rất là cường tráng.” Nói rồi bảo tiểu đồng “Tiểu Vân đừng ầm ỹ nữa, mau xuống bếp lấy thêm bát đũa lên.”

Tiểu đồng cao giọng đáp, hí hửng đi làm, bên này ông lão dẫn Ân Lê Đình vào phòng chính, đi thẳng tới trước bàn ngồi xuống. Trên bàn bày cháo trắng bốc hơi nghi ngút, dưa muối và bánh bao mới hấp xong, rõ ràng vừa rồi ông và Tiểu Vân đang định ăn sáng.

Ân Lê Đình tháo bọc xuống, lôi từ trong ra một cái hộp gỗ mỏng vuông vức, hai tay dâng cho Diệp Thù: “Cái này là ít thảo dược hiếm có vãn bối đem từ Võ Đang tới đây, do đệ tử phòng thuốc hái về thu thập đâu ra đấy, nghĩ chắc Diệp lão dùng được, vãn bối liền mang tới.”

Diệp Thù cũng không khách sáo, nhận hộp cười nói: “Làm khó người không rành y thuật như Lê Đình con, năm nào cũng tặng dược thảo cho ông già này, lão phu không xem con là người ngoài, cũng không khách sáo làm gì. Năm nay tuyết lớn như thế, cứ tưởng con tới trễ. Hẳn là chưa ăn sáng hả? Nào nào, lão phu ở đây cũng mới làm xong, đang nóng. Đồ ăn có thêm gừng, mau ăn một ít chống lạnh.”

Ân Lê Đình gật đầu, cầm lấy bát đũa Tiểu Vân mới mang từ bếp lên, múc một chén cháo nóng, chậm rãi ăn từng muỗng.Diệp Thù ngồi bên có phần cảm khái, hỏi: “Sư phụ con năm nay sắp trăm tuổi rồi nhỉ? Sức khỏe có tốt không?”

Ân Lê Đình nghe Diệp Thù nhắc tới sư phụ Trương Tam Phong vội vàng buông bát trong tay xuống, đáp: “Dạ, tới mồng chín tháng tư năm nay là đại thọ trăm tuổi của sư phụ lão nhân gia. Sức khỏe tinh thần đều rất tốt, chỉ là nhớ nhung ngũ ca, thường hay mong ngóng.”

Diệp Thù cũng hiểu biết tình hình Võ Đang kha khá, nghe xong than thở một lát mới nói: “Có điều sư phụ con, lão nhân gia cũng nhìn thoáng, đã hưởng tới trăm tuổi, ắt hẳn lòng dạ tất dung được vạn vật nạp được trăm sông. Năm nay đến lễ thọ của lão nhân gia, ông già lại chuẩn bị quà tặng đưa lên Võ Đang.”

Lúc này Tiểu Vân ở bên không nhịn được, một tay giật vạt áo sư phụ một tay kéo Ân Lê Đình, cất giọng giòn giã: “Sư phụ sư phụ, năm nay con có thể lên Võ Đang với Ân ca ca không? Con muốn đi ba năm nay rồi!”

Diệp Thù nhìn nhìn Tiểu Vân, cười mắng: “Trên đó đâu thiếu khỉ con như con. Còn nữa, sao con còn kêu Ân ca ca nữa? Không phải đã nói với con phải kêu Ân thúc thúc mới đúng à.”

Tiểu Vân mặc kệ, mắt to đảo lịa, trề môi: “Vì sao chứ? Con gọi Lộ Dao tỷ tỷ là tỷ tỷ, vậy Ân ca ca không phải nên làm ca ca sao?”

Diệp Thù nghe nó nhắc tới Lộ Dao, mặt hơi căng thẳng “Tiểu Vân đừng nói bậy! Làm ồn nữa đừng hòng lên Võ Đang.”

Lần này rốt cuộc nhè ngay điểm yếu của Tiểu Vân, thế là tiểu hài tử mười tuổi lập tức yên lặng, ngồi trước bàn ôm chén cháo ăn sáng, đôi mắt to nhìn sư phụ và Ân Lê Đình đầy tội nghiệp, đảo tới đảo lui không biết đang tính giở trò gì.

Ân Lê Đình nhẹ nhàng vuốt đầu nó, nhỏ nhẹ: “Ân ca ca thì Ân ca ca vậy, Tiểu Dao cũng không thích bị gọi là cô cô, thích được gọi là Lộ tỷ tỷ hơn.”

Diệp Thù bên này quay đầu, thấy thần sắc hơi cay đắng của Ân Lê Đình nhưng không có gì khác lạ thoáng thở phào song lại không nhịn được than vãn.Đầu xuân bốn năm trước, thiếu niên này bỗng nhiên tới cửa thăm viếng, khiến ông khá là khó hiểu. Kế đó thiếu niên báo thân phận mình càng làm ông sửng sốt “Tại hạ họ Ân, tên Lê Đình, là môn hạ phái Võ Đang.” Diệp Thù hành y mấy chục năm, thường hay qua lại với người giang hồ, kiến thức cũng rộng, danh hiệu phái Võ Đang và Võ Đang thất hiệp ông biết rõ song không biết có dính líu gì đến mình. Liền đó lại nghe chàng nói: “Tại hạ được nội tử gửi gắm, đặc biệt đến thăm viếng Diệp lão đại phu, có phần đường đột còn mong lão đại phu không trách.”

Diệp Thù càng mù tịt “ Nội tử? Dám hỏi tôn phu nhân là?”

Thấy thanh niên trước mặt hơi cúi đầu, nói nhỏ: “Nội tử tại hạ là Lộ Dao. Nội tử từng nói năm xưa nàng vừa ra nghề, nhờ ơn Diệp lão tiền bối duy trì, chỉ dẫn, thành thử mỗi năm đều tới thăm.”

Bấy giờ Diệp Thù mới sực hiểu ra, không ngờ thiếu niên trước mắt là phu quân Lộ Dao, niềm vui lộ rõ nơi khóe mắt, vội vàng kéo Ân Lê Đình hỏi “Lộ tiểu nha đầu thành thân hồi nào? Sao chẳng nói tiếng nào thế? Tự dưng hiện ra một tiểu tử tuấn tú chạy tới thăm ông già này, thật là làm ông già hồ đồ luôn rồi. Thời gian trước ta nhận được thư Thu Nhiên, hỏi ta phương thuốc, tới giờ ta còn lo đây này. Nghe nói sau đó tiểu nha đầu tự mình thay đổi phương thuốc, hẳn là có cách trị rồi, tiểu nha đầu này xưa nay có thiên phú mà. Không ngờ bây giờ nó lành nhanh thế, mới chớp mắt đã thành thân rồi! Tiểu nha đầu đâu? Sao nó không cùng cậu tới?”

Lại thấy Ân Lê Đình bất chợt run lên, gục đầu thật thấp, cơ hồ không thể kềm chế, hồi lâu mới khàn giọng đáp: “Nội tử bị thương nặng không chữa được, bốn tháng trước đã… đã… không còn nữa.”

Câu này khiến Diệp Thù ngây người đủ một chung trà, không có phản ứng.

“Không còn nữa? Cậu nói nha đầu Lộ Dao nó… qua đời rồi?”

Ân Lê Đình nhắm mắt, gật đầu thật khẽ “Tại hạ tới đây là thay nội tử thăm Diệp lão tiền bối.

Khi ấy Diệp Thù nhìn thiếu niên tuấn tú cô độc đứng đó, nhất thời không nói được câu nào. Chỉ cảm thấy chân mày khóe mắt, vầng trán bờ môi của chàng, không chỗ nào không lộ ra nỗi buồn thương đau khổ không thể diễn tả bằng lời, nặng nề khiến người ta không biết an ủi từ đâu.

Bốn năm nay, mỗi năm cuối tháng giêng đầu tháng hai, thiếu niên này đều từ Võ Đang chạy tới đây, thăm cái ông già có tiếng tăm bề ngoài, thực tế lại khá tịch mịch này, chân thành tha thiết. Lần nào cũng giúp ông sửa nhà sửa cửa, sắp xếp nhà kho, mấy việc mà người già trẻ con không làm nổi, lên núi hái dược thảo chỉ mọc ở nơi hiểm trở, hoặc là trò chuyện với ông, ở khoảng năm sáu ngày lại đi. Giống hệt năm xưa lúc Lộ Dao còn sống vẫn làm, không thay đổi chút nào. Dù bốn năm nay, nỗi đau buồn sâu đậm từng thấy trên người chàng ngày đầu gặp mặt dần dần không hiện rõ trên mặt nữa, thay vào đó là nụ cười càng thích hợp với bản tính ôn hòa của chàng hơn, sạch sẽ trong suốt; nhưng Diệp Thù cứ cảm thấy nỗi đau nặng trĩu đó chưa từng rời đi, chỉ hóa thành bóng ảnh chìm trong đôi mắt trong veo kia, càng chìm càng sâu, không để người ngoài phát hiện.

Diệp Thù sống hơn bảy mươi năm rồi, có thể nói là trải hết sự đời, giờ phút này cũng không biết nên nói gì, khe khẽ than một tiếng: “Lộ nha đầu có phước, có thể được người tốt như Lê Đình con làm phu quân, đáng tiếc lại không có duyên phận làm bạn đến bạc đầu… ài…”

Ân Lê Đình nhẹ nhàng lắc đầu “Tiểu Dao từng nói nàng còn quá nhiều việc chưa làm xong, nếu con không làm tất nàng không an tâm. Bây giờ con có thể tận tâm làm tốt từng việc một, chắc nàng cũng cao hứng.”

Lộ Dao ra đi bốn năm, trong nghề lại rất ít người biết giai nhân thường hay phát biểu một câu là khiến mọi người xôn xao trong Phổ Tế y hội năm nào đã không còn nữa, vì mấy năm nay năm nào cũng có bản thảo y học, nghiên cứu đề tên “Kim Lăng Lộ Dao” được in thành sách, lưu truyền khắp nơi. Thủ pháp hành y và dùng thuốc của Lộ Dao rất độc đáo, trình bày phân tích sâu sắc thấu đáo, thành thử số sách này bây giờ được các đại phu khá xem trọng. Nhưng rất ít người biết, số bản thảo y học này phần lớn do thanh niên không rành y thuật trước mắt đây đích thân sao chép lại từng câu từng chữ từ bản gốc.

Lúc trước Phó Thu Nhiên từng mời Diệp Thù viết lời tựa trước khi in ấn, Diệp Thù thoáng suy nghĩ, trong lòng hoài cảm, nhấc bút viết lời tựa không phù hợp với văn phong xưa nay của mình. Cả phần lời tựa chỉ có một câu: xuân phong lưu thủy tiêu tẫn niên thiếu, tuế tuế đẳng nhàn tà dương phương thảo.

Xuân phong và lưu thủy mang đi năm tháng thanh xuân nhưng cỏ cây trên đường cổ ngoài thành vẫn còn như cũ, chưa từng thay đổi, không biết người năm xưa độc hành trên đường cổ giờ ở phương nào. Một câu này, không biết ông viết cho tiểu cô nương thiên phú cực cao lại nghiến răng nghiến lợi tranh cãi với một đám lão đại phu xem thường thân phận nữ tử, khinh thường nàng trẻ tuổi, hay là viết cho thanh niên trước mắt dồn hết tình ý sâu nặng vào tận đáy lòng, ngày qua ngày thay thê tử làm chuyện nên làm.

Chương 99: Trôi nổi mười năm cũng quay về

Diệp Thù biết lần này chàng xuống núi, ngoại trừ đến đây còn phụng mệnh sư phụ cùng sư huynh Du Liên Châu đến vùng biển phía đông đảo Vương Bàn Sơn thăm dò tung tích Trương Thúy Sơn và tìm tòi manh mối, vì thế cũng không giữ lại lâu, lấy một ít thuốc cực tốt cho chàng, dặn dò để dùng khi cần. Ân Lê Đình cảm ơn ông, còn phải dỗ dành Tiểu Vân đang mất hứng bên cạnh. Tiểu Vân muốn lên Võ Đang đã lâu, khổ nỗi Ân Lê Đình còn phải đi tìm Trương Thúy Sơn cùng Du Liên Châu, thật sự không thể dẫn nó theo. Nhìn nó trề môi tủi thân túm áo mình làm nũng, Ân Lê Đình ngồi xổm xuống vỗ đầu nó, nhỏ giọng dỗ: “Ân ca ca còn việc phải làm, hiện tại không thể dẫn đệ về Võ Đang. Có điều tới mồng chín tháng tư là đại thọ trăm tuổi của sư phụ Ân ca ca, Ân ca ca phái đệ tử Võ Đang tới đón đệ lên Võ Đang chơi mấy ngày. Ân ca ca có một đồ đệ nhỏ hơn đệ một tuổi, còn có một cháu trai lớn hơn đệ một tuổi, đến chừng đó ba đứa có thể chơi chung, được không?”

Tiểu Vân nghe thế mới cười rạng rỡ, vội vàng đồng ý, Diệp Thù cười than sợ không được mấy năm đồ đệ mình bị dắt chạy mất.

Ân Lê Đình từ biệt Diệp Thù, từ Tế Nam xuôi nam, thẳng hướng Kim Lăng.

Vừa tiến vào cửa bắc thành Kim Lăng liền thấy một hàng ba người từ trong quán trà bên cửa thành trực tiếp ra nghênh đón. Người đi đầu mặc áo trắng kiểu văn sĩ, chính là Thu Linh trang Tống Tấn Văn. Tống Tấn Văn đã ở đây chờ Ân Lê Đình một lúc rồi.

Bốn năm trước, Phổ Tế y hội vừa xong, Phó Thu Nhiên căn dặn Phó Hồng và ông ta bắt đầu chuẩn bị hồi môn, vật dụng cần dùng cho Lộ Dao thành thân. Lúc đó quả thật trong lòng ông và Phó Hồng đều vui mừng. Tuổi Phó Hồng đủ làm phụ thân Phó Thu Nhiên và Lộ Dao, ngày thường tuy nói là quản gia nhưng lại có hơi hướm chiếu cố cuộc sống của hai người. Lần chuẩn bị này, Phó Hồng có cảm giác như sắp gả con gái mình vậy. Còn Tống Tấn Văn vui đa phần là vì có hảo cảm với Ân Lê Đình. Phó Thu Nhiên và Lộ Dao làm người tùy ý, đối xử với người làm cũng rất tốt nhưng tính nết và phong cách làm việc khá là kỳ quặc. Theo ông thấy, ngược lại vị cô gia tương lai Ân Lê Đình này làm người hiền hòa chân thành, so với hai vị chủ tử mỗi ngày không biết nảy ra ý tưởng vớ vẩn gì thì khiến người ta cảm thấy an toàn thoải mái hơn nhiều. Không ngờ đương lúc Phó Hồng và ông chuẩn bị đồ cưới Phó Thu Nhiên căn dặn đâu ra đấy thì truyền tới tin tức Lộ Dao gặp chuyện. Sau đó là một loạt sự tình hỗn loạn khẩn cấp đến giờ hãy còn rành rành trước mắt, Thu Linh trang dốc hết nhân thủ cũng không tìm được thứ Phó Thu Nhiên cần, tiếp đó Lộ Dao qua đời, đủ sự tình mà tới giờ Tống Tấn Văn nghĩ lại vẫn không nhịn được than thầm thiên ý trêu ngươi. Sau đó, ông nghe chuyện hai người thành thân từ chỗ Phó Hồng. Còn Phó Thu Nhiên thì dặn dò các chủ quản trong ngoài Thu Linh trang gặp Ân Lê Đình thì đối xử theo lễ nghi cô gia trong nhà, mặc kệ đại tiểu thư còn sống hay không.

Thấy Tống Tấn Văn ra đón, Ân Lê Đình không khỏi ngẩn ra. Lần này chàng và Du Liên Châu hội họp để tìm kiếm tông tích Trương Thúy Sơn vốn không thông báo với Phó Thu Nhiên, vì không muốn Thu Linh trang can thiệp quá mức vào phân tranh giang hồ, mang tới phiền toái. Nhất là sau khi Lộ Dao qua đời vì chuyện Thành Côn, Võ Đang chư hiệp đều cho rằng Lộ Dao vì Võ Đang mới bị cuốn vào tranh chấp giang hồ, trong lòng áy náy khôn cùng, ngày thường nhân quan hệ giữa Lộ Dao và Ân Lê Đình mà hay lai vãng với Thu Linh trang song tuyệt không lôi sự vụ giang hồ vào đó.

Tống Tấn Văn thấy Ân Lê Đình, vội vàng tiến lên khom người hành lễ: “Tấn Văn ra mắt cô gia.”

Ân Lê Đình xuống ngựa chắp tay làm lễ: “Tống tiên sinh không cần khách sáo, sao ngài lại ở đây?”

Tống Tấn Văn đáp: “Bảy ngày trước, Du nhị hiệp nhờ trang chủ gửi thư lại cho cô gia, nói sự tình đã định ban đầu có thay đổi, ngài ấy không thể không xuất phát trước. Nói là nếu như cô gia ngài đến thì ở lại Thu Linh trang chờ ngài ấy. Nguyên do thì ngài xem thư tự nhiên sẽ biết.” Nói rồi móc một phong thư niêm kín trong tay áo ra.

Ân Lê Đình nghe xong không khỏi kinh ngạc, không biết là chuyện gì khẩn cấp mà Du Liên Châu nhờ Thu Linh trang chuyển thư dùm, vội vàng bóc ra xem. Nét bút trong thư mạnh mẽ, chính là nét chữ của Du Liên Châu. Nhưng nội dung trong thư thì lại khiến Ân Lê Đình cau mày. Chàng và Du Liên Châu cùng đến Kim Lăng định ra biển tìm tung tích Trương Thúy Sơn, vốn là do hai phái Thiếu Lâm và Côn Luân hẹn. Nguyên nhân tìm tung tích Trương Thúy Sơn thì mỗi người một kiểu. Côn Luân là vì người của mình bị hại trong tay Tạ Tốn, còn lý do Thiếu Lâm tìm Trương Thúy Sơn quả thật khiến người ta nghiền ngẫm đủ kiểu. Bốn năm trước Lộ Dao thiết kế, đẩy chuyện Đồ Long đao sang cho Thiếu Lâm hết quá nửa, sau đó lời đồn đại về Đồ Long đao trên giang hồ đúng là muôn hình muôn vẻ. Hơn một nửa người nhận định Đồ Long đao tất nhiên rơi vào tay Thiếu Lâm, cho dù không ở đó chí ít cũng ở trong tay họ lần cuối cùng trước khi biến mất tăm hơi. Vì thế, bốn năm nay, Thiếu Lâm tự không có mấy ngày bình yên. Công khai tới quậy phá, đêm khuya mò vào thăm dò, khiến Thiếu Lâm tự từ trên xuống dưới đau đầu không thôi, huống chi dám đến Thiếu Lâm quậy ít nhiều gì đều có chút bản lãnh. Ngược lại thật sự ứng với câu nói của Lộ Dao: đến chừng đó không cần Võ Đang đi tìm tung tích của bảy tên đó, giang hồ sẽ có người đổ xô nhau lên Thiếu Lâm tra hỏi. Cộng thêm đa số giang hồ đồng đạo có ý nghi ngờ, thành thử bây giờ muốn tìm tung tích của nhóm người Trương Thúy Sơn nhất, sợ rằng trừ Võ Đang và Thiên Ưng giáo ra, đứng mũi chịu sào chính là phái Thiếu Lâm chờ tra hỏi Trương Thúy Sơn chân tướng, bằng không cứ như vầy những ngày bất ổn của cả tự chẳng biết còn kéo dài bao lâu.

Thế nên, lần này, Thiếu Lâm Côn Luân mỗi phái một suy tính cùng mời Võ Đang ra biển tìm Trương Thúy Sơn. Ai ngờ lúc người của họ còn chưa tập trung đông đủ thì có đệ tử Thiếu Lâm phát hiện Thiên Ưng giáo cũng tổ chức nhân thủ, đã ra biển tìm người rồi. Vì thế người của Thiếu Lâm và Côn Luân nôn nóng, cũng không chờ đệ tử các phái còn chưa tới, thuê luôn tàu ra biển, sợ bị Thiên Ưng giáo nhanh chân đến trước. Du Liên Châu thì không lo đám người Thiên Ưng giáo, chỉ sợ mỗi việc Thiếu Lâm làm khó dễ Trương Thúy Sơn, tính toán Ân Lê Đình cũng phải bảy tám ngày nữa mới đến Kim Lăng, đành phải nhờ Thu Linh trang truyền tin, mình và nhân mã Thiếu Lâm mấy phái cùng nhau ra biển. Trong thư căn dặn Ân Lê Đình nếu đến Kim Lăng cũng không cần ra biển tìm, sợ biển cả mênh mông lạc lẫn nhau thì không ổn, chỉ cần ở Thu Linh trang chờ tin tức là được.

Ân Lê Đình đọc xong thư, lúc này mới nghe Tống Tấn Văn nói: “Trang chủ sai thuộc hạ tới đón cô gia. Du nhị hiệp nói trước cuối tháng hai tất quay về, xin cô gia kiên nhẫn chờ.”

Ân Lê Đình gật đầu “Như vậy cũng tốt, lần này làm phiền ngài rồi.”

Tống Tấn Văn vội đáp không dám, cùng Ân Lê Đình lên ngựa phóng về Thu Linh trang.

Bốn năm, Hoành Đường không đổi, sơn trang cũng chẳng thay, tất cả đều giống như năm xưa chàng đến đây lần đầu với Lộ Dao, sân viện kỳ thú thanh nhã, phong cách độc đáo. Ân Lê Đình đi vào phòng khách, dưới mái hiên có một hài tử đang đứng, thấy chàng đến hết sức cao hứng chạy tới, đến trước mặt chàng lại kềm chế háo hức, quy quy củ củ hành lễ, gọi: “Sư phụ.”

Tiểu nam hài thanh tú điềm đạm không tới mười tuổi này chính là đệ tử Mai Hàn Hề Ân Lê Đình thu bốn năm trước. Mai Hàn Hề là đứa bé cực kỳ yên lặng, lại nghe lời, không như Tiểu Vân nhà Diệp Thù giỏi nhất là làm nũng chơi xỏ lá, yên lặng nghe lời đến nỗi Võ Đang chư hiệp đều đau lòng. Cộng thêm trên mặt võ học quả thật nó có thiên phú khá cao như Trương Tam Phong nói, truyền thụ võ nghệ chỉ một chút là thông, là thế hệ sau khiến người lớn đỡ lo nhất. Chỉ có bốn năm trước, mọi người đem tin tức Lộ Dao qua đời về Võ Đang, đã hiểu được chuyện sinh ly tử biệt, Mai Hàn Hề quả thật khóc ầm ỹ một trận. Dù sao Lộ Dao cũng từng là người gần gũi với nó nhất sau khi cha mẹ nó qua đời. Khi ấy Ân Lê Đình bệnh ngơ ngơ ngẩn, hoàn toàn không chăm sóc được cho nó. May mà Trương Tùng Khê an ủi một bận, nói bây giờ người đau lòng khổ sở nhất hiện giờ là sư phụ nó, dặn nó ngàn vạn lần đừng nhắc tới chuyện đó trước mặt sư phụ Ân Lê Đình, chỉ thêm đau buồn. Mai Hàn Hề rất hiểu chuyện, quệt nước mắt hứa.

Mấy năm nay năm nào Phó Thu Nhiên cũng phái người đón nó tới Thu Linh trang hơn tháng, chiếu theo lời hứa năm xưa của Lộ Dao, đích thân chỉ dạy hướng dẫn y thuật cho Mai Hàn Hề. Năm nay trước khi Ân Lê Đình và Du Liên Châu rời Võ Đang, Mai Hàn Hề đã được đón về Thu Linh trang.Ân Lê Đình gật đầu với nó, dắt bàn tay nhỏ nhắn của nó vừa đi vào phòng vừa ôn hòa hỏi: “Hàn nhi đang làm gì? Mấy ngày nay học có hiểu không? Trước tết dạy con quyền pháp có luyện đàng hoàng không?”

Mai Hàn Hề xưa nay thích dắt bàn tay ấm áp của sư phụ, gương mặt nhỏ cười rạng rỡ: “Con đã luyện xong sớm rồi, đang sao chép bài tập Thu Nhiên sư phụ giao cho thì nghe ca ca trong nhà nói sư phụ đến.”

Ân Lê Đình cùng nó vào phòng nghe nó nói thế bèn hỏi: “Ồ? Đang chép Đại Y Tinh Thành?” Nói rồi cầm tờ giấy hoa tuyết chép được một nửa trên bàn lên, quả nhiên thấy trên đó là nét bút còn non nớt viết: “… hễ trị bệnh cứu người, cần phải an thần tĩnh trí, không ham không muốn, đầu tiên phải có lòng trắc ẩn, thề nguyền cứu khổ chúng sinh. Nếu có người mắc bênh tới cầu cứu, không được hỏi sang hèn giàu nghèo, già trẻ đẹp xấu, yêu hận thiện ác, khôn dại đẹp xấu, đối xử như nhau, đều như người thân mà cư xử…”

Phó Thu Nhiên giảng bài cho Mai Hàn Hề xưa nay có một quy củ, mỗi ngày phải chép Đại Y Tinh Thành một lần. Tác phẩm này do Tôn Tư Mạc [100] soạn, đề cập đến cái gọi là y đức, là kinh điển y giả phải đọc. Tác phẩm không dài, chưa tới ngàn chữ, thành thử hễ Mai Hàn Hề ở Thu Linh trang học y ngày nào thì phải chép Đại Y Tinh Thành này ngày đó. Ân Lê Đình than khẽ, khổ tâm của Phó Thu Nhiên sao chàng không hiểu được? Tác phẩm không đến ngàn chữ này chép một lần rất dễ, chẳng qua mất thời gian hai nén nhang nhưng nếu thực hiện thì phải dùng cả đời. Chàng nhẹ nhàng vỗ đầu Mai Hàn Hề, dịu dàng nói: “Văn này không thể chép suông, tương lai con trưởng thành cần phải thường xuyên dùng nó kiểm tra lời nói và việc làm khi con hành y mới được. Sư nương con là danh y đương thời, y thuật của sư phụ Thu Nhiên con cũng không kém, đạo lý trong sách này hai người sớm tối không quên. Sau này có ngày con dùng thân phận đại phu trị bệnh cứu người, cần phải luôn luôn thực hiện, không thể làm sư nương và Thu Nhiên sư phụ của con mất mặt.”

Mai Hàn Hề thấy sư phụ nói năng trịnh trọng, đặc biệt nhắc đến sư nương, bèn không dám lơ là, gật đầu cực kỳ nghiêm túc như ông cụ non “Âu Dương bá bá nói với con rồi, sư nương có thể được các đại phu trong giới tôn trọng, trừ y thuật ra càng là vì y đức.” Nói rồi bám lấy hai đầu gối Ân Lê Đình, chớp đôi mắt tròn xoe “Sư phụ, sẽ có một ngày, Hàn Hề cũng trở thành đại phu giỏi như sư nương vậy.”

Ân Lê Đình xoa mái tóc mềm của nó, cười hết sức dịu dàng. Nhìn quanh nửa ngày, lấy làm lạ hỏi: “Thu Nhiên sư phụ con đâu?” Dạo trước mỗi lần đến Thu Linh trang, Phó Thu Nhiên tất gặp chàng tụ họp một hồi, lần này lại chẳng thấy người đâu, Ân Lê Đình không khỏi thắc mắc, chợt nghe Mai Hàn Hề đáp: “Một canh giờ trước Từ bá bá tới tìm Thu Nhiên sư phụ, hình như có chuyện gì gấp, Thu Nhiên sư phụ liền rời khỏi trang trước, trước khi đi nói với con hôm nay sư phụ sẽ đến, bảo con ôn tập bài cũ, học thuộc sách là được.”

Ân Lê Đình nghe xong gật đầu, Từ Thiên quản lý mảng buôn bán dược liệu của Thu Linh trang, chắc là có mối làm ăn gấp nên mới vội vàng đi như vậy. Ân Lê Đình nhìn Mai Hàn Hề đang nghiêm túc chép bài, bỗng nhớ lại mấy năm trước, trên núi Võ Đang, mỗi ngày chàng ngập ngừng bịn rịn bên ngoài phòng ở của Lộ Dao không nỡ rời đi, xa xa nhìn Lộ Dao trong phòng dạy Hàn Hề như thế này, mà khi ấy, bài học đầu tiên nó học, trước khi sắc thuốc, cũng là Đại Y Tinh Thành này. Lúc ấy Mai Hàn Hề còn nhỏ, e rằng khó hiểu được đạo lý thâm sâu trong đó, cho dù hiện tại cũng khó mà hiểu được. Còn chàng, lúc ấy cũng không hiểu, bây giờ thì hiểu rồi.

Song lúc này, nhớ tới đoạn thời gian Lộ Dao ở trên núi Võ Đang ngày trước, chẳng riêng gì một mình Ân Lê Đình, còn có Du Liên Châu ở trên biển cách xa mấy trăm dặm.

Lúc này chàng đang mừng rỡ hồi lâu không dứt bởi vì huynh đệ thủ túc trùng phùng, tuy ngoài mặt vẫn thâm trầm bình tĩnh nhưng nỗi mừng vui kia dường như không thể kềm nén muốn dâng trào, theo huyết dịch lan khắp toàn thân. Trương Thúy Sơn trôi nổi trên hoang đảo mười năm, giờ khắc này rốt cuộc được gặp lại nhị sư huynh nuôi lớn mình từ bé, nỗi vui mừng háo hức tràn ngập trong mắt. Tình cảm như ruột thịt ấy, mới trùng phùng mỗi người một câu “nhị ca” “ngũ đệ” đã bộc lộ hoàn toàn. Những cái đó chỉ có giữa ruột thịt tay chân mới cảm thụ được, vì thế trong khoang tàu lúc Tây Hoa Tử nổi xung thiên quát hỏi tung tích Tạ Tốn, trừ Ân Tố Tố biết rõ tâm tình trượng phu ra, trái lại không có người nào chê lão phá hỏng không khí, chỉ có Vệ Tứ Nương cùng phái Côn Luân là âu lo trong lòng. Mấy năm nay thanh danh Võ Đang chư hiệp càng lúc càng lớn. Hơn bốn năm trước, trước mặt toàn bộ võ lâm đồng đạo, Võ Đang Du Liên Châu mấy người vạch trần âm mưu của Thành Côn cấu kết Nhữ Dương Vương phủ, muốn châm ngòi nội loạn giang hồ, khiến võ lâm đồng đạo không thể không thán phục. Ngoài ra, người giang hồ coi trọng nhất chính là võ nghệ bàng thân. Hai năm nay công phu của Võ Đang, từ Võ Đang chư hiệp cho tới đệ tử phía dưới đều khiến người ta chặc lưỡi. Mấy ngày trước bà ta tận mắt chứng kiến Mạc Thanh Cốc ở Thiểm Nam không rút kiếm khỏi vỏ, mũi chân không dính một hạt bụi thu thập Thiểm Nam thất bá, công lực ngay cả trưởng lão thành danh nhiều năm của nhiều môn phái cũng không bì kịp. Người nhỏ nhất trong Võ Đang chư hiệp còn thế, công phu của mấy người Tống Viễn Kiều Du Liên Châu thế nào, bà ta không dám suy đoán. Vì thế lúc Tây Hoa Tử ngang ngược ép hỏi tung tích Tạ Tốn, Vệ Tứ Nương mấy lần ám chỉ song thủy chung không kéo được vị sư huynh có bộ óc thiếu dây thần kinh này.Tai Du Liên Châu nghe Tây Hoa Tử quát tháo, trong lòng lại nghĩ tới chuyện Phó Thu Nhiên lặng lẽ nói với chàng trước khi xuất phát, nhủ thầm Phó Thu Nhiên và Lộ Dao đúng là đoán việc như thần. Lúc đó Phó Thu Nhiên nói với chàng ba việc: thứ nhất, Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố mười năm chưa về, bây giờ e rằng quan hệ không nhạt; thứ hai, hiện giờ tuy rằng lời đồn đãi đầy rẫy giang hồ nhưng một khi Trương Thúy Sơn lộ diện, người muốn đến thăm dò nghe ngóng tin tức Đồ Long đao tuyệt đối không ít, mấy người này tới càng sớm càng tốt, bằng không đêm dài lắm mộng; mà điểm thứ ba, Phó Thu Nhiên nói tới đây thì chớp chớp mắt, nói ra sáu chữ khiến đến khi Du Liên Châu thấy một nhà Trương Thúy Sơn mới hiểu: cẩn thận đồng ngôn vô kị [101].

Phó Thu Nhiên và Lộ Dao nói chuyện có một thói xấu, thích nói chuyện nửa vời không rõ ràng, còn dư một nửa đợi mọi người biết rồi mới sực hiểu ra, lại nói là trúng đích. Bây giờ cái đầu tiên đã trúng rồi, thành thử Du Liên Châu hầu như tin lời hắn nói hoàn toàn. Thấy tiểu Vô Kỵ mười tuổi khỏe mạnh kháu khỉnh ngây thơ, Du Liên Châu yêu ai yêu cả đường đi vô cùng vui mừng nhưng sực nhớ lời Phó Thu Nhiên, thế là ngầm dặn dò Trương Thúy Sơn để ý. Trương Thúy Sơn được sư huynh nhắc nhở cũng nghĩ ra bây giờ trên tàu người của Thiếu Lâm Côn Luân đều nhìn chằm chằm Tạ Tốn và Đồ Long đao, lỡ Vô Kỵ bất cẩn nói lỡ, sự tình liền không ổn. Lập tức tìm nhà tàu dắt Vô Kỵ ra khỏi khoang, lấy lý do là dẫn nó đi xem tàu lớn thực tế là tách nó ra.

Trương Thúy Sơn mười năm chưa quay về Trung Nguyên, hôm nay giang hồ náo nhiệt đến mức nào hoàn toàn không rõ, nghe Du Liên Châu giới thiệu ngắn gọn mới biết, mấy năm nay ngoài Thiếu Lâm, Võ Đang, Côn Luân và Thiên Ưng giáo vẫn luôn truy tìm tung tích ba người mất tích trên đảo Vương Bàn Sơn năm xưa ra còn có không ít bang phái nhỏ trên giang hồ cũng tìm Tạ Tốn, đa số là vì đệ tử chết trên đảo Vương Bàn Sơn năm đó. Bên này, Ân Tố Tố hết nhịn nổi Tây Hoa Tử ăn nói ác độc không ngừng tra hỏi, mày liễu cau lại, mắt hạnh lóe lên tia ác liệt, quả quyết Tạ Tốn độc ác xấu xa kia đã chết trên biển rồi. Tây Hoa Tử và Vệ Tứ Nương quay mặt nhìn nhau, như một quyền đánh vào bông, triệt để ngây người. Khoang tàu rốt cuộc yên tĩnh lại, bây giờ mới nghe tăng nhân dẫn đầu Thiếu Lâm ở đối diện cao giọng niệm Phật “A Di Đà Phật, bần tăng Viên Khổ, muốn thỉnh giáo Trương ngũ hiệp, có biết tung tích Đồ Long đao chăng?”

Trương Thúy Sơn ngẩn ra. Trước bao nhiêu người như thế, vừa rồi đương nhiên Du Liên Châu không kể chuyện Lộ Dao thiết kế với chàng rồi. Nhất thời, chàng không biết từ khi nào thì Thiếu Lâm tự cũng có hứng thú với Đồ Long đao. Ân Tố Tố đứng bên cười lạnh: “Sao? Thiếu Lâm tự đứng đầu Trung Nguyên cũng có hứng thú với Đồ Long đao uy chấn thiên hạ rồi? Ta nói mà, năm đó trên đại hội Dương Đao Lập Uy, Thiếu Lâm chẳng có đệ tử bị Tạ Tốn làm hại, sao lại vội vàng tìm phu thê chúng ta như thế, hóa ra là nhắm đến cái này. Thế thì nói sớm đi, cần gì lôi Tạ Tốn ra nói vòng vo?”

Viên Khổ bị Ân Tố Tố nói mấy câu nghẹn họng không đáp trả được, đành quay sang Du Liên Châu “Du nhị hiệp, Trương ngũ hiệp đã là người của Võ Đang, vậy bần tăng hỏi Võ Đang cũng được, Đồ Long đao kia, rốt cuộc đi về phương nào?”

Du Liên Châu cũng lưỡng lự. Mưu kế của Lộ Dao khiến Võ Đang yên ổn năm năm, lại thêm huyết án trên người Tạ Tốn không hề bị Thành Côn tiết lộ, bây giờ môn phái lom lom tìm Trương Thúy Sơn cũng ít hơn ban đầu gần sáu phần, có thực lực cũng chỉ có Thiếu Lâm, Côn Luân và Thiên Ưng giáo. Huống chi trong chuyện này, như lời Lộ Dao nói thì, Thiên Ưng giáo và Võ Đang có thể nói là cùng hội cùng thuyền. Song bất luận ra sao, bây giờ Trương Thúy Sơn về rồi, chuyện này chung quy cần có một kết thúc. Du Liên Châu nhớ lời Phó Thu Nhiên nói, trầm ngâm chốc lát, cao giọng: “Ngũ đệ Trương Thúy Sơn ta vừa mới quay về Trung Thổ, nguyên do tao ngộ trong mười năm nay nhất thời nửa khắc thật sự khó mà nói rõ được, theo lý nên trình báo gia sư trước mới đúng. Chuyện này liên lụy quá rộng, giang hồ các phái vì thế mà tử thương vô số, theo lý nên có lời giải thích với đồng đạo giang hồ. Như thế này đi, ba mươi tháng ba, tệ phái bày tiệc tại Vũ Xương Hoàng Hạc lâu, mời quý phái cùng bằng hữu có dính dáng đến chuyện đảo Vương Bàn Sơn năm xưa đến dự, chừng đó ngũ đệ nhất định cho các vị một câu trả lời vừa lòng, thế nào?” Chàng vốn định chờ đến sau mừng thọ trăm tuổi của Trương Tam Phong song cũng cảm thấy cái gọi là đêm dài lắm mộng của Phó Thu Nhiên rất có lý, nên muốn mau chóng giải quyết vấn đề.

Vừa nói ra, mấy tăng nhân Thiếu Lâm nhìn nhau không nói, nhất thời cũng không quyết định được. Trên biển cả mênh mông, tuy phái Võ Đang chỉ có hai người Du Liên Châu và Trương Thúy Sơn nhưng Thiếu Lâm cũng không dám sơ suất. Hai năm nay thanh danh và công phu của Võ Đang chư hiệp trên giang hồ ai cũng kính phục. Bây giờ bên ngoài còn có người của Thiên Ưng giáo, bởi vì Ân Tố Tố tuyệt không đời nào khoanh tay đứng nhìn, nếu thật sự động thủ, sợ rằng không phải chỉ là chuyện mất mặt. Càng huống hồ, bất luận ra sao, bây giờ rốt cuộc Trương Thúy Sơn cũng đã có tung tích, Du Liên Châu cũng đặt ra kì hạn ba mươi tháng ba, Thiếu Lâm cần gì gấp gáp nhất thời mà xé rách mặt mũi?

Quan trọng nhất là chuyện Viên Chân bốn năm trước đến bây giờ vẫn chưa giải quyết xong, nếu chọc Võ Đang nóng nảy, lật lại nợ cũ, e rằng bọn họ về tự cũng khó mà ăn nói. Rắc rối lợi hại trong đó thế nào, người ngoài khó mà hiểu được, Viên Khổ lại rất rõ ràng, vì thế bèn cao giọng niệm Phật “A Di Đà Phật, Du nhị hiệp đã nói thế, tiểu tăng không dám tự tiện, đành về tự bẩm rõ phương trượng. Ba mươi tháng ba năm nay, Vũ Xương Hoàng Hạc lâu, tệ tự từ trên xuống dưới lại tới bái phỏng Võ Đang chư hiệp.”

Du Liên Châu chắp tay nói: “Đại sư chớ khách sáo, ba mươi tháng ba Vũ Xương Hoàng Hạc lâu, Võ Đang từ trên xuống dưới cung kính chờ đợi quý tự giá lâm.”

Thiếu Lâm tự đồng ý, Côn Luân phái lập tức mất đồng minh, Vệ Tứ Nương đánh giá tình hình trước mắt không khỏi nhíu mày, nhủ thầm hôm nay vẫn nên thôi lui một bước thì hơn, đến ba mươi tháng ba mời chưởng môn đích thân tới là tốt nhất. Ai ngờ một phen tính toán còn chưa quyết định thì Tây Hoa Tử đã gào ầm lên: “Chiêu Như Phong Tự Bế này của Du nhị hiệp quả là cao minh! Giữ Đồ Long đao tới ba mươi tháng ba, chẳng lẽ Võ Đang ngươi muốn độc chiếm? Thiếu Lâm các ngươi chờ được nhưng Côn Luân ta chờ không được, hai đệ tử Côn Luân ta đến bây giờ còn điên điên khùng khùng sống không bằng chết đều nhờ ơn yêu nữ Ma giáo này ban tặng, món nợ này phải tính làm sao đây?!”

Du Liên Châu còn chưa trả lời, Ân Tố Tố đã ra mặt đối đáp. Nàng tranh luận kịch liệt, hai ba câu đã chụp cái mũ hành vi không đứng đăn lên đầu đệ tử Côn Luân. Cộng thêm hai đàn chủ Phong, Trình của Thiên Ưng giáo ở bên nói cạnh nói khóe, quả thật khiến Tây Hoa Tử nghẹn họng.

Vốn dĩ sau khi biết Trương Thúy Sơn thành thân với Ân Tố Tố, trong lòng Du Liên Châu có phần không vui, cảm thấy kiểu gì thì Ân Tố Tố cũng xuất thân Thiên Ưng giáo, không xứng với ngũ đệ. Nhưng thấy nàng tranh luận kịch liệt, phản ứng nhanh nhẹn, bỗng nhớ tới nhiều năm về trước trên núi Võ Đang cũng có một nữ tử nói năng sắc bén, mắng cho Thiếu Lâm tối tăm mặt mày khiến năm năm sau đó, Thiếu Lâm không vì vụ Long Môn tiêu cục mà lên Võ Đang nữa. Nữ tử đó từng hỏi huynh đệ bọn họ: trên thế gian này, thiện ác đúng sai có thể phân chia rõ ràng sao? Mấy năm nay tuy Võ Đang và Thiên Ưng giáo chẳng qua lại nhưng giáo chủ Ân Thiên Chính làm người hào hiệp ngay thẳng, Võ Đang mọi người thấy hết cũng rất kính phục. Bây giờ thấy vợ chồng Trương Thúy Sơn tình sâu nghĩa nặng, ngay cả con cũng lớn chừng này rồi, mình làm sao có thể khiến vợ chồng hai người chia lìa? Ngày xưa mấy người họ sơ suất nhất thời, không bảo vệ được Lộ Dao, nhưng hôm nay, nhất định phải bảo vệ cả nhà Trương Thúy Sơn. Chàng đã quyết, thì nghe Vệ Tứ Nương nói: “Du nhị hiệp, Võ Đang là danh môn chính phái, uy chấn võ lâm, cùng Côn Luân ta như cây liền cành, uyên nguyên sâu xa. Ngài lại là hán tử cương trực trên giang hồ, anh minh nức tiếng giang hồ, lời ngài nói có ai không phục? Hôm nay ngài đã hẹn ba mươi tháng ba gặp nhau ở Hoàng Hạc lâu, vậy Côn Luân ta cũng đồng ý ước định này. Bây giờ Tạ Tốn đã chết, Côn Luân phái cũng không còn gì để nói. Nhưng năm xưa bao nhiêu đồng đạo giang hồ vì Đồ Long đao mà phó ước Vương Bàn Sơn, kế đó điên khùng hết. Bây giờ Đồ Long đao đi nơi nào, đến tột cùng là bị Thiếu Lâm chiếm được hay là Tạ Tốn chiếm, mong Trương ngũ hiệp bẩm báo Trương chân nhân định đoạt xong có thể đưa ra câu trả lời. Thiếp thân tin với uy danh của Trương chân nhân và Võ Đang chư hiệp, nhất định sẽ không thiên vị.” Nói một tràng, tuy ngoài mặt là nhượng bộ một bước, thực tế là chặn họng Võ Đang.

Du Liên Châu gật đầu “Đương nhiên. Tới ba mươi tháng ba, Võ Đang nhất định cho các vị một câu trả lời công chính.” Giọng điệu không sắc bén lợi hại như Ân Tố Tố hoặc Lộ Dao nhưng hùng hồn khí phách. Với tiếng tăm của Du Liên Châu trên giang hồ hiện giờ, mọi người nghe câu này xong là có cam đoan chắc chắn nhất. Vì thế rốt cuộc cũng yên tĩnh lại, không khí giương cung bạt kiếm chực chờ bùng nổ cũng hòa hoãn lại. Mọi người cũng cảm thấy bầu không khí có phần xấu hổ. Vừa may tàu tiếp ứng của Côn Luân, Thiếu Lâm đi đằng sau tới, vì thế hai phái lập tức cáo từ.

Bên này, Du Liên Châu chiếu lễ nghĩa giang hồ tiễn mọi người đi, cuối cùng được thanh tịnh, quay đầu nhìn Trương Thúy Sơn. Huynh đệ lâu ngày trùng phùng mới được phát tiết. Hai tay chàng siết mạnh vai Trương Thúy Sơn, nhưng một câu cũng không nói được. Hai huynh đệ chung một tâm trạng, hốc mắt cay xè lại ráng làm như không có chuyện gì.

Hồi lâu, Trương Thúy Sơn mới chậm chạp mở miệng: “Nhị ca, các sư huynh đệ có khỏe không? Tam ca huynh ấy… đã… đã khỏi bệnh chưa?”

Chương 100: Sắc cỏ theo ngày tháng

Trương Thúy Sơn nghe thế chỉ cảm thấy tảng đá lớn treo trong lòng mười năm rớt uỵch xuống, tâm tình kích động không thôi, siết chặt lấy tay Du Liên Châu, nói năng có chút lộn xộn “Đệ biết mà… đệ biết mà! Sư phụ lão nhân gia tu vi thâm hậu như thế… tam ca huynh ấy, sư phụ người nhất định cứu được tam ca mà! Tam ca cát nhân thiên tướng…!”

Lúc này, nếu nói kích động trừ Trương Thúy Sơn gần như nói năng lộn xôn ra, còn có Ân Tố Tố. Từ khoảnh khắc một nhà họ lên bè gỗ tính toán quay về Trung Nguyên kia, nàng liền lo lắng nếu Du Đại Nham có bất trắc gì, mình và Trương Thúy Sơn phải giải quyết thế nào? Giờ nghe được Du Liên Châu nói Du Đại Nham đã lành, võ công cũng khôi phục lại ngày xưa, trái tim chưa từng yên ổn mấy tháng nay chung quy nặng nề thở phào.

Chỉ nghe Du Liên Châu nói: “Lần này tam ca đệ quả thật cát nhân thiên tướng. Mấy năm trước, sư phụ và sư huynh đệ chúng ta mời khắp danh y cũng không nối xương lại được. Mãi đến năm Chí Nguyên thứ sáu, sư phụ và lục đệ hạ sơn một chuyến, cuối cùng mời về một vị đại phu. Đại phu này ở Võ Đang đủ nửa năm, cuối cùng dùng thủ pháp hết sức thần kỳ nối lại gân cốt gãy lìa của tam đệ. Sau đó tam đệ lại mất gần hai năm mới dần dần hồi phục lại phong thái ngày xưa.

Trương Thúy Sơn nghe xong hỏi dồn: “Đại phu đó là ai? Lần này tiểu đệ nhất định phải đích thân tới cửa bái phỏng, cảm tạ người đó.”

Mặt Du Liên Châu ảm đạm, nửa ngày mới nặng nề thở dài: “Tới cửa bái phỏng thì khỏi cần. Đại phu đó tên Lộ Dao, bây giờ chính là lục đệ muội của đệ.”

Trương Thúy Sơn đang thắc mắc vì sao sắc mặt nhị ca khó coi như thế, nghe được câu cuối cùng thì ngẩn ra, liền đó mừng rỡ: “Lục đệ muội? Lục đệ thành thân rồi? Này, này… thật sự quá tốt rồi! Đệ muội lại là ân nhân của tam ca và Võ Đang ta. Ông trời thật hậu đãi Võ Đang chúng ta! Nhị ca nhị ca, đệ muội này là hậu nhân danh môn nào? Y thuật lại giỏi như thế?”

“Lục đệ muội từ nhỏ đã là cô nhi, có một nghĩa huynh nương tựa lẫn nhau, là trang chủ Kim Lăng Thu Linh trang. Nếu luận xuất thân môn phái thì lại là truyền nhân Đông Hải Đào Hoa đảo.”

Trương Thúy Sơn trợn tròn mắt: “Đông Hải Đào Hoa đảo? Ông trời, sư phụ đúng là sư phụ, tìm được đại phu vừa chữa lành cho tam ca vừa gả cho lục đệ, còn là truyền nhân Đông Hải Đào Hoa đảo nữa.” Nói rồi dừng lại một chút, nhịn không được cảm khái “Mười năm không về, không ngờ được lục đệ rụt rè e thẹn năm xưa bây giờ cũng có gia thất rồi. Đợi gặp đệ ấy phải chọc đệ ấy một trận, xem có còn động tí là đỏ mặt như hồi đó nữa không.”

Ai ngờ Du Liên Châu nghe xong trầm giọng, chậm chạp nói: “Ngũ đệ, gặp lục đệ đệ tuyệt đối không được nhắc chuyện đó. Lục đệ của đệ… mấy năm nay… ôi…” Nói rồi không nhịn được mà lắc đầu.

Trương Thúy Sơn giật thót, hỏi: “Sao cơ? Nhị ca? Vì sao không nhắc? Lục đệ đệ ấy… làm sao rồi?”Du Liên Châu nặng nề thở dài, đáp: “Bốn năm trước, lục đệ và đệ muội còn chưa thành thân nhưng ngay cả sính lễ Võ Đang đều đã chuẩn bị xong, chỉ chờ qua năm là đi Thu Linh trang cầu thân, dạm ngõ. Ai ngờ hai người lục đệ trên đường quay về sư môn đệ muội lại gặp bất trắc. Lục đệ muội bị Thành Côn đánh trọng thương, lục đệ dùng nội công trị thương cho nàng không ngờ nội công Võ Đang ta tương khắc với nội công nàng luyện, hoàn toàn không trị được thương thế của nàng. Đệ muội thân là đại phu, biết thương thế bản thân sợ là hết cứu, lại lo lục đệ khổ sở tiếc nuối bèn cùng lục đệ thành thân ở Gia Hưng. Sau đó không lâu thì qua đời. Trước khi lâm chung, nàng truyền tin cho Võ Đang, dặn dò sư huynh đệ chúng ta sau khi nàng đi phải đưa lục đệ về.”

Nói đến đây, Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đều “a” một tiếng, nhìn nhau không biết phản ứng ra sao.

Mấy năm nay xảy ra quá nhiều chuyện, nhất là hai kế sách Lộ Dao bày ra năm xưa đều dính líu đến vợ chồng Trương Thúy Sơn, mới rồi có mặt người ngoài không tiện nhắc tới, bây giờ trên tàu chỉ còn mấy người họ, Du Liên Châu bèn kể hết tất cả mọi chuyện trong mười năm nay. Vợ chồng Trương Thúy Sơn nghe mà kinh ngạc không thôi, không ngờ được mấy năm nay võ lâm Trung Nguyên xảy ra nhiều chuyện như thế. Đợi đến khi Du Liên Châu thuật tới chỗ Lộ Dao thiết kế đẩy hết chuyện Đồ Long đao cho mấy hòa thượng Thiếu Lâm đánh trọng thương Du Đại Nham, cùng việc dụ Thành Côn lộ ra chân tướng trên Thanh Lương sơn Kim Lăng, Ân Tố Tố không kềm được khen thầm trong dạ, lại thêm Lộ Dao trị khỏi cho Du Đại Nham, vô hình chung giải quyết vấn đề lớn nhất giữa nàng và Trương Thúy Sơn, lập tức nảy sinh hảo cảm vô hạn với vị đệ muội chưa từng gặp mặt này. Nhưng nghĩ tới người đã không còn, trong lòng thất vọng. Trương Thúy Sơn chưa từng gặp mặt Lộ Dao, nghe Du Liên Châu nói, càng thêm đau lòng lục đệ Ân Lê Đình.

“Sau đó mấy sư huynh đệ hao hết công sức mới dẫn được lục đệ ngẩn ngơ qua về Võ Đang. Lục đệ vừa thấy sư phụ bỗng tỉnh táo lại, quỳ phịch xuống trước mặt sư phụ, nói mình không báo mà thành thân với đệ muội, xin sư phụ trách phạt. Lúc đó sư phụ cũng đã biết tin đệ muội qua đời, nói với lục đệ nhân phẩm, tính tình Lộ cô nương ngàn người mới có được một, lại có ơn to với Võ Đang, con dâu này Võ Đang nhận, bảo lục đệ không cần tạ tội. Lại dặn dò đại ca và tứ đệ đi Thu Linh trang bổ sung hôn thư, sính lễ, cũng tuyên bố cho tất cả môn hạ, bất luận nàng còn sống hay không đều là người của Võ Đang ta, sau này nếu có kẻ tới gây chuyện, Võ Đang gánh vác tất cả. Đệ muội mất được ba tuần, lục đệ liền ngã bệnh, không ăn uống gì, mê mê man man liên tục hơn ba tháng. Khi đó Phó trang chủ liên tiếp nhờ mấy đại phu quen thân với đệ muội lúc sinh tiền, đều rất nổi danh tới xem bệnh cho lục đệ. Thấy tình hình lục đệ xong cũng không khỏi lắc đầu, tất cả đều nói tâm bệnh cần phải chữa bằng tâm dược, dù họ có kê thuốc châm cứu cũng không trị được phần gốc. Lúc ấy mấy người chúng ta ngày đêm bên lục đệ, chỉ sợ đệ ấy nghĩ không thông làm chuyện hồ đồ. Nhưng lục đệ hoàn toàn không nghe lọt, dùng thuốc cũng vô hiệu. Mãi đến ba tháng sau, Phó trang chủ đích thân đến thăm sư phụ, đưa sư phụ một tờ giấy, sư phụ xem xong đến phòng lục đệ trò chuyện với đệ ấy một đêm. Ngày hôm sau lục đệ dần ổn lại, bắt đầu từ từ uống thuốc ăn cơm, dưới sự điều dưỡng của đại phu, không tới nửa tháng liền khỏe. Từ đó về sau, lục đệ chuyên tâm luyện võ, rảnh rỗi thì chỉnh lý sao chép bệnh án, đơn thuốc đệ muội để lại lúc sinh tiền, giao cho Phó trang chủ in ấn, thay đệ muội đi thăm những tiền bối y giới năm xưa lúc đệ muội vừa xuất đạo được họ giúp đỡ. Trừ đó ra tất cả đều như trước, nhưng… lại khiến người ta nhìn mà đau lòng.”

Nói đến đây, Du Liên Châu khẽ than, chuyển đề tài: “Mấy năm nay sư phụ bế quan, tỉ mỉ nghiên cứu công phu đệ muội nhờ Võ Đang truyền thừa. Mấy thứ kiếm pháp chưởng pháp tinh diệu kia không nói, đệ muội để lại một cuốn nội công tâm pháp thật sự uyên thâm. Sư phụ nói nội công này chỗ nào cũng tương khắc với Võ Đang Cửu Dương công ta, nhưng về đạo lý căn bản thì tương hợp hoàn toàn, nhất thể lưỡng diện, còn tinh thâm hơn cả Võ Đang Cửu Dương công. Sau sư phụ nói, có lẽ đấy là Cửu Âm Chân Kinh giang hồ đồn đại trăm năm trước. Hai năm đó sư phụ vẫn luôn bế quan, chính vì suy nghĩ làm cách nào dung nhập Cửu Âm Chân Kinh này vào Võ Đang Cửu Dương công vốn có, trong đó còn thảo luận với sư huynh đệ chúng ta vô số lần. Mãi đến hai năm trước, rốt cuộc sư phụ thành công, gọi mấy sư huynh đệ chúng ta lại, giảng giải công pháp mới này cho chúng ta nghe. Công phu này so với Cửu Dương công trước đây càng uyên thâm hơn. Nếu nói luyện công phu này chăm chỉ nhất chính là lục đệ, huynh nghĩ có lẽ là vì nó là nguyên nhân gián tiếp khiến năm đó đệ muội mất mạng.”
Du Liên Châu nói hết chuyện cũ mười năm, nhìn Trương Thúy Sơn: “Ngũ đệ, bây giờ lục đệ đang chờ ở Kim Lăng, huynh đệ các đệ gặp nhau nhớ đừng nhắc tới lục đệ muội.”

Trương Thúy Sơn nặng nề gật đầu: “Nhị ca, đệ nhớ rồi. Huynh đệ chúng ta xa cách mười năm mới đoàn tụ, đương nhiên phải nhắc chuyện vui rồi. Đáng tiếc lục đệ… ngay cả đệ muội chưa từng thấy mặt cũng nhọc lòng vì chuyện của tiểu đệ, tiểu đệ thật sự… “ Nói rồi khựng lại, giọng run run: “Mấy năm nay tiểu đệ khiến sư phụ và các sư huynh đệ lo lắng quá nhiều, mười năm nay… hơn mười năm… bây giờ tiểu đệ còn được trông thấy sư huynh…” Nói đến đây thì nghẹn ngào, nhìn tóc mai Du Liên Châu đã điểm bạc, nếp nhăn trên trán nhiều thêm, trong lòng ngổn ngang trăm mối.

Du Liên Châu vỗ vai chàng, cho dù chuyện xưa nghĩ lại nặng nề nhưng cũng không kềm được nụ cười: “Mấy năm trước sau khi tam đệ bị thương, đệ lại mất tích, giang hồ đổi chúng ta thành Võ Đang ngũ hiệp. Bây giờ tam đệ khỏi bệnh, đệ cũng quay về, Võ Đang thất hiệp hôm nay lần nữa trùng phùng, ngày bảy sư huynh đệ chúng ta dắt tay hành hiệp giang hồ không còn xa nữa.”

Trương Thúy Sơn bất giác chua xót, nặng nề gật đầu.

Cốt nhục tình thâm, thời gian mười năm, cần gì nói dài ngắn?

Tàu đi theo hướng nam mấy ngày, vào cảng Trường Giang, kế đó lại đổi sang đi thuyền sông, xuôi sông thẳng về Kim Lăng.

Từ sau khi vào Trung Nguyên, ba người Du Liên Châu khá cẩn thận, vì Thiếu Lâm và Côn Luân về sớm hơn họ một ngày. Các bang phái có đệ tử bị Tạ Tốn đả thương trên Vương Bàn Sơn năm đó giờ hẳn đã biết Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố quay về Trung Thổ hết rồi, tất nhiên sẽ có rục rịch. May mà mấy năm nay Võ Đang và Thiếu Lâm ngang vai ngang vế, tiếng tăm nổi như cồn, nhất thời chưa có bang phái nào làm bậy. Song Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đã chú ý đến lúc đi thuyền trên sông, rõ ràng có một ít nhân vật bang hội cưỡi ngựa đi dọc hai bên bờ. Vợ chồng Trương Thúy Sơn nhìn mà nhíu mày, Du Liên Châu thản nhiên như không, chỉ dặn dò nhà thuyền chèo gấp đêm ngày không nghỉ thẳng hướng Kim Lăng.

Trưa hôm đó, rốt cuộc thuyền ghé vào bến Tiềm Lưu, thành bắc Kim Lăng. Du Liên Châu đưa nhà thuyền ít bạc vụn, nhờ họ đi mua bốn con ngựa tới. Bên này nhà thuyền vừa đi, Du Liên Châu và vợ chồng Trương Thúy Sơn dắt Trương Vô Kỵ xuống thuyền, chân trước mới đặt xuống đất, Du Liên Châu đột ngột khựng lại, vội vàng kéo Trương Thúy Sơn đi trước mặt lại.

Trương Thúy Sơn ngẩn ra, không hiểu ý chàng nhưng nhìn thần sắc chàng lập tức phản ứng lại, dỏng tai lắng nghe, quả nhiên nghe được hai bên bờ và đằng xa có người gấp rút tới, số lượng không ít. Chỉ nghe Du Liên Châu nói: “Một lát đệ bảo vệ đệ muội và Vô Kỵ, tuyệt đối đừng để họ một mình.” Trương Thúy Sơn biết sư huynh một lòng che chở nhà mình, trong lòng vô cùng cảm động. Du Liên Châu cao giọng: “Bằng hữu trên bờ tới đã lâu, sao không hiện thân gặp mặt?”

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau