BẠCH HỔ TINH QUÂN

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Bạch hổ tinh quân - Chương 11 - Chương 15

Chương 11: Quỷ kỳ tái xuất Tung Sơn loạn Tuyết lạc Sơn Đông tán cát nhân

Đến nửa đêm thì Tử Khuê đã nghe hết cuộc hành trình giang khổ của Trác Thanh Chân từ Thiểm Tây đến đây. Nàng không một xu dính túi, chẳng chút hành trang, trên đường thiên lý sống bằng quả rừng hoặc thực phẩm cướp giật được. Và khổ thay, Thanh Chân lại là cung nữ của Lôi Đình Đế Trác Ngạn Chi. Ai dính dáng đến nàng là dính họa vào thân, chết thảm y như Bàng Nguyên Hối vậy. Nhưng Tử Khuê không làm sao thoát ra cảnh éo le này được. Đấy là chưa kể đến rắc rối trong gia sự khi chàng dắt ả ngốc của nợ này về Hứa Xương.

Còn một vấn đề khá tế nhị là Tử Khuê chẳng thể mạo danh mà lấy người tình của kẻ đã chết. Chàng không biết hai năm trước giữa Thanh Chân và Bàng Nguyên Hối đã xảy ra chuyện gì song không tiện hỏi han. Tử Khuê đánh liều, phó mặc dòng đời đưa đẩy, chờ hạ hồi phân giải. Trước mắt, chàng cố giữ khoảng cách với Thanh Chân để tránh hậu hỏa đáng tiếc về sau. May mà Thanh Chân rất mực ngây thơ, trong trắng, biết câu “nam nữ hữu biệt”, tuy đồng sàng cùng chàng nhưng nằm xa thản nhiên an giấc.

Sáng hôm sau, Tử Khuê thức giấc khá trễ, phát hiện Thanh Chân đã dậy trước mình, đang loay hoay xếp bộ võ phục để chàng thay, có cả đôi bao tay “Ngư giáp miệt”. Nàng cầm một chiếc lên xăm soi và vui vẻ khen:

- Tướng công quả là khéo tay! Chàng sơn phết tinh vi thế này thì người ngoài làm sao nhận ra “Ngư giáp miệt”!

Quả thực là Vô Tướng Quỷ Hồ Dịch Quang San đã cặm cụi mấy ngày trời, dùng một loại sơn đặc biệt phủ lên bên ngoài đôi bao tay quý giá khiến chúng trông như da thật, có cả móng lẫn những nết nhăn ở đốt ngón tay.

Tử Khuê ậm ừ cho qua chuyện rồi rủ nàng rời khách điếm, sang tửu quán đối diện dùng điểm tâm. Thực khách khá đông và trong số ấy có không ít người đã từng hiện diện hôm qua, nhưng chẳng có ai nhận ra đôi trai gái phong tư mỹ mạo chính là cặp phu thê quái gỡ chiều qua.

Tử Khuê đã mang chiếc mặt nạ khác, trở thành một hán tử tam tuần để râu mép, mặt mũi vuông vức, cương nghị. Phần Trác Thanh Chân thì quá xinh đẹp, khác xa mụ điên bẩn thỉu mà người ta từng gặp. Nhưng nếu Thiết Đảm Hồng Nhan xuất hiện nơi đây tất sẽ nhận ra y phục mình.

Lát sau, Tống Thụy bước vào, có Thiếu Lâm Thần Côn đồng hành. Tử Khuê thoáng nghe lòng mình mừng rỡ và thức ngộ rằng mình đã ghen với Lã Hoa Dương.

Tống Thụy sững người khi nhìn thấy Trác Thanh Chân. Nàng không thể lầm được vì bộ võ phục máu gan gà mà nữ lang lạ mặt kia đang mặc cực kỳ quen thuộc. Và ngược lại, Thanh Chân cũng nhận ra ân nhân, hớn hở đứng lên vẫy gọi:

- Tống hiền muội!

Vẻ rạng rỡ chân thành của Thanh Chân đã khiến Tống Thụy cảm động, song nàng không nhận lời đồng bàn mà nhã nhặn từ chối:

- Cảm tạ nhị vị! Tiếc rằng hiền muội đã hẹn ăn sáng với Lã huyng đài.

Nói xong, nàng ngồi xuống một bàn trống gần cửa quán, Thanh Chân lộ vẻ bực bội, lầm bầm:

- Té ra cô ả chưa dứt bỏ được gã lừa trọc mắc toi kia!

Tử Khuê chău mày hỏi:

- Lã Hoa Dương nghi biểu đường chính nổi danh là bậc anh hùng hiệp nghĩa, sao Chân muội lại có ác cảm với gã như thế!

Thanh Chân tư lự đáp:

- Tiểu muội đến Lạc Dương cách nay ba hôm. Đêm ấy tiểu muội ngủ trên chạng ba một cây cổ thụ trong hoa viên của Lạc Hà đại khách điếm. Khoảng gần cuối canh ba, có một bóng đen vượt tường rào và nhảy lên lầu, đột nhập vào một phòng có ánh đèn. Tiểu muội tưởng là đạo tặc liền bám theo, rình ngoài lang cang khi nhìn qua khe cửa thì tiểu muội thấy gã họ Lã tay cố lột xiêm y của một mỹ nhân rất đẹp. Nàng ta chống cự yếu ớt và cười bảo: “Chưa lấy được “Dịch Cân Kinh” sao Lã đại ca lại đòi thưởng côn sớm như vậy?”.

Nhưng gã trọc ấy đã cởi được áo ngủ của nàng ta và vung chưởng quạt tắt đèn dầu. Tiểu muội vì xấu hổ mà quay về chỗ ngủ trên cây, không dám nghe ngóng nữa.

Tử Khuê bàng hoàng, kinh hãi, không ngờ Lã Hoa Dương lại vì nữ sắc mà bán mình. Sẵn sàng trộm cả báu vật trấn sơn của phái Thiếu Lâm. Chàng bâng khuâng nhớ đến Võ Đương Thần Kiếm Mộ Duy Lộ, một nạn nhân tương tự.

Tử Khuê quyết định sẽ tìm cơ hội thuận lợi, dùng thân phận thật mà cảnh báo sư muội của mình và chùa Thiếu Lâm.

Hơn khắc sau, Lã Hoa Dương vẫn chưa đến và ngoài cửa quán vang lên tiếng ồn ào, náo nhiệt. Người ta kháo nhau rằng đã tìm thấy tung tích của Phi Điểu Thần Ma Lục Doãn Ngôn, tại ngọn Độc Nha Sơn cách núi Ngũ Nhũ chừng ít dặm về hướng bắc.

Thế là thực khách vội vã gọi tiểu nhị tính tiền, hoặc quăng đại bạc lên bàn rồi rời tửu quán. Tống Thụy cũng vậy.

Tử Khuê đến đây để tìm Quân Sơn chân nhân chứ chẳng phải vì “Diêm Vương quỷ kỳ” nên không vội, điềm nhiên ăn nốt bữa sáng.

Thanh Chân nhìn theo bóng Thiết Đảm Hồng Nhan và nhận xét:

- Tội nghiệp Tống Thụy hiền muội! Chắc nàng ta rất buồn khi gã trọc kia đã hẹn mà không đến!

Tử Khuê đã giới thiệu tên họ của Tống Thụy Thụy cho Thanh Chân biết nhưng không tiết lộ quan hệ sư huynh, sư muội. Nghe thấy Thanh Chân cứ đòi làm chị, chàng bật cười bảo:

- Thiết Điểm Hồng Nhan năm nay đã hăm sáu, hăm bảy tuổi. Chân muội niên kỷ bao nhiêu mà sao cứ gọi nàng ta là em!

Trác Thanh Chân bối rối đáp:

- Chết thật! Thế mà tiểu muội tưởng Tống Thụy mới tuổi đôi mươi!

Nói xong, nàng ta bưng chén trà lên uống, ánh mắt rất kỳ lạ, và rốt cuộc Tử Khuê cũng không biết tuổi của Thanh Chân.

Ăn xong, Tử Khuê nghiêm nghị bảo:

- Ta đến đây với mục đích tầm thù, cuộc chiến nguy hiểm khó lường, Chân muội hãy ở khách điếm mà chờ đợi!

Thanh Chân lắc đầu, phụng phịu nói:

- Phu thê sống thác có nhau. Vả lại Thanh Chân thừa sức tự bảo vệ, chẳng để chàng phải vướng bận.

Tử Khuê hổ thẹn với vong linh Bàng Nguyên Hối nên đã dạy Thanh Chân cách xưng hô đại ca, tiểu muội, không cho nàng gọi mình là tướng công và xưng thiếp nữa. Chàng cũng căn dặn Thanh Chân không tiết lộ cái danh tính Quách Tử Khuê của mình. May thay, Thanh Chân rất ngoan ngoãn, nhất nhất vâng lời.

Nhớ đến tài khinh công quỷ khốc thần sầu của nàng, Tử Khuê tạm yên lòng đồng ý cho nàng tháp tùng. Nhưng chàng cẩn thận dặn dò:

- Chân muội cứ đứng ngoài quan chiến, khi thấy ta đào tẩu thì lập tức chạy theo!

Thanh Chân tủm tỉm cười:

- Té ra đại ca thông đạt hơn người, không thí mạng vô ích như phần lớn bọn đại hiệp trong thiên hạ.

Tử Khuê nhếch mép cười buồn:

- Ta vì an nguy, hạnh phúc của người thân mà phải suốt đời giấu mặt và chạy trốn, thiếu lúc cũng tủi phận, nào dám xem mình là hiệp khách Thanh Chân che miệng cười khúch khích:

- Vô danh thì đã sao! Bọn nữ nhân tiểu muội cần một trượng phu còn sống chớ không mong phải thờ phụng một vị đại hiệp chết non.

Câu nói mộc mạc giản dị ấy chứa đầy chân lý khiến Tử Khuê được an ủi, gật đầu khen phải. Thanh Chân cẩn thận mua vài chục cái bánh bao không nhân và một bầu nước nhỏ. Nàng vui vẻ phân bua:

- Lỡ chúng ta có phải đào tẩu vào rừng thì cũng có cái mà ăn.

Hai người rời quán, đuổi theo đám quần hào. Thật ra, họ không đơn độc vì hàng ngàn người khác cũng đang rời khu liều vải mà tiến về hướng Độc Nha sơn.

Qua câu chuyện của mọi người, Tử Khuê hiểu đại khái rằng sáng nay khá nhiều kẻ dậy sớm đã phát hiện một cánh chim ưng thật lớn bay vần vũ trên bầu trời. Họ lập tức cắt rừng vượt núi tiến đến vị trí ấy, bắt gặp con linh điểu tại Độc Nha sơn.

Chim không chết thì Phi Điểu Thần Ma cũng phải còn sống. Hoặc giả gã họ Lục có qua đời rồi thì trong xác vẫn còn “Diêm Vương quỷ kỳ”. Nhưng khổ thay, địa hình Độc Nha sơn cực kỳ cổ quái và hiểm ác, khiến những kẻ đến trước phải chùng chân.

Độc Nha sơn là một ngọn núi nhỏ chỉ cao độ năm sáu chục trượng tựa như chiếc răng sói nhọn hoắt dựng ngược, cây cối ít ỏi, trơ màu đá xám xịt.

Hình dáng núi chẳng dọa được ai nhưng vùng đất xung quanh núi lại sụt xuống thành một chiếc hào thiên nhiên sâu hun hút, sương mù mờ mịt.

Con đường duy nhất để vào Độc Nha sơn là phần đất còn lại chưa sập xuống thành vực thẳm. Tuy nhiên, do nước mưa xói mòn nhiều năm mà đỉnh của dải đất dài mười mấy trượng ấy mỏng lét, chẳng khác đường sống lưng trâu. Tất nhiên là con đường rất ghập ghềnh, có đoạn chỉ đặt vừa lòng bàn chân. Và kẻ nào sơ xuất sẽ rơi xuống khe núi mà về với ông bà.

Đó là lý do Độc Nha sơn vắng dấu chân người, và giờ đây khiến lòng kẻ học võ mấy chục năm phải ngao ngán.

Cuối giờ Thình thì quần hùng đã tề tựu đông đủ, kẻ dưới đất người trên cây, ngắm cảnh Độc Nha sơn mà lắc đầu.

Đứng gần bờ vực vì con đường duy nhất chính là năm phái Bạch đạo và những bang hội hùng mạnh như Chiết Mai bang, Bích Huyết bang, Xoa Lạp cốc, Thần Đao bảo.

Bảo chủ Tần Minh Viên đứng cạnh Minh chủ Võ lâm Âu Dương Mẫn, công khai mối liên minh giữa hai người. Lực lượng Xoa Lạp cốc do Thiếu cốc chủ Nhạc Cuồng Loạn thống lĩnh, ở vị trí sát với Thần Đao bảo tựa như cùng một phe. Họ Nhạc còn bàn bạc với Tần Minh Viên và Âu Dương Mẫn.

Trong hàng Chiết Mai bang và Bích Huyết bang không thấy có Nam - Bắc Thiên Tôn nên xem ra họ khá kém thế. Nhưng chẳng phải vì hùng mạnh hơn mà phe Âu Dương Mẫn dám nhanh nhẩu tiến vào Độc Nha sơn.

Vào thì được nhưng lúc ra sẽ khó toàn thây khi kẻ địch trấn giữ đầu đường độc đạo mà tấn công. Dẫu võ nghệ siêu phàm cách mấy thì cũng toi mạng khi mãnh đất dưới chân quá hẹp và sẵn sàng sụp lỡ bất cứ lúc nào.

Nghĩa là trước khi tiến bước thì phải chiếm được khoảnh đất đầu đường sống trâu kia. Nhưng lúc ấy, phe mạo hiểm sẽ trở thành kẻ địch của mấy ngàn người còn lại, và ở thế quay lưng vào vực thẩm. Do đó, chưa lực lượng nào dám liều mạng cả.

Tử Khuê và Thanh Chân đã nhảy tót lên một ngọn cây du núi cao vút.

Nhận ra Nhạc Cuồng Loạn, Tử Khuê lo ngại chỉ cho nàng thấy:

- Chân muội! Gã công tử áo xanh, búi tóc cài ngân quang kia là Thiếu cốc chủ Xoa Lạp cốc, tên Nhạc Cuồng Loạn. Gã ta đã từng học võ ở Lôi Đình thần cung nhiều năm, tất sẽ nhớ mặt nàng. Chân muội hãy tránh đừng cho gã gặp mặt!

Thanh Chân mỉm cười đắc ý:

- Đại ca yên tâm! Trước đây gã mắc toi ấy chưa nhìn thấy tiểu muội lần nào.

Tử Khuê yên tâm và thầm ngạc nhiên song không muốn hỏi cho rõ.

Chàng chú mục quan sát Độc Nha sơn, phát hiện trên vách đá đoạn gần chân núi có rất nhiều hang động. Cái sát mặt đất, cái ở cao năm sáu trượng. Có lẽ không phải chỉ ở mạn nam này mà chung quanh núi đều lỗ chỗ hang hốc như thế. Hiện nay, con chim ưng đã sà xuống và biệt tăm, chẳng rõ chui vào xó nào.

Nghĩa là, khi sang được bên ấy, người ta cũng khó mà biết đích xác Phi Điểu Thần Ma ở đâu trong hàng trăm hang động tối tăm kia.

Bổng quần hùng ồn ào hẳn lên, xôn xao bảo nhau rằng Nam Thiên Tôn và Bắc Thiên Tôn đã giá lâm.

Tử Khuê hiếu kỳ nhìn xuống, thấy thấp thoáng một toán bảy, tám người đang tiến vào rất nhanh. Cuối cùng họ đã đến mảnh đất quang đãng không cây cối, gần mép vực, Tử Khuê mới nhìn rõ hơn.

Không khó để nhận biết lai lịch của hai vị đại kỳ nhân vì phong thái bất phàm cũng như vũ khí thành danh của họ. Bắc Thiên Tôn Phùng Thịnh Đoan mặc áo bào trắng, áo cừu cũng trắng và trong hình thái cực tiên chiếc mũ đạo sĩ có đính hai viên bảo ngọc, một đỏ một xanh. Bộ râu năm chòm của lão cũng trắng muốt, tô điểm cho gương mặt phương phi, đỏ hồng thêm phần tiên khí.

Theo sau Bắc Thiên Tôn là một đạo sĩ bạch y tuổi quá bốn mươi, mặt không râu, gân guốc, cương nghị, thân thể lực lưỡng. Hắn ta tên gọi là Lã Bất Thành, chính thị đại đệ tử của Bắc Thiên Tôn.

Thực ra, Phùng lão vốn sở trường nghề đánh trường kích, vũ khí thành danh của Lữ Bố thời Tam Quốc. Trường kích dài và nặng nề, chẳng phải thứ mà ai cũng múa nổi, nhất là đàn bà. Cho nên, Lã Bất Thành sức lực hơn người, chân truyền pho “Bạch Vân kích pháp”. Còn Dương Tố Vy Bang chủ Chiết Mai bang thì chỉ được học nghề đánh kiếm, sở đoản của Bắc Thiên Tôn.

Tuy Lã Bất Thành không xuất đạo, chỉ quanh quẩn nơi đất Sơn Tây, song võ lâm đều biết bản lĩnh của gã chỉ kém Bắc Thiên Tôn vài bậc. Ba mươi mấy năm ròng, Bất Thành tận tụy hầu hạ sư phụ, khổ công rèn luyện, chả biết mùi tửu sắc, còn đáng mặt tiên ông hơn cả Phùng Thịnh Đoan. Cho nên, thành tựu của họ Lã rất cao. Nếu ngày nào đó gã đánh bại sư phụ của mình thì cũng là điều dễ hiểu.

Nhưng giờ đây, con người hiếu võ thành tật ấy đang lặng lẽ vác cây “Bạch Vân kích” dài sáu xích, nặng ba mươi cân, theo hầu Bắc Thiên Tôn. Lã Bất Thành cũng có một cây dài kích nặng y như thế, do sư đệ của gã vác hầu.

May mà gã ấy gầy gò, học kiếm pháp, không thì lại có thêm một gã khác ôm kích theo sau.

Phần Nam Thiên Tôn Từ Tôn Chiến thì ngược lại. Gã này chuộng màu đen cả da dẻ cũng đen đen. Chỗ trắng trẻo trên người lão là mớ tóc bạc và bộ râu ngắn ngủn, lưa thưa. Hàm răng thì không tính vì đã vàng ố và rơ mất vài chiếc.

Tuyệt học khí công Trung Hoa có thể giúp người ta khỏe mạnh, sống lâu song bất lực trước sự tồn vong của những chiếc răng. Chúng thản nhiên tàn tạ mục nát, hoặc lung lay rồi rơi rụng bất kể vị chủ nhân già có đến hàng trăm năm công lực. Ngay Trương Tam Phong cũng còn móm xọm chứ đừng nói ai.

Răng bền chắc hay không là tùy thuộc vào những yếu tố khác. Ví dụ như dân Giao Chỉ chẳng hạn. Họ có tập quán nhuộm răng đen và ăn trầu nên hàm răng cực kỳ tốt, dẫu đến tuổi tám mươi mà vẫn chưa hề lay chuyển chiếc nào.

Tóm lại, đại đa số các cao thủ lão thành của võ lâm Trung Hoa đều thiếu vài chiếc răng khi đến tuổi bảy mươi, thậm chí năm sáu mươi, không chỉ riêng mình Nam Thiên Tôn. Chẳng qua lão xui xẻo rụng nhầm răng cửa trông không được đẹp mắt đấy thôi!

Vác vũ khí theo hầu Từ lão là một đạo sĩ trung niên, thân hình phốp pháp, to béo, mặt tròn nung núc thịt, thần sắc thật thà, kém oai phong hơn Lã Bất Thành.

Gã ta tuổi mới bốn hai, tên gọi Khổng Đam, biệt hiệu Hồ Đồ Thần Thương. Một người mang họ của Khổng Từ và tên của Lão Tử thì tại sao lại có thể không sáng suốt nhỉ. Thế mà Khổng Đam lại ngốc không thể tưởng được.

Học võ từ năm mười bốn tuổi, đến tam thập thì Khổng Đam hạ sơn, tự xưng là Giang Nam Thần Thương. Gã tự cho mình là hiệp sĩ nên can thiệp vào đủ mọi chuyện trên đường giong ruổi, gây những chuyện cười ra nước mắt.

Có lần, Khổng Đam gặp cảnh năm đánh một liền hớn hở xông vào giúp kẻ thế cô. Nào ngờ, đấy là năm vị bộ đầu mặc thường phục truy bắt hung thủ cướp của giết người. Rốt cuộc tên đạo tặc trốn thoát, còn Khổng Đam bị bắt giải về phủ Trường Sa. May mà Nam Thiên Tôn rất được quan lại Hồ Nam nể trọng nên cứu được đứa học trò đại ngốc khỏi cảnh tù tội.

Từ đó giới gian hồ gọi Khổng Đam là Hồ Đồ Thần Thương. Và gã cũng bị sư phụ bắt về núi, không cho đi rong nữa.

Tuy tư chất kém cỏi nhưng Khổng Đam có thần lực kinh nhân, đường thương nặng như núi Thái. Cho nên dẫu Trịnh Bá Nghiêm được Từ lão ưu ái, hết dạ tài bồi mà vẫn không hơn được họ Khổng.

Nghĩa là, sau này Lã Bất Thành cùng Khổng Đam sẽ đại diện cho Bắc Thiên Tôn, Nam Thiên Tôn để đấu với Quách Tử Khuê, trong cuộc phó ước Tam Tôn.

Văn tự thì dài dòng song Tử Khuê nhận biết bốn nhân vật kể trên đã từ lâu, qua lời tường thuật của nghĩa phụ Trung Thiên Tôn. Chàng đặc biệt chú ý đến lão đạo sĩ áo xanh, lưng đeo trường kiếm đang đi giữa Nam - Bắc Thiên Tôn. Tử Khuê bồi hồi, linh cảm rằng đây có thể là Quân Sơn chân nhân Đường Mai Giãn, kẻ đã hại chết Tam sư thúc của mình. Lão ta hơi bị gù lưng, trán hói cao, rất giống lời mô tả của Lỗ phán quan.

Và lời phỏng đoán ấy đã được xác nhận khi Song Tôn đến vị trí của phe Bạch đạo. Sáu vị Chưởng môn nhân đều bước ra thi lễ vì Song Tôn là bằng hữu của sư phụ họ.

Bắc Thiên Tôn vui vẻ giới thiệu bạn đồng hành:

- Này lục vị! Đây là Quân Sơn chân nhân Đường Mai Giãn ở Trường Sa, sư đệ của bần đạo.

Tử Khuê thoáng giật mình, không ngờ lão quỷ này là đồng môn với Bắc Thiên Tôn. Việc này sẽ khiến việc trả thù của chàng thêm phần khó khăn.

Lục vị Chưởng môn cũng cùng tâm trạng như Tử Khuê. Họ căm giận Đường Mai Giãn đã ám hại vị ân nhân là Cửu Hoa Thánh Y, song không có bằng cớ nên đành cố nhịn. Tuy cả thiên hạ đều tin rằng có Âm ty, có ma quỷ, nhưng họ chẳng thể đưa Lỗ phán quan ra làm chứng được. Nay Quân Sơn chân nhân lại dựa hơi Bắc Thiên Tôn thì càng khó bắt tội lão ta.

Sáu vị long đầu cắn răng gật đầu thủ lễ, nhìn Đường Mai Giãn với ánh mắt lạnh tanh. Bắc Thiên Tôn không hiểu ẩn tình, phật ý bởi cho rằng đáng lẽ đối phương phải “vị thần nể cả cây đa”, vì lão mà tôn trọng sư đệ của lão.

Quân Sơn chân nhân thì chột dạ tự nhủ:

- Chẳng lẽ họ biết ta giết Cỗ Sĩ Hoành? Không thể được, chẳng ai chứng kiến việc ấy cả!

Lúc này Bắc Thiên Tôn đã đổi sắc, nghiêm nghị nói sang sảng:

- Kính cáo Hội đồng Võ lâm cùng toàn thể chư vị anh hùng. Bần đạo nay đã tám mươi sáu tuổi, gần đất xa trời, nhưng quyết đem sức tàn phù trì xã tắc, giữ vững cơ đồ Đại Minh. Bởi vậy, bần đạo mới cần đến cây “Diêm Vương quỷ kỳ” làm phương tiện để phá tan những đạo quân Mông Cổ đang uy hiếp biên thùy phía Bắc.

Lão chắp tay, cúi đầu rồi nói tiếp:

- Thánh thượng anh minh tất hiểu tấm lòng trung nghĩa của bần đạo nên đã hạ Thánh chỉ truyền bần đạo thu dụng linh kỳ. Phiền chư vị cùng quỳ xuống để nghe khâm sai đại nhân Đổng Phúc của Đông Xưởng tuyên đọc Thánh chỉ!

Nói xong, lão lùi lại vài bước, kính cẩn mời một hán tử áo gấm, mang đao, thần thái kiêu ngạo. Gã này nãy giờ đứng cạnh Lã Bất Thành phía sau Song Tôn.

Nghe nhắc đến Thánh Thượng và Đông Xưởng thì ai cũng chột dạ, hiểu rằng linh kỳ khó thoát khỏi tay lão mắc dịch họ Phùng. Và tất nhiên sẽ chẳng có đánh đấm gì cả!

Tiếc công lặn lội đường xa và dầm sương gội gió bấy lâu nay, một gã cứng đầu bực bội buột miệng chửi thề:

- Mẹ kiếp! Cả lũ đang bám trên cây như khỉ thế này thì quỳ thế quái nào được!

Quả thật vậy, trừ những lực lượng mưu đồ tranh đường đi tiên phong vào Độc Nha sơn, kỳ dư đều tìm vị trí tốt để quan sát, và không ít người đã chọn ngọn cây.

Khách gian hồ quen thói phóng túng, ngang ngược và chẳng ưa gì triều đình. Bởi họ đã chứng kiến qua nhiều cảnh lầm than khổ ải của lê dân. sưu cao, thuế nặng và sự nhũng nhiễu tham tàn của bọn quan lại địa phương đã khiến dòng máu hiệp sĩ sục sôi. Từ đó, trong lý tưởng “Trừ bạo an dân” bao hàm cả việc giết quách vài gã quan tham cho dân dễ thở.

Với tâm lý ấy, quần hào chán ghét khi nghe nhắc đến Thánh chỉ. Họ ồ lên tán thành ý kiến của cái gã đang đánh đu trên cây. Và khổ thay, một gã dốt kinh khủng nào đó đã oang oang hỏi lớn với giọng thơ ngây:

- Lạ thật! Thánh thượng là cái lão quái nào thế nhỉ? Lão ta đã chết chưa mà cứ bắt chúng ta quỳ lạy mãi thế?

Gần nửa vạn người phá lên cười muốn lộn ruột, làm chấn động cả vùng núi Tung Sơn. Thậm chí có kẻ còn cười đến nỗi rơi từ trên cây xuống.

Họ không thể không cười vì kẻ phát ngôn chính là Hồ Đồ Thần Thương Khổng Đam, đại đệ tử của Nam Thiên Tôn.

Từ lão tái mặt nạt học trò:

- Câm ngay! Ngươi muốn bị tru di tam tộc hay sao mà dám phạm tội khi quân. Mau quỳ xuống nhận tội!

Rồi lão quay sang van nài phân bua với vị khâm sai đại nhân họ Đổng ở Đông Xưởng, Nam Thiên Tôn còn nháy nhó lia lịa, ra hiệu rằng sẽ chuộc lỗi cho đồ đệ bằng vàng ròng chứ chẳng phải nói suông.

Đổng Phúc hiểu ý, xuề xòa phán rằng:

- Khổng Đam ngu muội, hồ đồ khét tiếng võ lâm, ai ai cũng biết, nên bổn nhân chẳng chấp nhất làm gì. Nếu là kẻ khác thì không khỏi tội chém ba họ.

Khổng Đam đang quỳ dưới đất, rung như cầy sấy, nghe vậy thì mừng rỡ, dập đầu lạy Đổng Phúc như tế sao.

Họ Đổng xua tay bảo gã đứng dậy rồi nghiêm nghị nói với toàn trường.

Người của Đông Xưởng đều là tay võ nghệ khá nên giọng của Đổng Phúc vang rền, hùng mạnh:

- Đúng là địa thế này không thích hợp để giữ đúng triều nghi nên chư vị hảo háo có thể đứng yên mà nghe Thánh chỉ cũng được!

Nói xong, Đổng Phúc cầm luôn lịnh kỳ bằng hai tay hướng về phương bắc mà vái ba vái. Nào ngờ từ trên ngọn cây của một cây tùng cao ngất nào đó, phía sau quần hào có một bóng xám lao vút xuống như tên bắn. Thành ngữ “Nhanh như cắt” thường được dùng để miêu tả, tung xưng tốc độ bay của loài chim ưng nhỏ của vùng thảo nguyên, sa mạc. Chim cắt khá giống diều hâu nhưng nhanh nhẹn hơn nhiều.

Và khổ thay, mục tiêu của con chim hung hãn ấy là cuộn lục Thánh chỉ trong tay Đổng Phúc. Họ Đổng vừa đưa lên vái cái thứ ba thì bị giật mất.

Sự cố này xảy ra trong chớp mắt khiến chẳng ai kịp phản ứng. Ngay cả hai vị đại kỳ nhân Nam - Bắc Thiên Tôn cũng ngơ ngác. Khi họ định thần thì con chim mạt cắt đã bay lên cao mười mấy trượng. Toàn trường xôn xao, ớ lên vì kinh ngạc, trố mắt nhìn cánh chim đang lã lướt trên không trung. Nó không bay thẳng về hướng nào mà lại lượn lờ theo hình xoắn ốc trên đầu quần hùng và bốc dần lên cao.

Con chim quái ác đã sai lầm vì đã quên rằng nơi đây có sự hiện diện của Trung Nguyên Thần Tiễn Phan Nguyên Kết.

Phan lão đã đủ thì giờ tra tên, giương cung trổ tài thiện xạ. Mũi trường tiễn xá không gian, đón lấy chim cắt ngay trên quỹ đạo bay của nó.

Do quá vội vã, không kịp tính toán đến sức gió thổi, nên Phan Nguyên Kết, chỉ thành công một nữa. Mũi tên của ông ta không cắm trúng mục tiêu và chỉ làm rụng vài chiếc lông cánh của con chim.

Nhưng như thế cũng đủ khiến cho chú chim phạm thượng kia sợ hãi, buông rơi Thánh chỉ, bay về hướng Độc Nha sơn.

Cuộn lụa vàng bung ra, như chiếc diều đứt dây, lão đảo rơi xuống khu rừng cạnh bờ vực, nơi quần hào đang nhốn nháo.

Tuy Thánh chỉ chẳng phải là cứt chim nhưng nó vẫn thản nhiên đáp xuống cái đầu xui xẻo của Quách Tử Khuê. Chàng đưa tay chụp lấy, bâng khuâng chẳng biết phải xử trí thế nào.

Cây cổ thụ mà Tử Khuê và Trác Thanh Chân đang đứng nằm ngay sau lực lượng Chiết Mai bang, Bích Huyết bang. Bởi vậy, bang chúng của hai bang ấy lập tức vây chặt lấy gốc cây và Trịnh Bá Nghiêm đã lên tiếng bảo Tử Khuê:

- Phiền các hạ mang Thánh chỉ xuống giao lại cho Trịnh mỗ!

Nhớ đến lời dạy của nghĩa phụ Trung Thiên Tôn, Tử Khuê chẳng muốn “Diêm Vương quỷ kỳ” lọt vào tay kẻ xấu. Nhưng việc cướp đoạt Thánh chỉ là một việc mà chàng không hề nghĩ đến.

Chợt cô ả Trác Thanh Chân thỏ thẻ:

- Quách đại ca! Năm trước, tiểu muội từng được nghe Lôi Đình Đế Quân tiết lộ rằng Bắc Thiên Tôn đã bí mật gã con gái út cho một vị vương tử Mông Cổ. Do đó tiểu muội không tin rằng Phùng lão quỷ lại muốn đánh nhau với con rể của mình. Ngược lại, có thể lão ta sẽ dùng “Diêm Vương quỷ kỳ” để giúp quân Mông vượt Vạn Lý Trường Thành, xâm chiếm Trung Hoa lần nữa kìa!

Nghe xong, Tử Khuê toát mồ hôi hột, hiểu rằng không thể Phùng Thịnh Đoan chiếm được cờ báu. Và muốn ngăn cản lão ta thì trước tiên chàng phải đoạt lấy đạo Thánh chỉ này. Khi Song Tôn không còn hậu thuẫn của triều đình, các lực lượng khác sẽ chẳng để hai lão tự tung tự tác.

Tử Khuê nhìn vòng vây đen kịt dưới gốc cây mà ngao ngán, biết mình khó toàn mạng khi đem Thánh chỉ đào tẩu. Nhưng nghĩ đến cảnh Bắc Thiên Tôn vũ lộng Quỷ kỳ, dẫn quân Mông Cổ vào giày xéo giang sơn, gieo rắc tang tóc cho lê thứ, thì Tử Khuê vô cùng phẫn hận. Chàng nghiêm nghị bảo Thanh Chân:

- Chân muội! Có thể Song Tôn là tay sai của rợ Mông. Bởi vậy, ta quyết liều thân, không để họ đoạt được “Diêm Vương quỷ kỳ”. Nàng hãy ở yên trên này, chờ ta xuống gây rối hàng ngũ đối phương rồi hãy thoát đi.

Chàng vừa nói đến đây thì Nam Thiên Tôn nóng nảy thúc giục:

- Này tiểu tử kia! Ngươi không sợ chết hay sao mà cứ kiên trì mãi vậy?

Mau mang Thánh chỉ xuống đây nạp!

Tử Khuê hoãn binh bằng một câu:

- Tại hạ muốn xin ít tiền thưởng. Từ lão tiền bối nghĩ sao?

Trong lúc Nam Thiên Tôn hội ý với đồng đảng thì Thanh Chân mỉm cười bảo Tử Khuê:

- “Uyên ương đồng mệnh”, thiếp quyết chẳng rời chàng một bước.

Nhưng thật ra, sự tình nào đến nỗi bi đát như thế. Đại ca cứ giả vờ đem Thánh chỉ xuống giao cho gã khâm sai, rồi bất ngờ chúng ta chạy thẳng vào Độc Nha sơn. Nếu tìm được “Diêm Vương quỷ kỳ” thì lo gì không giết được Song Tôn?

Bằng không, với địa hình đầy hang động kia thì lo gì họ tìm ra đôi ta!

Dẫu đây không phải là thượng sách còn hơn đâm đầu vào chỗ chết, Tử Khuê cao hứng khen ngợi và vui vẻ sửa sai:

- Chân muội giỏi lắm! Nhưng muội quên một điều là chúng ta không hề biết câu thần chú điều khiển linh kỳ. Nếu tìm được cờ thì cũng chẳng làm gì nổi đối phương.

Ánh mắt Thanh Chân rực sáng, mặt rạng rỡ vẻ hí hửng trẻ thơ. Nàng đắc ý đáp:

- Sao đại cao lại nghĩ rằng tiểu muội không biết câu thần chú ấy?

Cùng lúc, tiếng Nam Thiên Tôn vọng đến:

- Lão phu đồng ý thưởng cho ngươi hai chục lượng vàng. Xem ra số ngươi cũng may mắn lắm đấy!

Tử Khuê nhếch mép cười đau khổ khi có kẻ khen mình số đỏ. Chàng cao giọng phúc đáp:

- Cảm tạ Từ tiền bối! Tại hạ sẽ tận tay dâng nạp Thánh chỉ để nhận phần thưởng.

Nói xong, chàng cùng Trác Thanh Chân chậm rãi chuyền xuống gốc cây, cố tỏ ra rằng võ công mình thấp kém.

Trịnh Bá Nghiêm, Dương Tố Vy cùng bọn bang chúng trố mắt nhìn gương mặt kiều diễm và thánh thiện của Trác Thanh Chân. Nàng ta không rực rỡ như Đông Nhạc Tiên Hồ Dịch Thái Vân, không quyến rũ một cách kính đáo như Thiết Đảm Hồng Nhan Tống Thụy, mà mang vẻ đẹp ngây thơ, trong trắng của một cô bé mười bốn, mười lăm tuổi.

Tử Khuê và Thanh Chân đủng đỉnh đi xuyên qua vòng vây, tiến về hướng bờ vực. Lúc này các lực lượng Hắc - Bạch đang đứng thành hình cánh cung trước đầu con đường hiểm đạo dẫn vào Độc Nha sơn.

Khi lọt đến khoảng đất trống trước mặt họ, thay vì rẽ phải vài trượng để gặp Song Tôn, hai người bất ngờ lướt nhanh như gió thoảng.

Khoảng cách bảy tám trượng chẳng là gì đối với kẻ có tài nghệ khing công cao cường như Tử Khuê. Thi triển “Thao Quang thân pháp”, chàng hóa thành chiếc bóng mờ lao vút đi, đặt chân lên con đường rồi thì kẻ địch mới kịp có phản ứng. Thanh Chân bám sát chàng như bóng với hình, môi nở nụ cười tươi chẳng chút sợ hãi. Tử Khuê không hề lo lắng cho ả vợ hờ vì biết khinh công của Thanh Chân còn cao hơn mình.

Nam - Bắc Thiên Tôn cùng những người chứng kiến diễn biến này hốt hoảng ồ lên và nhất tề tung mình đuổi theo hai kẻ liều mạng kia.

Tùy theo bản lĩnh và khoảng cách xa gần mà thứ tự những người truy đuổi được phân biệt. Đi đầu là Bắc Thiên Tôn, kế đến là Nam Thiên Tôn, rồi Quân Sơn chân nhân, Thiếu chủ Cáp Lộc Xoa Nhạc Cuồng Loạn, Minh chủ võ lâm Âu Dương Mẫn...

Như đã nói ở trên, con đường xuyên vực này cực kỳ hiểm trở, nhỏ hẹp và không vững chắc. Đất đá trên mặt đường có thể vỡ ra bất cứ lúc nào. Do vậy, Tử Khuê phải sử dụng đến phép “Đăng bình độ thủy” (Đạp bèo qua sông). Yếu quyết của phép khinh công này chính là sức phóng đi cực mạnh lúc ban đầu.

Lực quán tính sẽ được bổ sung bằng hàng ngàn phản lực nhỏ bé do mũi giày của Tử Khuê chạm vào mặt đất. Nghĩa là, bước chân của chàng rất ngắn, chỉ độ hai gang và liên tục điểm trên đất đá. Dẫu chúng có sập lỡ thì thân hình chàng cũng lướt qua rồi.

Bèo thì quá nhẹ nhưng với công phu này người ta có thể hoàn toàn chạy một đoạn trên mặt nước, khi dưới chân có những khúc gỗ hoặc phên tre nổi lềnh bềnh.

Giờ đây theo từng bước chân của Tử Khuê, những viên đá, những mảnh đất lỏng chỏng, hờ hững bám trên mặt đường bị long lỡ, rơi xuống vực thẳm như mưa rào. Điều này sẽ gây khó khăn cho người đuổi theo chàng, nhất là Trác Thanh Chân. Nhưng Tử Khuê và nàng đã liên kết thành một khối. Thanh Chân nắm chặt lấy chốt bao của thanh kiếm mà tay phải Tử Khuê đưa về sau, thản nhiên tiếp bước. Thân hình nàng nhẹ nhàng như đám mây không trọng lượng bồng bềnh bám lấy Tử Khuê. Dù đôi lúc chân nàng chẳng chạm vào điểm tựa nào, vì chúng đã bị Tử Khuê đạp rơi mất, thì sức nâng của trường kiếm cũng giúp nàng không lỡ bộ.

Nhưng ngược lại, Bắc Thiên Tôn và những người đang ở phái sau lão phải luôn giữ một khoảng cách an toàn để tránh cảnh tan xương nát thị dưới vực sâu. Do vậy mà họ đã chậm chân, để đôi trai gái cổ quái nọ thoát được sang bờ bên kia.

Khi vừa đặt chân lên mặt đất vững chắc, hai người thở mạnh đổi hơi rồi dùng toàn lực vào song cước lao đi. Họ không nhắm đến động khẩu gần nhất ở trước mặt cách gần chục trượng, mà lướt về hướng trái, chạy vòng ra sau núi, nơi con đại ưng của Phi Điểu Thần Ma đã đáp xuống. Vả lại, họ muốn đối phương bị khuất tầm mắt, không nhân ra họ đã chui vào cửa nào trong gần trăm cái hang quanh sườn núi.

Thực ra, Tử Khuê cũng chẳng thể biết Thần Ưng và Thần Ma đang ở chỗ nào. May thay, khi đến gần mạn sau của Độc Nha sơn, chàng tình cờ thấy vài cọng lông chim rơi trên mặt cỏ vàng úa. Tử Khuê mừng rỡ kéo Thanh Chân đình bộ. Hai người cúi xuống nhặt nhanh mấy cọng lông ấy rồi đề khí tung mình lên cao hai trượng, chui vào một động khẩu nhỏ hẹp trên vách đá.

Có thể đây chưa chắc là nơi Phi Điểu Thần Ma ẩn mình song ít nhất cũng đánh lạc hướng được bọn cường địch. Quả thế, chỉ lát sau truy binh đã lướt qua bên dưới, không biết con mồi đã trụ lại.

Trong lúc Tử Khuê và Thanh Chân ngồi thở dốc, nhìn nhau cười cợt, thì số người tiến vào Độc Nha sơn mỗi lúc một đông. Tất nhiên, họ là những cao thủ thượng thừa, đủ dũng khí và tài khinh công để vượt qua độc đạo ghê hồn kia. Nhưng rồi những kẻ kém cũng sẽ qua được bằng cách căng dây sang bên tìm chỗ mà bám víu.

Họ không muốn đứng nhìn nữa bởi vì Minh chủ võ lâm Âu Dương Mẫn đã vận công tuyên bố vang rền khắp Độc Nha:

- Minh chủ võ lâm sẽ tặng năm ngàn lượng vàng cho bất kỳ ai may mắn tìm được “Diêm Vương quỷ kỳ” và mang đến đây nạp!

Bắc Thiên Tôn giận dữ ứng tiếng:

- Âu Dương Mẫn chớ loạn ngôn! Lão phu đã được Thánh Thượng ban cho cờ báu, sao ngươi lại dám tranh giành?

Âu Dương Mẫn cười khanh khách:

- Thánh chỉ chưa được tuyên đọc thì sao ta biết Thánh ý thế nào?

Dẫu tức đến thở ra khói mà Phùng Thịnh Đoan vẫn phải cố nén giận vì lực lượng đối phương rất hùng hậu. Hơn nữa, đánh nhau trong lúc chưa tìm thấy linh kỳ thì quả là bất trí. Bắc Thiên Tôn hờ hững bảo:

- Dẫu ngươi có mang được Quỷ kỳ về Tổng đàn Võ lâm thì sau này cũng phải ngoan ngoãn dâng nạp khi lão phu có đạo Thánh chỉ trong tay. Chỉ sợ lúc ấy ngươi lại tiếc rẻ năm ngàn lượng vàng đấy thôi.

Câu hăm dọa rất có uy lực vì Bắc Thiên Tôn hoàn toàn có thể tìm thấy cái gã đã đoạt Thánh chỉ trong tuyệt địa này. Nhược bằng thất bại, lão vẫn có khả năng xin một đạo Thánh chỉ khác. Khi đó, Âu Dương Mẫn mà cố giữ bảo vật thì sẽ mang tội khi quân, chết ba họ chứ chẳn chơi.

Nhưng dường như Âu Dương Mẫn đã có chủ ý nên chẳng hề sợ hãi chỉ cười khẩy.

Hào kiệt tứ hải cùng bang chúng các tà bang đã vào đầy những hang động ở mạn sườn núi phía Bắc Độc Nha sơn. Nhưng bọn thủ lĩnh, long đầu thì cứ đứng cả ở bên ngoài chờ đợi tin tức chứ không dại gì “Mò kim đáy biển”.

Từng phe bàn bạc kế sách hành động khi có người tìm ra cờ báu. Sắc diện ai nấy đều trầm trọng nghiêm trang vì cuộc chiến trước mắt sẽ cực kỳ tàn khốc.

Khổ tâm nhất chính là Hội đồng Võ lâm, đại diện cho chính khí giang hồ.

Là những kẻ tu hành, trừ Thất Bổng Cái Thạch Kính Tường, các Chưởng môn nhân đều không hề muốn đưa đệ tử vào cảnh máu chảy đầu rơi. Nhưng họ lại không thể đứng nhìn bảo vật rơi vào tay kẻ dữ, di hại đến võ lâm và xã tắc.

Trong lúc do dự bất quyết này, họ tiếc nuối biếc bao bậc tài trí là Cửu Hoa Thánh Y Cổ Sỹ Hoành.

Giờ đây, sáu phái chỉ còn cách dùng kế “Án binh bất động”, chờ xem sự thể diễn biến thế nào. Đệ tử của họ đều ở cả bên ngoài chân núi, không vào hang tìm linh kỳ.

Thiết Đảm Hồng Nhan chẳng tìm Thiếu Lâm Thần Côn trò chuyện. Nàng thơ thẩn dạo quanh, lơ đãng quang sát những người tìm cách vượt sườn núi, trèo lên những hang động trên cao. Ánh mắt nàng tràn ngập lo âu và pha chút đắng cay, hờn giận. Tống Thụy cho rằng đối phương sẽ tìm thấy hán tử đoạt thánh chỉ, vì đã nhận ra đấy chính là Tử Khuê, người mà nàng thương nhớ bấy lâu nay, cũng buồn phiền vì mỗi lần gặp nhau là bên cạnh Tử Khuê lại có thêm một nữ nhân khác.

Trong đám người của Kỹ Lưu Tiên, Thiết Đảm Hồng Nhan cũng đã phát hiện Trình Thiên Kim, Dịch Tái Vân đồng bàn cùng với Tử Khuê. Với linh cảm của nữ nhân, nàng hiểu rằng hai ả nọ chẳng phải chỉ là khách của nhà họ Kỹ.

Tống Thụy vô cùng ân hận khi đã đồng hành cùng Lã Hoa Dương khiến Tử Khuê không dám đến hỏi han lúc gặp nhau trong tửu quán. Chàng vào quán ấy vì đã nhìn thấy nàng.

Đang miên man suy nghĩ, Thiết Đảm Hồng Nhan bỗng giật mình bởi phía sau có tiếng người gọi:

- Tống nữ thí chủ! Lục vị Chưởng môn nhân mời thí chủ đến đàm đạo!

Tống Thụy quay lại bắt gặp nụ cười tinh quái và gương mặt dễ mến của Linh Tuệ, đệ tử Võ Đương. Nàng gật đầu, đi theo Linh Tuệ đến vị trí mà Hội đồng Võ lâm đang ngồi. Sáu tảng đá đã được sắp xếp dưới bóng một cây bách để các thủ lĩnh già nua đỡ mỏi chân.

Tiết trời mùa Đông lạnh giá, chẳng cần người quạt và trà cũng thiếu nên không ai khác lãng vãng gần nơi ấy. Quy củ của võ lâm là thế, bọn vãn bối không được phép ngồi nghe câu chuyện của các bậc trưởng thượng!

Thiếu Lâm Thần Côn Lã Hoa Dương đả mau mắn vác đến cho Tống Thụy một tảng đá để ngồi rồi rút lui.

Thiết Đảm Hồng Nhan ôm quyền thi lễ với Hội đồng Võ lâm:

- Chẳng hay lục vị có điều chi dạy bảo?

Thất Bổng Cái nóng nảy xua tay:

- Dạy bảo cái cốc khô gì! Ngươi cứ ngồi xuống cho bọn lão phu hỏi vài câu!

Đại Giác thiền sư, Phương trượng của chùa Thiếu Lâm cũng hiền hòa bảo:

- Nữ thí chủ cứ việc an tọa! Đây không phải là chốn để thủ lễ!

Tống Thụy vái tạ rồi khép nép ngồi xuống. Thất Bổng Cái Thạch Kính Tường nhăn mặt hỏi ngay:

- Này Tống Thụy nha đầu! Phải chăng cái gã áo xanh đã đoạt Thánh chỉ là sư huynh của ngươi?

Tống Thụy ngượng ngùng gật đầu:

- Bẩm phải! Nhưng tiểu nữ chỉ nhận ra khi Hàn sư huynh thi triển khinh công.

Thất Bổng Cái đắc ý vỗ đùi bảo năm người kia:

- Ngũ vị thấy chưa, lão phu đoán việc nào có sai! Chỉ mình y mới dám vì võ lâm mà chuyện động trời như thế.

Các Chưởng môn nhân gật gù khen ngợi, tán dương dũng khí và công lao của chàng trai trẻ. Nếu chàng không liều lĩnh cướp Thánh chỉ chẳng ai dám tiến vào Độc Nha sơn, để mặc cho Nam - Bắc Thiên Tôn thu nhặt linh kỳ.

Vân Thiên Tử luôn áy náy vì để mất “Diêm Vương quỷ kỳ” nên càng tri ân Tử Khuê. Ông nghiêm nghị nói:

- Không biết Vu Diệp hiền diệt con cái nhà ai mà hành vi lại chính nghĩa thế nhỉ? Sau này Hội đồng Võ lâm phải tuyên dương công trạng của y trước giang hồ để song thân của y được vui lòng.

Thiên Sư giáo chủ vừa mấp môi định khai ra thì bị Thất Bổng Cái cướp lời. Lão ăn mày già hỏi Tống Thụy:

- Tống diệt nữ! Con chim mạt cắt đã cướp Thánh chỉ lúc nãy có phải là của Trung Thiên Tôn hay không?

Suy đoán này của Thạch Kính Tường chẳng phải là vô căn cứ. Trung Thiên Tôn Trần Ninh Tĩnh vốn có thói quen nuôi chim ưng.

Đã lâu không quay lại Tung Sơn nên Tống Thụy chẳng thể khẳng định được. Nàng bâng khuâng đáp:

- Bẩm Thạch bang chủ! Lúc tiểu nữ rời núi thì gia sư vẫn chưa tìm ra con chim ưng nào khác để thay cho con đã chết.

Thất Lâm Tử, Chưởng môn phái Hoa Sơn, thất vọng thở dài:

- Phải chi Trần lão thí chủ di giá đến đây thì mới mong vãn hồi được cục diện này.

Thất Bổng Cái gật gù tán thành rồi hỏi tiếp Tống Thụy về việc Thiếu cốc chủ Xoa Lạp cốc Nhạc Cuồng Loạn uy hiếp Tống gia ra sao. Câu chuyện của họ khá dài dòng nên chúng ta sẽ quay lại với Quách Tử Khuê xem thế nào.

Nhắc lại, Tử Khuê cùng Thanh Chân nhảy lên cửa động nhỏ ở mạn Tây Bắc Độc Nha sơn để tránh sự truy đuổi của Song Tôn.

Chẳng riêng Nam - Bắc Thiên Tôn mà tất cả mọi người đều không nghĩ đến việc do thám cái hang ấy. Lý do là vì nó quá nhỏ hẹp, bề ngang chưa đầy một sái tay, trong khi sải cánh của đại ưng rộng gần đến hai trượng. Hơn nữa, cửa hang lại có vài dây leo buông mành và một bụi cỏ rám héo úa nên trông càng nhỏ hẹp.

Sau nữa khắc nghỉ ngơi, Tử Khuê và Thanh Chân thận trọng tiến vào trong hang. Nhưng chỉ được bốn năm trượng thì trước mặt họ hiện ra một cái giếng sâu hun hút, đường kính độ gần trượng. Và đấy cũng là chỗ tận cùng của thạch động.

Tử Khuê mỉm cười ngao ngán vì cái vận mệnh đen đủi dai dẳng theo bám mình. Chàng nghĩ đến chuyện nào thì y như rằng nó sẽ xảy ra.

Tử Khuê quăng một cục đá to bằng nắm tay xuống giếng và lắng tai nghe ngóng. Thật lâu sau, những tiếng va chạm lọc cọc của viên đá mới im bặt. Điều ấy có nghĩa là cái lỗ đen ngòm này có độ dốc song lại sâu khủng khiếp.

Dưới ánh lửa chập chờn của hỏa tập, Thanh Chân nhận ra vẻ thất vọng của Tử Khuê liền vui vẻ bảo:

- Đây đâu phải lỗi của đại ca. Tại con chim mắc dịch làm rơi mấy sợi lông nên chúng ta mới bị mắc lừa.

Tử Khuê nghe lòng được an ủi, thôi không ngượng ngùng chua chát nữa.

Sực nhớ đến đạo Thánh chỉ trong ngực áo, chàng liền lấy ra ném ngay xuống giếng sâu.

Hai người lần ra ngoài, ngồi cạnh xuống cửa hang mà ăn uống, thỉnh thoảng vạch bụi cỏ xác xơ, ngó xuống dưới đất. Họ chờ cơ hội vắng người là nhảy xuống đào tẩu ngay.

Khổ thay, quần hào cứ lần lượt kéo vào, nói cười vui vẻ như là đi xem hội vậy. Qua câu chuyện của họ, Tử Khuê biết rằng đường độc đạo đã được gia cố bằng cách cắm hàng loạt những cành cây theo dọc hai bên, đồng thời còn có một sợi dây chão lớn căng song song nữa. Do đó, ngay cả những kẻ kém khinh công nhất cũng có thể qua được.

Nhưng đầu đường bên trong đã bị hai bang Bích Huyết bang, Chiết Mai bang trấn giữ. Họ không cấm vào nhưng lại tra xét gắt gao những kẻ đi ra để tìm “Diêm Vương quỷ kỳ”. Nhân số ở chốt ấy đông đến hàng trăm.

Nghe vậy, Tử Khuê biết rằng không thể nào đào tẩu ngay lúc này. Chàng suy nghĩ một hồi lâu rồi bảo Thanh Chân: - Chắc Chân muội cũng đã hiểu được hoàn cảnh hiện nay của chúng ta!

Mối thù với Quân Sơn chân nhân ta có thể tạm gác lại, chờ lúc lão ra khỏi Độc Nha sơn. Nhưng ta phải có trách nhiệm phải báo cho Đại Giác thiền sư biết dã tâm của gã phản đồ Lã Hoa Dương. Vì vậy, Chân muội cứ ngồi yên trên này, để một mình ta xuống dưới. Khi cục diện náo loạn, xảy ra hỗn chiến, ta sẽ quay lại rồi cùng nàng thoát đi.

Sắc diện của Trác Thanh Chân u ám hẳn đi. Nàng trầm ngâm đáp:

- Đại ca tính thế cũng phải, tiểu muội xin tuân mệnh. Tiểu muội cũng hiểu rằng chúng ta cùng đồng hành sẽ rất nguy hiểm, dễ bị phe đối phương nhận ra, ngay cả trong lúc hỗn loạn hoặc đã ra đến chân núi Ngũ Nhũ. Cho nên, nếu có biến cố gì thì tiểu muội sẽ về thẳng Quách gia trang ở Hứa Xương mà đợi chàng.

Tử Khuê ngạc nhiên hỏi:

- Sao nàng biết nhà ta ở Hứa Xương?

Thanh Chân mỉm cười tinh quái:

- Nguyệt lão đã chỉ giáo thiếp việc ấy. Con dâu lẽ nào lại không biết nhà mẹ chồng ở đâu.

Tử Khuê vô cùng hoang mang, bực bội. Chàng nghiêm nghị hỏi:

- Thanh Chân! Phải chăng nàng biết trước ta không phải là Bàng Nguyên Hối?

Thanh Chân đỏ mặt gật đầu khiến Tử Khuê càng thêm tức tối vì bị lừa dối. Chàng chua chát bảo:

- Nàng đã là tình nhân của Bàng Nguyên Hối thì đâu thể làm vợ ta được.

Thanh Chân lườm chàng và cười khúch khích đáp:

- Làm gì có việc ấy! Gã họ Bàng mò vào Lôi Đình thần cung để ăn cắp “Hắc Ngọc tiên đào”, kỳ trân của võ lâm, bị lạc vào “Mê Hồn trận” nằm chờ chết. May mà thiếp tình cờ đến đấy, cứu y ra khỏi trận đồ. Sau này, Thần cung phát hiện mất bảo vật, liền cho điều tra quanh vùng, biết được sự hiện diện của Thiết Thủ Thần Tiêu. Họ truy sát và đánh trọng thương Nguyên Hối nhưng không bắt được. Một năm sau, thiếp quay lại hái quả thứ hai thì bị lộ. Lúc ấy họ mới biết Bàng Nguyên Hối vô tội. Tóm lại, thiếp và gã ta chẳng có ân tình gì cả.

Tử Khuê tỉnh ngộ song vẫn còn thắc mắc, chàng cau mày hỏi:

- Vậy sao nàng lại đi tìm ta?

Thanh Chân thẹn thùng kể:

- Do tội ăn trộm tiên đào mà thiếp bị giam cầm trong thạch lao của Lôi Đình thần cung suốt hơn một năm. Đêm rằng tháng bảy vừa rồi, Nguyệt lão giáng mộng, bảo rằng thiếp có duyên tiền định với tướng công. Ông ta kể rõ lai lịch chàng, chỉ vẽ đường đi nước bước để tìm kiếm. Thiếp giật mình tỉnh dậy thì thấy cửa ngục đã mở toang nên tinh rằng thật và làm theo lời Nguyệt lão.

Đôi mắt huyền trong vắt của Thanh Chân không hề có chút gì giả dối khiến Tử Khuê phải nghi ngờ. Chàng rầu rĩ tự nhủ:

- Phải chăng do số ta xui xẻo tận mạng nên trong tình duyên cũng gặp cảnh éo le? Kẻ đa thê nào có sung sướng gì cho cam. Nhưng số phận đã thế thì ta còn phiền muộn làm chi nữa.

Tử Khuê ăn nốt cái bánh bao, uống ngụm nước rồi chia cho nàng một sấp ngân phiếu để phòng thân. Thanh Chân cầm lấy song ánh mắt lộ vẻ ngượng ngùng.

Hai người đều mang theo tay nải nên giờ đây Tử Khuê có thể thay một bộ võ phục khác. Chàng chọn màu đen để thân hình trông có vẻ gầy hơn cái gã đã đoạt Thánh chỉ. Chàng còn cẩn thận xoa ít bụi bẩn lên mặt, cố che bớt chân diện mục. Lộ mặt thật là điều rất nguy hiểm, song lúc này chàng chẳng còn cách nào khác. Cả hai chiếc mặt nạ đã được sử dụng, phải phá hủy để xóa mọi dấu vết liên quan đến việc cướp Thánh chỉ.

Chờ Tử Khuê thay y phục xong, Thanh Chân bùi ngùi nói:

- Tướng công! Thiếp về làm vợ chàng mà không có đến nữa phân bạc làm của hồi môn, lòng vô cùng hổ thẹn...

Tử Khuê nghe lòng bất nhẫn khi thấy gương mặt thiên thần kia u ám, héo úa tựa chiều Đông, liền đưa tay bịt miệng nàng rồi kéo vào lòng an ủi:

- Chân muội đừng nghĩ quẩn! Nhan sắc tiên nga và tấm lòng chân tình của nàng chính là của hồi môn quý nhất thế gian.

Thanh Chân sung sướng áp mặt vào lồng ngực rộng của chàng một lúc lâu. Sau đó, nàng lùi khỏi vòng tay chàng và vui vẻ bảo:

- Tuy lòng dạ tướng công rộng rãi khoáng đạt thế nhưng thiếp vẫn muốn tặng chàng một vật.

Thanh Chân mở túi hành lý nhỏ, lấy ra một quyển sách mỏng, bìa da dê đưa cho Tử Khuê. Bốn chữ “Lôi Đình Bí Lục” bên ngoài đã khiến Tử Khuê choáng váng, bồi hồi.

Từ ngày nhận lời khiêu chiến của Nhạc Cuồng Loạn, lòng Tử Khuê canh cánh không yên. Chàng đã khổ công rèn luyện kiếm pháp để dành phần thắng.

Nhưng Trung Thiên Tôn Trần Ninh Tĩnh nghe được tin ấy, đã gởi thư khuyên chàng không nên đi phó ước. Ông đã từng giao đấu với Cung chủ Lôi Đình thần cung, biết rằng “Lôi Đình kiếm pháp” quỷ dị và oai mãnh tuyệt luân, đáng gọi là tuyệt học đứng đầu tà phái. Nay, Nhạc Cuồng Loạn lại sở hữu đến sáu mươi năm công lực, cao hơn cả Trác Ngạn Chi thưở trước, thì Tử Khuê sẽ khó mà địch lại. Dẫu chàng có muốn dùng “Tảo Thiên kiếm pháp” mà đổi mạng thì cũng thiệt thòi vì lớp cương khí hộ thân của đối phương rất dày.

Tử Khuê đã hứa với nghĩa phụ và những người thân rằng sẽ bội ước, khai tử Hàn Thiếu Lăng, nhưng trong thâm tâm, chàng vô cùng đau đớn, hổ thẹn.

Hơn nữa, chắc gì gã họ Nhạc chịu để yên. Một là gã tưới máu giang hồ, buộc chàng phải xuất hiện. Hai là tìm đến La Sơn quấy nhiễu Trung Thiên Tôn.

Giờ đây, khi có quyển bí kíp này, hiểu được sở học của đối phương thì chàng chẳng còn phải sợ hãi nữa. Tử Khuê không háo danh song cũng không chịu được cảnh rùa rụt cổ, để mặc người khác vì mình mà mang họa.

Gánh nặng ngàn cân trong lòng được trút bỏ, Tử Khuê hoan hỉ phi thường, bất giác tri ân người vợ bất đắc dĩ kia. Chàng xúc động, ôm lấy Thanh Chân mà thủ thỉ:

- Cảm tạ Châm muội! Tặng vật này của nàng quý giá hơn tất cả châu báu trên thế gian.

Thanh Chân mỉm cười sung sướng, ánh mắt long lanh, dào dạt ân tình, trông cực kỳ đáng yêu và xinh đẹp. Tử Khuê bồi hồi cúi xuống hôn lên gò má mịn màng với cả tấm lòng thương mến.

Hai chữ ân tình thường đi đôi với nhau. Do bản năng mà con người luôn yêu mến người đã giúp đỡ mình. Nay, nhờ Thanh Chân nên Tử Khuê có thể ngẩng cao đầu sống trọn kiếp đại trượng phu thì bảo sao chàng không thương nàng cho được. Hơn nữa, nàng lại rất kiều diễm và chân thật.

Lát sau, chờ khi phía dưới không người, Tử Khuê nhanh nhẹn nhảy xuống đất, ung dung đi về hướng mạn Bắc Độc Nha sơn.

Chàng đã để mũ và áo lông cừu lại động khẩu nên chàng không giống cái gã đã đoạt Thánh chỉ. Thật ra, Tử Khuê đã gầy hơn trước vì mẫu thân chàng muốn thế. Sau khi nhận được thư của Trung Thiên Tôn, Kỹ nương vô cùng lo sợ, liền bắt con trai ăn uống kiêng khẹm, chẳng chút dầu mỡ, ngày ngày uống thuốc đắng nghét. Bà mong Tử Khuê gầy đi thật nhanh, để chẳng có gì giống gã Hàn Thiếu Lăng to béo kia nữa.

Sức mạnh của tình mẫu tử quả là mãnh liệt, rốt cuộc, chàng đã sụt đi hơn chục cân. Tất nhiên, phải kể đến công lao của Dịch Tái Vân, những đêm ái ân say đắm cuồng nhiệt đã khiến Tử Khuê chẳng thể nào không giảm trọng.

Đi được vài bước thì Tử Khuê chợt nhìn thấy chiếc nón rộng vành cũ kỹ nằm lây lất. Chàng mừng rỡ nhặt lên, đội lên đầu sau khi nối lại dây quai bị đứt. Có lẽ, trong lúc vội vã tiến vào hậu sơn, kẻ nào đó đã quẳng chiếc nón chết tiệt, đứt quai không đúng lúc.

Tuy bị bắt buộc phải lộ mặt thật, song Tử Khuê vẫn nom nớp lo sợ. Chiếc nón này sẽ giúp chàng che khuất nửa trên dung mạo. Bang chúng hai bang Chiết Mai và Bích Huyết vẫn ráo riết truy lùng hai kẻ cướp Thánh chỉ, song song vớii việc truy tìm linh kỳ.

Trên đường đi, Tử Khuê đã gặp vài tên đệ tử của phe đối phương. Nhưng chúng đã không hề nhận ra cái gã áo đen mép không râu kia là kẻ mình đang săn đuổi.

Tử Khuê vào đến nơi hội tụ của hai phe chính tà, chưa kịp gặp hồi đồng võ lâm thì xảy ra quái sự.

Phía Bắc Độc Nha sơn, bên kia bờ vực thẳm là ngọn núi Kính Sơn cao vút, đầy tùng bách rậm rạp. Nhưng lúc này, mọi người đều quay lưng về hướng ấy, chỉ chú ý đến những hang động trên núi Độc Nha sơn. Do đó chẳng ai phát hiện ra một cánh chim to lớn đang từ trên núi Kính Sơn lao thẳng xuống.

Người ta chỉ nhận ra khi Trung Nguyên Thần Tiễn Phan Nguyên Kết ré lên đau đớn vì phải cắm ngập mũi tiễn đao. Sau đó, con thần ưng bốc lên cao, lượn lờ trên đầu quần hùng. Toàn trường nhốn nháo, ngẩng cao đầu, cố nhìn cho rõ con người nhỏ bé đang chiễm chệ trên lưng chim ưng.

Té ra Phi Điểu Thần Ma Lục Doãn Ngôn chưa chết. Lão khỉ già ấy còn cười khanh khách, nói vọng xuống:

- Lão phu đã tận số đâu mà chư vị đồng đạo võ lâm đến điếu sớm thế?

Rồi lão đổi giọng, chửi rủa Trung Nguyên Thần Tiễn um sùm:

- Này lão họ Phan khốn khiếp kia. Lão phu nào phải kẻ thù cướp vợ, giết cha mà ngươi nỡ giương cung bắn ta suýt chết? Đã thế thì lão phu sẽ bay đến Hàm Dương bắt vợ con ngươi, lột quần áo mang ra giữa chợ mà phơi. Ai đến ngắm con gái ngươi thì lão phu thu hai lượng bạc, còn ai dám ngắm nhìn mụ vợ già của ngươi thì được thưởng một lượng. Vị chi lão phu cũng còn lời một nửa.

Cách báo thù ngộ nghĩnh của Phi Điểu Thần Ma đã khiến quần hùng phì cười. Nhất là khi Hồ Đồ Thần Thương hý hửng lên tiếng:

- Lão đại thúc sai rồi! Tiểu diệt sẵn sàng nhìn Phan phu nhân năm lần, sau đó ngắm tiểu thư hai lần, là vẫn còn dư một lượng để uống rượu.

Hàng ngàn gã ma men nghe nhắc đến uống rượu thì hai mắt sáng lên, ngoác miệng cười hô hố, khen ngợi tài làm toán của Khổng Đam.

Trung Nguyên Thần Tiễn vô cùng nhục nhã, quên cả nỗi đau đớn của vết thương, thét lên thóa mạ:

- Tổ cha lão họ Lục. Lão có giỏi thì xuống đây.

Lục Doãn Ngôn cười khanh khách:

- Cảm tạ lời mời mọc của ngươi. Tiếc rằng lão phu phải nhanh chân đến Hàm Dương kẻo trời tối mất.

Phan Nguyên Kết vừa lo vừa sợ, định nói gì đấy thì bị Võ lâm Minh chủ Âu Dương Mẫn cướp lời:

- Lục lão huynh! Tiểu đệ xin mua “Diêm Vương quỷ kỳ” với giá ngàn lượng vàng.

Nam - Bắc Thiên Tôn không hề xem vào, định bụng sẽ cướp lấy linh kỳ từ tay Âu Dương Mẫn nếu Lục Doãn Ngôn chịu bán cho hắn ta.

Nào ngờ, Phi Điểu Thần Ma chẳng tham vàng bạc, cười đáp:

- Lão phu sắp xuống lỗ, cần quái gì nhiều vàng đến thế. Lão phu cướp linh kỳ vì muốn đùa giỡn với lão mũi trâu Vân Thiên Tử. Nay, cây cờ chết tiệc chỉ mang lại phiền phức, lão phu sẽ hoàn lại cho Hội đồng Võ lâm.

Dứt lời, Lục Doãn Ngôn phóng thẳng “Diêm Vương quỷ kỳ” vào vị trí của sáu vị Chưởng môn phái Bạch đạo. Vân Thiên Tử vui mừng khôn xiết, tung mình chụp lấy.

Phần Phi Điểu Thần Ma thì cười dài và thúc đại ưng bay đi mất dạng. Lão ta vừa khuất bóng sau ngọn Kính Sơn thì ở đây lục phái đã bị bọn tà ma vây chặt.

Quân số phe Bạch đạo hiện diện ở Độc Nha sơn chỉ độ hai trăm, chưa bằng một nửa đối phương. Tuy nhiên, Thiếu Lâm không xa chốn này và trong chốc lát Đại Giác thiền sư có thể gọi hàng trăm tăng lữ đến tiếp viện. Vấn đề ở chỗ ai là người đủ sức phá vây, vượt qua được lực lượng đang trấn giữ đầu trong đường độc đạo.

Nhưng hiện tại, sáu phái chưa cần đến viện binh vì đang có trong tay một vũ khí rất lợi hai là sự toàn vẹn của “Diêm Vương quỷ kỳ”.

Chính vì thế mà Vân Thiên Tử khẳng khái nói với Bắc Thiên Tôn:

- Hội đồng Võ lâm sẽ tạm thời bảo quản linh kỳ. Phùng tiền bối cứ việc thượng kinh xin một đạo Thánh chỉ khác. Lúc ấy, bần đạo sẽ cung kính dâng cờ.

Phùng Thịnh Đoan cười nhạt gằn giọng:

- Vân Thiên Tử! Năm xưa ngươi vẫn thường gọi bần đạo là sư thúc, sao giờ lại làm khó nhau như vậy? Ngươi cũng biết rõ bần đạo đã được ban Thánh chỉ rồi cơ mà? Chẳng qua tại con chim cắt và cái gã điên chết toi kia mà thôi.

Bang chủ Cái bang Thất Bổng Cái Thạch Kính Tường cười khanh khách đỡ lời Vân Thiên Tử:

- Nếu Phùng tiên trưởng ngại đường xa mỏi gối thì cứ tập trung bắt cho được cái gã điên ấy mà thu hồi Thánh chỉ. Gã ta đâu có cánh để bay khỏi chốn này.

Nào phải Bắc Thiên Tôn không muốn thế, nãy giờ lão đã lệnh cho mấy trăm đệ tử ráo riết truy lùng mà chẳng thấy đôi trai gái quái dị ấy ở đâu cả. Họ Phùng bực bội nói:

- Bần đạo chẳng hiểu vì sao bọn tiểu bối các người chẳng nể mặt tiền nhân, một mực cản đường bần đạo. Đã thế thì bần đạo cũng chẳng nể nang gì nữa, quyết dùng võ lực để đoạt linh kỳ. Nếu ngươi hủy cờ, bần đạo sẽ thượng kinh tâu với thiên tử rằng sáu phái khi quân kháng chỉ. Lúc ấy thì hậu quả thế nào chắc các ngươi đã rõ.

Lời hăm dọa kia rất có uy lực vì đương kim thánh thượng là người nhu nhược, u mê, dễ dàng bị tác động bởi những lời xàm tấu. Đấy là chưa kể đến việc sáu phái sẽ chết như rạ trong cuộc chiến này. Chẳng lẽ họ phải hy sinh quá sớm bởi một chút nghi vấn của Trung Thiên Tôn Trần Ninh Tĩnh?

Vân Thiên Tử do dự bất quyết, quay sang bàn bạc với năm vị Chưởng môn nhân kia. Những người ấy cũng cùng tâm trạng như Vân Thiên Tử nên Hội đồng Võ lâm sắp sửa đi đến quyết định nhượng bộ. Bất ngờ Thiết Đảm Hồng Nhan Tống Thụy bước đến nghiêm trang bảo:

- Nay Hội đồng Võ lâm đã không có ý bảo vệ “Diêm Vương quỷ kỳ” thì xin hãy trả lại cho tiểu nữ.

Nàng có quyền nói như thế vì là người đã trao cờ báu lại cho họ.

Lục vị Chưởng môn nhân hổ thẹn đến mức chẳng nói nên lời. Vân Thiên Tử thở dài nhẫn nhục, run rẫy trả linh kỳ lại cho Tống Thụy. Ông chưa kịp nói vài câu tạ lỗi thì Thiết Đảm Hồng Nhan đã rút gươm chém rách bươm lá cờ lụa.

Toàn trường kinh hãi ồ lên tiếc rẻ. Nhưng Nam Thiên Tôn lại ngửa cổ cười dài:

- Tống nha đầu quả chẳng hổ danh Thiết Đảm. Song ngươi hành động vô ích khi phá hủy Quỷ kỳ. Uy lực của cờ báu nằm trong cán cờ chứ không phải là vuông lụa kia. Và cán cờ lại được làm huyền thiết pha đồng không có vũ khí nào chém gãy nổi.

Tống Thụy không tin vung kiếm chặt thử cái khúc ống thép đen trùi trũi.

Quả nhiên, lưỡi kiếm của nàng dội ra và cán cờ chẳng hề suy xuyển.

Nàng chột dạ nhủ thầm:

- Vực thẩm quá xa và dẫu ta có ném cán cờ xuống đấy thì trước sau Song Tôn cũng lấy được. Ta phải tìm cách khác mới xong.

Tống Thụy cười khẩy, cao giọng:

- Ít nhất thì ta cũng tạm thời ngăn cản được việc ai đó sẽ dùng linh kỳ khống chế những người đang hiện diện chốn này.

Quả đúng là Song Tôn và Âu Dương Mẫn cùng có âm mưu ấy. Cả hai đều biết câu thần chú điều khiển “Diêm Vương quỷ kỳ” và sẽ không bỏ qua cơ hội sử dụng ngay, để toàn thành bá nghiệp trong phút chốc.

Nay lá cờ lụa tan nát, chưa thay lá mới thì Quỷ kỳ bị vô hiệu hóa, không đem lại ưu thế tất thời cho người đoạt được. Tống Thụy có thể an ủi rằng mình đã làm hết sức, vì dẫu cho cờ báu có lọt vào tay tà ma thì đó cũng là kiếp vận của võ lâm. Nàng là Thiết Đảm Hồng Nhan chứ không phải “Thiết Đảm Hoàng Ngưu”, nên hiểu rằng không đủ sức mang Quỷ kỳ đào thoát khỏi nơi “thiên la địa võng” này.

Tống Thụy quyết dùng bảo vật để gầy cuộc tương sát giữa hai phe địch.

Song nàng còn phân vân, không hiểu nên trao Quỷ kỳ cho phe nào để có hậu hỏa nhỏ nhất? Cuối cùng, Thiết Đảm Hồng Nhan nghiên về phía Nam - Bắc Thiên Tôn. Nguyên nhân vì họ đã quá già, có tác quai tác quái cũng chẳng được bao năm. Hơn nữa, Âu Dương Mẫn là hóa thân của tên ác ma Huyết Mai hội chủ, nàng khó mà lường hết hậu quả.

Trong lúc nàng suy nghĩ, Song Tôn và Âu Dương Mẫn đều lên tiếng phủ dụ, mong nàng trao cán cờ Quỷ kỳ cho mình. Kẻ thì nhắc đến mối quan hệ giữa Võ lâm Tam tôn, kẻ dùng vàng bạc. Tống Thụy đang đứng gần sáu vị Chưởng môn nhân Bạch đạo nên chẳng ai dám đường đột tấn công nàng mà cướp báu vật.

Không người nào để ý đến việc Thiếu Lâm Thần Côn Lã Hoa Dương đang chậm rãi tiến đến gần Thiết Đảm Hồng Nhan. Gã là bạn đồng hành với nàng mấy hôm nay nên đến để tương trợ, cố vấn là phải đạo.

Nhưng khi họ Lã sắp tiếp cận Tống Thụy thì từ trên ngọn cây du núi cổ thụ cách hiện trường mười trượng, phía sau lực lượng Bạch đạo, có tiếng người cấp bách vọng xuống:

- Tống sư muội hãy tĩnh tâm, gã Lã Hoa Dương là nội gián của phe địch.

Gã đã vì nữ sắc mà nhận lời trộm Dịch Cân Kinh.

Toàn trường chấn động trước lời tố cáo ấy, nhất là Lã Hoa Dương, và các tăng lữ Thiếu Lâm tự. Họ Lã chết điếng người, chưa kịp chửi rủa hay biện bạch kẻ đã lật tẩy mình thì Đại Giác thiền sư đã nghiêm trang ra lệnh:

- Thập Bát La Hán! Mau bắt gã phản đồ!

Ông đã nhận ra giọng nói của Vu Diệp chân nhân, hay Hằng Thiếu Lăng, kẻ vừa là sư diệt của Cửu Hoa Thánh Y, vừa là nghĩa tử của Trung Thiên Tôn. Hơn nữa, chàng trai ấy đã từng liều mình vì chính nghĩa thì không có lý do gì để vu khống Lã Hoa Dương.

Việc Võ Đương Thần Kiếm Mộ Duy Lộ bị Âu Dương Mẫn dùng nữ sắc mê hoặc đã là cái gương trước mắt. Mua chuộc đám nhân tài Bạch đạo trẻ tuổi là thủ đoạn mà phe Hắc đạo vẫn thường sử dụng trong suốt ngàn năm của võ lâm Trung Nguyên.

Lã Hoa Dương không ngờ sư bá mình lại tin vào lời tố cáo của kẻ lạ mặt và có thái độ rất quyết liệt. Muốn chạy cũng không được, gã liền quỳ xuống khóc lóc kêu oan.

Đại Nghiêm thiền sư, thủ tọa của La Hán đường chính là sư phụ của Lã Hoa Dương. Ông đau lòng và tủi nhục khôn xiết, lạnh lùng điểm huyệt đồ đệ, phong tỏa chân khí rồi cho trói lại. Trong hai mươi năm dạy dỗ Lã Hoa Dương, thiền sư phát hiện rằng gã là kẻ rất háo sắc nên đã nhiều lần nhắc nhở, giáo huấn. Ông không cấm gã vào kỹ viện và chỉ yêu cầu gã đừng đụng đến bọn con gái nhà lành, gây tai tiếng cho chùa Thiếu Lâm. Nào ngờ, giờ đây gã lại vì nữ sắc mà cam tâm phản lại sư môn, làm ô nhục tông môn.

Kể lể thỉ lâu nhưng thật ra việc bắt trói tên phản đồ xảy ra rất chóng vánh. Và ngay sau đó, sự cố ấy bị lãng quên vì câu nói thứ hai của gã hắc y bịt mặt trên ngọn cây. Người ta đã đoán ra gã là Cầu Nhiêm đại hiệp Hàn Thiếu Lăng, kẻ duy nhất gọi Thiết Đảm Hồng Nhan là sư muội.

- Tống sư muội hãy bán “Diêm Vương quỷ kỳ” cho Âu Dương Minh chủ lấy vạn lượng vàng. Bắc Thiên Tôn đã gả con gái cho một vương tử Mông Cổ nên không thể để báu vật lọt vào tay lão ta được.

Phùng Thịnh Đoan tái xanh mặt mũi khi bí mật chết người của lão bị vạch trần trước mặt thiên hạ. Bắc Thiên Tôn cố định thần quát mắng:

- Phế ngôn! Bần đạo quyết không tha cho kẻ ngậm máu phun người!

Nhưng lão ta chẳng có thời gian làm việc ấy vì Tống Thụy đã bất ngờ phóng mạnh đoạn cán cờ về phía Âu Dương Mẫn ở hướng Tây và miệng nói lớn:

- Giao hàng trước, lấy tiền sau!

Âu Dương Mẫn vui mừng khôn xiết, thò tay chụp lấy bảo vật. Sắc diện lão cực kỳ nghiêm trọng vì lão hiểu rằng Nam - Bắc Thiên Tôn sẽ không để yên.

Quả nhiên, Nam Thiên Tôn Từ Tôn Chiến ngửa cổ hú vang, báo hiệu cho Trịnh Bá Nghiêm và Dương Tố Vy chặn đường rút lui của Âu Dương Mẫn. Sau đó, Song Tôn cùng Quân Sơn chân nhân lao đến tấn công.

Ở sa trường thì quân đi trước, tướng theo sau, nhưng chốn giang hồ thì ngược lại, Bắc Thiên Tôn Phùng Thịnh Đoan chọn Âu Dương Mẫn, Nam Thiên Tôn đối đầu với Thiếu chủ Xoa Lạp cốc Nhạc Cuồng Loạn, còn Quân Sơn chân nhân so tài với một lão nhân tóc bạc, mặt vàng, có lẽ là hộ pháp của Xoa Lạp cốc.

Phần Thần Đao bảo chủ Tần Minh Viên lãnh nhiệm vụ phá vây, mở đường cho toàn quân thoát ra. Lão và đám đệ tử tinh nhuệ dưới trướng phóng tay chém giết, nhanh chóng đẩy lùi phe đối phương. Những thanh đao Nhật Bản dài nặng và sắc bén đã chiếm ưu thế hoàn toàn trước đám đao kiếm tầm thường. Hơn nữa, để tử hai bang Chiết Mai, Bích Huyết rất ô hợp, được tuyển mộ vội vả nên không thể sánh với những gia đinh Thần Đao bảo, kẻ đã nhiều năm khổ luyện đao pháp thượng thừa.

Thực ra, Bích Huyết bang cũng có một số nhân thủ xuất xứ từ Thần Đao đường, tất bọn đệ tử của Thất Hoàn Đao Hướng Vụ Quan. Tuy nhiên, đám ấy đang cùng Hướng lão trấn giữ đầu đường độc đạo, tạm thời không tham chiến.

Tần Minh Viên lại thần dũng tuyệt luân, một mình đương cự với hai Bang chủ Chiết Mai, Bích Huyết mà vẫn chiếm thượng phong. Cây kim thương của Trịnh Bá Nghiêm thì còn kha khá chứ trường kiếm của Dương Tố Vy thì không chịu nổi đường đao vũ bão của họ Tần. Hộ khẩu tay hữu của nàng đã rướm máu sau những lần vũ khí chạm nhau.

Tiếng thép rền rĩ, tiếng kêu rên đau đớn vang vọng khắp nơi khiến lòng kẻ tu hành phải xót xa. Nhưng cũng như lần trước ở Kỹ gia trang, sáu phái Bạch đạo lại khoanh tay đứng nhìn cảnh máu chảy đầu rơi. Người tự xưng là chính phái thường thụ động trước việc tiêu diệt cái ác. Đấy là nguyên nhân sâu sa khiến giang hồ luôn nổi sóng, thanh bình chẳng được mấy năm.

Thấy phe địch tiến nhanh như sóng dữ, Lã Bất Thành và Hồ Đồ Thần Thương vội đi vòng ra hướng tây, hỗ trợ phe nhà. Kích pháp và thương pháp của hai gã này đều rất lợi hại nên đã cầm chân được Thần Đao bảo chủ.

Tần Minh Viên giận dữ múa tít bảo đao, tả xung hữu đột giữa vòng vây của bốn kẻ hậu sinh, song không sao tiến thêm được bước nào nữa.

Tiền phương là vậy, giờ chúng ta quay lại hậu phương để xem cục diện ra sao. Tất nhiên tình thế ở đây gây cấn và khốc liệt hơn tiền trận bội phần vì tập trung toàn cao thủ lẫy lừng.

Bắc Thiên Tôn Phùng Thịnh Đoan căm hận Âu Dương Mẫn phỗng tay trên bảo vật, nên quyết giết chết cho được đối phương mà đoạt lại Quỷ kỳ. Lão tự tin có thể đắc thủ trong vòng trăm chiêu bằng lối đánh vũ bảo, cả vú lấp miệng em. Sau hơn chục chiêu thăm dò, Phùng lão đã dồn tám phần công lực vào cây “Bạch Vân ngân kích” xuất chiêu “Vân Vụ Cuồng Phi”. Lão khổ luyện kích pháp hơn bảy mươi năm, đạt mức đại thành, nên cây sắt mạ bạc năng ba mươi cân trở thành nhẹ như làm bằng gỗ tùng vậy. Đường kích vun vút xé gió, kích ảnh mịt mờ tựa mây mù, ào ạt thổi về phía kẻ địch.

Nhưng Âu Dương Mẫn là truyền nhân tình cờ của Tam Tuyệt Thần Quân Đồng Nhật Tú, kiếm pháp và công phu “Thiết Sa chưởng” đều lão luyện, nên chẳng thể dễ bị khuất phục. Lão vung gương đánh chiêu “Vạn Hại Vô Xâm”, kiếm ảnh loang loang dưới ánh dương quang mùa Đông nhàn nhạt.

Đường kiếm của Âu Dương Mẫn vẫn nhanh hơn đường kích của Bắc Thiên Tôn một chút. Lý do là kiếm vốn nhẹ hơn, ngắn hơn kích, và Âu Dương Mẫn lại có đến gần hoa giáp chân khí, nhờ thụ dụng kỳ trân dưới vực sâu.

Những nhát gươm của lão nhanh lẹ phi thường, đón đỡ được hầu hết đòn thế của Bắc Thiên Tôn. Đồng thời, bàn tay tả rắn như thép cũng góp phần không nhỏ trong việc phòng thủ. Nó ung dung đánh bạt mũi kích sắc bén mà chẳng hề hấn gì. Hai mươi năm rèn luyện “Thiết Sa chưởng” đã tạo nên kỳ tích ấy.

Đương nhiên là Âu Dương Mẫn phải thoái lùi vài bước trước đòn tấn công mãnh liệt của kẻ có công lực thâm hậu hơn. Nhưng lão đang muốn rút ra ngoài nên việc này hoàn toàn có lợi.

Bắc Thiên Tôn hậm hực dồn thêm chân khí xuất chiêu “Thiên Xà Khát Huyết”, ngân kích hóa thành ngàn bóng ảnh độc xà lay động mềm dịu khác thường của nửa trên ngân kích. Nếu cán kích bằng gỗ như của đám Sơn Đông mãi võ thì chẳng có gì đáng nói. Song ngân kích của Bắc Thiên Tôn bằng thép ròng mà mềm mại đến mức ấy thì mới đáng gọi là chuyện kinh hãi thế tục.

Âu Dương Mẫn thầm chột dạ trước chiêu kích kỳ tuyệt của đối phương, hiểu rằng nếu trực diện đối phó sẽ thiệt thân. Lão nghiến răng đề khí bốc lên cao hai trượng để tránh né rồi gian xảo sa xuống để tấn công.

Kết quả của đòn thế ấy thế nào chúng ta cứ tạm gác lại và quay sang trận đấu giữa Nam Thiên Tôn với Nhạc Cuồng Loạn.

Từ Tôn Chiến cũng là tổ sư trong nghề đánh thương, một loại trường binh. Võ lâm thường dùng câu “Nam thương Bắc kích” để xưng tụng Song Tôn. Do đó dù Nhạc Cuồng Loạn có tròn hoa giáp công lực cũng chưa phải là đối thủ của lão bất tử họ Từ tu vi thâm hậu hơn một bậc.

Tuy nhiên, vị Thiếu chủ của Xoa Lạp cốc hơn Âu Dương Mẫn ở công phu “Lôi Đình chưởng pháp”, tuyệt kỹ khắc tinh của mọi loại vũ khí dài. Tầm đả thương của “Phách Không chưởng” là trên dưới một trượng, xa hơn chiều dài của trường thương cộng với cánh tay. Cho nên, Nhạc Cuồng Loạn không bị hạ phong như Âu Dương Mẫn và có thể ngang nhiên cầm cự với Nam Thiên Tôn.

Riêng bản thân pho “Lôi Đình kiếm pháp” cũng là một tuyệt học hãn thế, hùng mạnh tuyệt luân, song không kém phần hiểm ác. Kiếm kình vù vù như sấm vọng, kiếm ảnh mịt mờ, trùng điệp, thấp thoáng những sợi tơ ngoằn ngoèo, mảnh mai nhưng bội phần đáng sợ. Trong thiên hạ, chỉ mình Trung Thiên Tôn Trần Ninh Tĩnh là phá giải được loại kiếm pháp kỳ lạ ấy.

Tuy nhiên, khi so tài với bậc cao thủ lão thành như Nam Thiên Tôn thì “Lôi Đình kiếm pháp” chưa đủ để hóa thành con rồng vàng nhe nanh múa vuốt, chực chờ vồ lấy chú dê non.

Nhạc Cuồng Loạn cắn răng đối phó, đường gươm nhanh tự sao sa, thép chạm thép vang rền chát chúa. Nghe hộ khẩu đau rát, Nhạc Cuồng Loạn tự hiểu sức mình còn kém kẻ địch, và nếu cứ ở ngoài thì sẽ bị thiệt thòi.

Gã mím môi, vỗ liền ba chưởng “Lôi Đình”, đồng thời múa kiếm che thân, xông vào nhập nội. Đánh xa là sở trường của vũ khì dài nên Nam Thiên Tôn chẳng dại gì để đối thủ tiếp cận mình. Lão giảo hoạt đảo bộ lùi chếch sang mé tả để tránh chưởng và giữ khoảng cách cần thiết. Sau đó, Nam Thiên Tôn tràn đến như thác lũ, thương ảnh cuồn cuộn, thương kình xé gió, khí thế cực kỳ hung hãn.
Nhạc Cuồng Loạn chưa giác ngộ kiếm đạo nên khó có thể đối phó với những đòn ngàn cân của cây kim thương nặng trịch. Yếu quyết “tứ lượng bát thiên côn” chẳng phải ai cũng nắm được. Vả lại, yếu quyết ấy sử dụng trong quyền thuật thì dễ nhưng khó khăn trong khi sử dụng vũ khí.

Dù là kẻ kiêu ngạo song Nhạc Cuồng Loạn chẳng dám liều mạng đương đầu với con bão khủng khiếp ấy. Gã lập tức thi triển một loại bộ pháp ảo diệu, trong chớp mắt đã hoán vị sang tả, thoát khỏi hiểm nguy. Và từ vị trí mới, Nhạc Cuồng Loạn ập vào phản kích, kiếm kình chấn động không gian, sát khí lạnh hơn gió bấc. Gã tinh thông tuyệt học hai nhà Lôi Đình, Xoa Lạp nên chiêu thức bác tạp, biến hóa vô song, khiến Nam Thiên Tôn phải chột dạ, không dám hấp tấp nữa.

Trận chiến giữa Quân Sơn chân nhân và lão mặt vàng của Xoa Lạp cốc cũng ở thế quân bình. Có thể võ công Đường Mai Giản hơn đối phương một bậc, song phép đánh kiếm thuẫn của vị đại hộ pháp Xoa Lạp cốc rất điêu luyện, công thủ vẹn toàn nên họ Đường khó mà thủ thắng ngay được.

Tuy nhiên, số thương vong của đám đệ tử Song Tôn ngày một tăng, chúng chết như rạ trước hai lực lượng kiêu dũng của Thần Đao bảo và Xoa Lạp cốc.

Trận địa đã chuyển dần ra ngoài, vì nhờ sự hỗ trợ của Thập Đại Hộ Vệ Tổng đàn Võ lâm mà Thần Đao bảo chủ đã đẩy lùi được Trịnh Bá Nghiêm.

Mười gã hộ vệ thân tính của Âu Dương Mẫn được đào tạo chu đáo, bản lĩnh rất cao cường. Chúng lại có được sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý nên càng bội phần lợi hại. Do đó, chỉ bốn tên cũng đủ để vây khốn Lã Bất Thành hoặc Hồ Đồ Thần Thương. Hai gã còn lại liên thủ với Tần Minh Viên đánh cho Trịnh Bá Nghiêm và Dương Tố Vy phải lùi dài.

Đau lòng trước sự tổn thất nhân mạng của phe nhà, Nam Thiên Tôn liền nói vang, ra lệnh cho Thất Hoàn Đao đưa quân vào tiếp viện. Hướng Vụ Quan chỉ để lại hai chục tay đao trấn giữ lối ra, còn bao nhiêu đưa vào tham chiến.

Nhờ vậy mà thế trận tạm cân bằng.

Phần phía Nam - Bắc Thiên Tôn thì ra sức quyết thắng, cố đắc thủ càng sớm càng tốt. Phần vì cục diện, phần vì tự ái của kẻ già nua.

Âu Dương Mẫn và Nhạc Cuồng Loạn đều có hoa giáp công lực, võ nghệ siêu phàm, chẳng dễ gì bị khuất phục. Dù thủ nhiều hơn công, song họ vẫn bảo toàn được tính mạng lui dần ra ngoài theo đúng kế hoạch.

Hội đồng Võ lâm cùng hai trăm đệ tử đứng nhìn cuộc chiến khốc liệt mà ngao ngán. Họ bị chấn động bởi bản lĩnh của bọn ma đầu cũng như đám thủ hạ của Thần Đao và Xoa Lạp. Người tu hành luyện võ công chính phái thượng thừa nhưng thiếu thủ đoạn và kinh nghiệm, chẳng thể địch lại những kẻ quen chém giết.

Lục vị Chưởng môn nhân hổ thẹn vì thái độ nhu nhược của mình nên chẳng dám thắc mắc khi Hàn Thiếu Lăng không đến vấn an. Chàng trai thần dũng ấy đã cùng Thiết Đảm Hồng Nhan ẩn vào chỗ nào chẳng rõ.

Cuộc hỗn chiến kéo dài đến giữa giờ Tỵ thì trận địa di chuyển đến Tiêu Sơn. Số tử vong của hai bên đã gần hơn trăm. Xác người rải rác khắp nơi, mùi máu tanh bốc lên nồng nặc. Minh chủ Âu Dương Mẫn và Nhạc Cuồng Loạn chỉ bị thương nhẹ, song họ vẫn kiên cường chống cự. Do bị thiệt hại ít hơn nên số cao thủ Xoa Lạp cốc cùng Thần Đao bảo đã xông vào hỗ trợ chủ tướng, khiến Nam - Bắc Thiên Tôn và Quân Sơn chân nhân phải phân tâm không ít.

Câu “gừng càng già càng cay” chỉ đúng trong giới hạn nào đó. Người ở trên tuổi tám mươi thì gân cốt lão hóa, không còn cường kiện như kẻ trẻ trung hơn. Nam - Bắc Thiên Tôn trong thời gian gần đây lại miệt mài với những thân xác nóng bỏng, mỹ miều, tặng vật của Mông Cổ, sức lực có phần giảm sút.

Ngược lại, Nhạc Cuồng Loạn đang tuổi thanh xuân, còn Âu Dương Mẫn mới trên sáu chục mà đã kiêng tửu sắc. Nếu vị Huyết Mai hội chủ mà hiếu sắc thì ả con nuôi Đông Nhạc Tiên Hồ Dịch Tái Vân khó mà yên thân. Lão chỉ đam mê có hai thứ là danh vọng và tiền bạc.

Âu Dương Mẫn khấp khởi mừng thầm vì chỉ còn cách đường thoát thân mười mấy trượng. Lão và Nhạc Cuồng Loạn sẽ sử dụng đến vũ khí bí mật tối lợi hại của mình để phá vây đào tẩu. Nam - Bắc Thiên Tôn sẽ đuổi theo nên số phận của hai lực lượng Thần Đao và Xoa Lạp cốc sẽ an toàn. Họ mạnh hơn phe đối phương rất nhiều. Với dự hỗ trợ của vài đệ tử kiên dũng, Âu Dương Mẫn ngang nhiên cầm cự với Bắc Thiên Tôn và lùi dần theo bước tiến của tiền quân.

Thất Hoàn Đao và tám mươi học trò đã không cầm chân được Thần Đao bảo và Thập Đại Hộ Vệ.

Lát sau, Âu Dương Mẫn bất ngờ thốt lên:

- Đi thôi!

Rồi lão tung mình nhảy ngược về phía sau, quay mình đào tẩu. Nhạc Cuồng Loạn cũng giáng mạnh một chưởng “Lôi Đình” thần tốc, đẩy lùi Nam Thiên Tôn rồi chạy theo đồng đảng.

Nam - Bắc Thiên Tôn không ngờ đối phương lại bỏ mặc thuộc hạ mà thoát thân, trái với lẽ thường tình. Họ đuổi theo sát rạt, hy vọng hai con mồi bị ngăn lại tại con đường độc đạo. Vị trí này cực kỳ hiểm yếu, lại đang dày đặc cao thủ của Hướng Vụ Quan. Lực lượng phía bên ngoài của Song Tôn đã bị ép đến tận mép vực, chủ yếu là phong tỏa đường ra.

Nào ngờ khi sắp chạm phòng tuyến cuối cùng, Âu Dương Mẫn tung một quả cầu đen kịt, cỡ lớn bằng nắm tay trẻ nhỏ vào giữa hàng ngũ địch. Cái vật tròn tròn ấy phát ra một tiếng nổ kinh thiên động địa và tỏa khói mịt mù.

“Bạt Sơn cầu” của Liệt Hỏa Thần Quân lừng danh thiên hạ đã lâu, là thứ hung khí mà ai nghe nhắc tới cũng phải rùng mình. Nó có thể làm lỡ núi hoặc giết hàng trăm người một lúc.

Sau khi Liệt Hỏa Thần Quân tạ thế thì “Bạt Sơn cầu” cũng biệt tăm.

Không hiểu sao Âu Dương Mẫn lại tìm ra được. Nếu lão có chừng chục trái thì việc làm bá chủ võ lâm dễ như trở bàn tay.

Lần tái xuất này của “Bạt Sơn cầu” đã khiến mọi người phải kinh tâm táng đởm. Thi thể của những kẻ gần nhất bị xé rách, thịt xương văng tứ tán, kẻ ở xa hơn một chút thì bị gục ngã bởi sức ép hoặc những mãnh vụn thép chứa trong quả cầu. Trong bán kính hai trượng, không một ai toàn vẹn cả.

Tiếng nổ kinh hoàng ấy đã khiến toàn trường bắn mình ngơ ngác, hoặc sợ hãi chẳng thiết đánh nhau nữa, nhất tề đình thủ trong một lát. Ngay Nam - Bắc Thiên Tôn cũng phải chậm chân, không hăng hái truy đuổi như trước.

Đường thoát ra rộng mở, Âu Dương Mẫn lao vút đi, xông qua đám khói mây, hướng về phía đầu đường xuyên vực. Năm sáu trượng chẳng là bao đối với kẻ có khinh công như lão.

Âu Dương Mẫn chợt nghe phía sau có tiếng y phục lất phất đinh ninh rằng Nhạc Cuồng Loạn đang bám sát. Nào ngờ họ Nhạc lại lên tiếng:

- Minh chủ hãy coi chừng!

Âu Dương Mẫn chưa kịp phản ứng hai huyệt Tâm Du và Thần Đường trên mé lưng trái bị điểm trúng. Hai huyệt ấy thuộc Kinh túc Thái Dương Bàng quang, nằm ngay sau tim. May mà Âu Dương Mẫn khổ luyện “Thiết Sa thần công” đã hai chục năm nay nên da dày thịt chắc, không chết bởi đòn ám toán hiểm độc kia. Tuy nhiên, toàn thân lão bị tê tái, chân khí gián đoạn và tứ chi bủn rủn.

Âu Dương Mẫn lảo đảo song vẫn tỉnh táo nhận ra đối phương đã đoạt mất khúc cán cờ “Diêm Vương quỷ kỳ” mà lão đang giắt ở thắt lưng. Và cái gã mặc áo lông cừu trắng ấy là kẻ đã đoạt mất Thánh chỉ của Bắc Thiên Tôn.

Âu Dương Mẫn bàng hoàng tuyệt vọng khi thấy đối phương nhảy môt bước xa đến gần ba trượng, một thành tựu khó mà tin nổi. Nghĩa là Nhạc Cuồng Loạn chẳng có hy vọng đuổi kịp gã ta. Sự tình đúng như dự đoán của Âu Dương Mẫn, Nhạc Cuồng Loạn đã dừng lại bên bờ vực, không thèm làm chuyện vô ích, toi công.

Chân khí đã thông suốt sau một khoảnh khắc ngắn ngủi, Âu Dương Mẫn lướt đến cạnh đồng đảng trẻ tuổi mà quan sát. Lúc này, gã có áo lông cừu đã mang Quỷ kỳ chạy xa mất tăm.

Là người sáng suốt và quyết đoán, Âu Dương Mẫn quay phắt lại, tay trái giơ cao “Bạt Sơn cầu” thứ hai, lạnh lùng bảo Nam - Bắc Thiên Tôn:

- Nhị vị có muốn nếm thử mùi vị của “Bạt Sơn cầu” hay không?

Song Tôn đã chứng kiến cảnh Âu Dương Mẫn bị đoạt mất bảo vật, lòng vô cùng chán nản và tức giận. Bắc Thiên Tôn hậm hực trách móc:

- Nếu ngươi không cố tâm tranh đoạt với bọn ta thì đâu đến nỗi cờ báu bị kẻ khác phỗng tay trên. Nay chẳng ai rõ lai lịch gã cẩu tặc ấy thì vô phương tìm lại được.

Âu Dương Mẫn đưa tay vuốt chòm râu dài và đẹp, nhếch mồm cười nhạt đáp:

- Lão phu có cách. Quý hồ chư vị đồng lòng hợp tác, lão phu hứa rằng trong vòng ba tháng sẽ giao nộp linh kỳ.

Bắc Thiên Tôn không hiểu ý đối phương, nghi hoặc hỏi lại:

- Mong Âu Dương thí chủ nói rõ ra xem nào?

Âu Dương Mẫn gật gù, bước đến hạ giọng bảo:

- Gã ấy chính là Cầu Nhiêm đại hiệp Hàn Thiếu Lăng, nghĩa tử của Trung Thiên Tôn, lúc này mặc hắc y và bịt mặt đứng trên ngọn cây du. Chỉ mình gã mới đủ bản lĩnh và đởm lược để cướp Thánh chỉ cũng như cờ báu. Tuy gã đã chạy thoát nhưng sẽ sớm dâng nạp linh kỳ khi nghe Hội đồng Võ lâm và sư muội bị bắt. Phùng tiền bối cứ mượn cớ lục phái kháng chỉ, cùng lão phu bắt sống họ mang về Tổng đàn Võ lâm quản thúc.

Nam Thiên Tôn đã hiểu ra, ngắt lời Âu Dương Mẫn:

- Đấy đúng là diệu kế. Nhưng bần đạo chưa hiểu ra thí chủ sẽ được lợi gì trong việc này?

Âu Dương Mẫn ung dung đáp:

- Lão phu muốn đem “Diêm Vương quỷ kỳ” đổi lấy một đạo Thánh chỉ khác, chẳng những khôi phục mà còn tăng thêm quyền lực của Minh chủ võ lâm.

Bắc Thiên Tôn lên tiếng:

- Bần đạo đồng ý. Nhưng chúng ta sẽ loan báo cho gã họ Hàn biết rằng phài mang cờ đến phủ đường Trịnh Châu mà giao nạp. Hai phe chúng ta sẽ cho người túc trực ở đấy. Bần đạo sẽ thượng kinh ngay để xin Thánh chỉ, còn Từ lão huynh sẽ đi Trịnh Châu với thí chủ.

Cách thức này rất chu toàn, chẳng ai có thể lừa ai, nên song phương bắt tay nhau thắm thiết. Sau đó, bọn ma đầu điều động thủ hạ ào ào đến vây kín lục vị Chưởng môn nhân cùng đệ tử.

Thất Bổng Cái Thạch Kính Tường kinh ngạc quát hỏi:

- Này, này... bọn ngươi âm mưu quỷ quái gì thế? Bọn ta nào ai giữ Quỷ kỳ?

Bắc Thiên Tôn cười nhạt:

- Do lục phái kháng chỉ, không chịu dâng nạp bảo vật nên cuối cùng Hàn Thiếu Lăng đã cướp mất. Và có thể chính Hội đồng Võ lâm đã chủ sự cho gã hành động như vậy. Do đó, thừa lệnh khâm sai đại nhân, bọn bần đạo đành phải mời lục vị về Tổng đàn Võ lâm, chờ gã họ Hàn mang Quỷ kỳ đến chuộc mạng.

Nghe giọng cười bá đạo của đối phương, Vân Thiên Tử ấm ức gầm lên:

- Bọn ta vì đức hiếu sinh mà tránh cảnh máu xương, nhiều phen nhẫn nhịn, không ngờ bọn tà ma các ngươi vì thế mà lộng hành. Hôm nay lục phái sẽ vì chính khí võ lâm mà rưới máu chốn này.

Lời nói của ông đã khiến dòng máu hiệp sĩ của hai trăm đệ tử chính phái sôi sục. Họ nhất tề giơ cao vũ khí thét vang:

- Sát ma vệ đạo!

Không phải ai khác mà chính là Đại Giác thiền sư xuất thủ trước, khai mào cuộc chiến. Ông xách thiền trượng nhảy vào tấn công Bắc Thiên Tôn. Tuy đạo hạnh thâm sâu nhưng Đại Giác còn là người nhiệt tình với sự tồn vong của giang sơn xã tắc. Nãy giờ ông thầm chán ghét lão phản tặc Phùng Thịnh Đoan mà chẳng nói ra.

Thiếu Lâm tự đứng đầu võ lâm nhờ những công phu võ học thượng thừa, ảo diệu cả về tâm pháp nội công lẫn pháp sử dụng khí giới. Và do thiền trượng là vật thiết thân của các nhà sư nên pho “Thiếu Lâm Giáng Ma trượng pháp” được xem trọng nhất. Sau khi Đạt Ma Tổ Sư nhập diệp, các đời đệ tử Thiếu Lâm đều khổ công rèn luyện và bổ khuyết thêm ngày càng uyên ảo, diệu kỳ.

Tuyệt học này không truyền ra ngoài thế tục và chỉ truyền riêng cho Phương trượng và những cao tăng cùng bối phận. Tuy Đại Giác thiền sư được thừa kế y bát nhờ làu thông kinh luật, và thiền hạnh cao siêu, nhưng ông cũng là cao thủ số một trong chùa. Đại Giác có thân hình cao lớn, tráng kiện, và rất thích hợp với lọai binh khí dài và nặng như thiền trượng. Yếu tố bẩm sinh cũng rất quan trọng đối với người học võ.

Đại Giác thiền sư khẽ niệm danh hiệu Phật tổ Như Lai rồi múa trượng xuất chiêu “Thiên Long Tảo Vân”. Thanh thiền trượng nặng hai mươi bảy cân lao vun vút, hóa thành những chiếc móng rồng chụp lấy đối phương.

Sau trận đấu với Âu Dương Mẫn, Bắc Thiên Tôn Phùng Thịnh Đoan chẳng còn dám khinh thường đám hậu bối nữa. Lâu nay, lão sống trong hào quang quá khứ, quên mất câu “Trường Giang sóng hậu lãng thôi tiền lãng”.

Lão đã hao tổn khá nhiều sức lực mà chỉ rạch được một đường trên bắp tay họ Âu Dương, một kết quả rất nghèo nàn.

Giờ đây, Bắc Thiên Tôn thận trọng dồn sức đón chiêu trượng hùng mạnh của Phương trượng Thiếu Lâm. Ngân kích và thiền trượng đều là loại trường binh dài nặng khi chạm nhau phát ra những âm thanh chát chúa, rền rĩ, cùng những tia lửa nhỏ. Qua sự chấn động ở đôi bàn tay, Bắc Thiên Tôn biết rằng đối thủ có công lực rất thâm hậu. Và Đại Giác thừa dẻo dai để cầm cự đến cùng, chẳng khác gì Âu Dương Mẫn.

Bắc Thiên Tôn bỗng sinh lòng chán ghét sự già nua của mình, bực bội vũ lộng cây ngân kích tấn công đối thủ tới tấp. Nhưng vị Phương trượng chùa Thiếu Lâm chẳng hề lúng túng, vẫn giữ sắc mặt trang nghiêm, hòa ái, ung dung phá giải những thế kích của Phùng Thịnh Đoan. Là tuyệt học Phật môn nên pho “Giáng ma trượng pháp” chủ yếu về phòng thủ. Nhưng khi công khí thế của thanh thiền trượng cực kỳ hùng mạnh, thấm nhuần tinh thần đại dũng, vô úy của nhà Phật. Chiêu thức thì có vẻ giản dị song bao hàm cả đạo biến hóa, uyên ảo tuyệt luân, khiến địch thủ phải vất vả lắm mới phá giải được, Bắc Thiên Tôn rầu rĩ nhủ thầm:

- Không ngờ tên trọc Đại Giác này lại giỏi võ hơn sư phụ gã năm xưa Quả đúng như vậy, tiền nhiệm Phương trượng Thiếu Lâm tự, Nhất Kính thiền sư là người thấp lùn, nhỏ bé nên khó mà phát huy hết tinh hoa của phép đánh trượng.

Trong lúc Bắc Thiên Tôn bị Đại Giác cầm chân thì Nam Thiên Tôn cũng chới với bởi Vân Thiên Tử. Lý do là vì Chưởng môn nhân phái Võ Đương sử sụng thanh “Trạm Lư bảo kiếm”, thần vật thời Xuân Thu. Té ra, Vân Thiên Tử một lòng hỗ trợ Thiếu Lâm tự nên đã mang theo bảo vật trấn sơn mà giáng ma.

Ngay chiêu đầu tiên, Vân Thiên Tử đã chặt phăng mũi nhọn của cây kim thương khiến Nam Thiên Tôn rầu thúi ruột. Và sau mỗi lần va chạm, cây thương của lão lại hằn sâu một vết chém. Từ Tôn Chiến nổi giận, vũ lộng trường thương tấn công như vũ bão, hy vọng đè bẹp đối phương trước khi binh khí mình bị chặt gãy.

Nhưng Vân Thiên Tử là cao thủ số một của phái Võ Đương hiện tại. Hơn nữa, từ sau hôn lễ của Tây Nhạc kiếm khách Lư Công Đán, ông vì thanh danh của môn phái mà bế quan luyện kiếm, chuẩn bị cho việc tranh giành danh hiệu Võ Lâm Đệ Nhất cao thủ.

Bản thân Vân Thiên Tử không háo danh song truyền thống trăm năm của phái Võ Đương bắt ông phải chấp nhận hy sinh. Danh hiệu cao quý ấy vốn thuộc về Trương Tam Phong, tổ sư phái Võ Đương. Vân Thiên Tử không chắc đạt được mục tiêu nhưng sẽ tận lực để không tủi hổ với anh linh của Trương tổ sư.

Mấy tháng nay, Vân Thiên Tử giao hết sự vụ của phái Võ Đương cho sư đệ Vân Hư Tử, tập trung nghiên cứu pho “Thuần Dương kiếm pháp”, tuyệt học cuối cùng của Dương chân nhân. Sau khi đệ tử thứ tám của Trương tổ sư, Á Hiệp Thuần Vu kỳ tạ thế thì không một ai luyện thành pho kiếm kỳ diệu ấy.

Nhưng việc thâm cứu kiếm phổ cũng giúp cho Vân Thiên Tử ngày càng gần với Kiếm Đạo hơn. Kiếm Đạo cũng như Thiền Đạo, kẻ có căn cơ sáng láng tuyệt trần thì đốn ngộ, kẻ bẩm sinh bình thường mà siêng năng, cần mẫn thì chầm chậm đi đến đích sau vài chục năm, gọi là tiệm ngộ.

Vân Thiên Tử thuộc trường hợp thứ hai. Ông luyện kiếm đã sáu mươi năm vì xuất gia từ lúc còn để chỏm. Ít khi xuất thủ với người ngoài nên chính ông cũng không ước lượng được bản lĩnh của mình. Huynh đệ trong môn phái luyện kiếm với nhau thì không có giá trị so sánh.

Nay phải đương đầu với một cao thủ lão thành như Nam Thiên Tôn, Vân Thiên Tử lại rất thận trọng. Nhưng càng đánh lâu, ông thức ngộ rằng thần tượng già nua kia chẳng đáng sợ lắm. Ông không thắng được họ song dẫu có thua thì cũng vài trăm chiêu. Nhất là khi ông có “Trạm Lư thần kiếm” trong tay thì chưa chắc “mèo nào cắn miu nào”.

Vân Thiên Tử cao hứng phi thường, mang hết sở học Võ Đương ra đối phó với đường thương dũng mạnh, độc địa của Nam Thiên Tôn. Tuy pho “Thái Cực Tuệ kiếm” không cao siêu thâm thúy bằng “Thuần Dương kiếm pháp” song cũng là tuyệt học do Trương tổ sư để lại.

Huyền môn chủ trương “tử nhiên nhi nhiên”, “nan không cương, nhược thắng cường”, nên kiếm pháp Võ Đương mềm mại, nhẹ nhàng, phóng khoáng.

Nhờ vậy mà đường kiếm nhanh như gió thoảng.

Trường kiếm trở thành vua của mọi loại vũ khí vì có rất nhiều ưu điểm.

Một trong những ưu điểm ấy là trọng lượng. Kiếm chỉ nặng độ sáu bảy cân nên người kiếm thủ không bị trở ngại khi thi triển khinh công. Do đó, Vân Thiên Tử nhẹ nhàng, khinh khoái như mây nổi, tiến thoái nhanh tựa ngọn phong thu phong. Ông lùi để tránh những đòn quét ngàn cân và xông vào ngay phản kích.

Mục tiêu của ông không chỉ là xác thân còm cõi của Nam Thiên Tôn mà còn là cây kim thương nữa. Ông rình rập chờ cơ hội chặt gãy khí giới của kẻ địch.

Từ Tôn Chiến biết điều ấy nên hết sức cảnh giác, ra đòn như chớp giật không để đối phương tiếp cận. Đánh nhau mà phải úy kỵ đủ điều như thế thì quả thật khổ sở, vất vả. Lão bực bội rủa thầm cái gã câm chết tiệt đã tặng “Trạm Lư thần kiếm” cho Võ Đương. Khi tình cờ tìm thấy thanh Trạm Lư, Thuần Vu Kỳ đã không sử dụng mà mang lên núi, đặt trên đùi pho tượng ân sư. Chàng cho rằng Trương Tam Phong là Vạn Thế Kiếm Vương phải có một thanh thần kiếm như Trạm Lư theo hầu. Nhưng chàng cũng không cấm những đệ tử đời sau dùng thần kiếm giáng ma vệ đạo. Bởi vậy, Vân Thiên Tử có quyền sử dụng Trạm Lư. Còn một yếu tố quan trọng khác khiến Song Tôn bối rối, họ không dám giết sáu vị Chưởng môn nhân.

Tóm lại, Nam - Bắc Thiên Tôn đều đã có địch thủ xứng tay. Còn những tay cao thủ như Âu Dương Mẫn, Nhạc Cuồng Loạn, Quân Sơn chân nhân, Thất Hoàn Đao, Thần Đao bảo chủ, đại hộ pháp Xoa Lạp cốc... cũng bị bốn vị Chưởng môn nhân cùng các sư đệ đón đánh.

Kẻ phản đồ Lã Hoa Dương biết đây là cơ hội chuộc lỗi nên đã van xin Đại Nghiêm cởi trói, giải huyệt để y tham chiến. Vì nghĩa sư đồ mà thiền sư đã chấp thuận. Vả lại, trong hoàn cảnh khó khăn này, sự đóng góp của một cao thủ như Thiếu Lâm Thần Côn là rất quý giá.

Thủ tọa La Hán đường quyết định rất sáng suốt, Lã Hoa Dương dũng mãnh như hổ dữ sút chuồng, cây côn thép lồng lộn chống trả rất hữu hiệu trước những thanh đao Nhật Bản dài và nặng. Tuy phẩm cách thấp kém nhưng họ Lã vẫn xứng danh nhân tài trẻ tuổi của Thiếu Lâm tự.

Lã Hoa Dương tinh thông cả trường côn lẫn đoản côn, nhưng khi bôn tẩu giang hồ thì thường mang côn ngắn cho đỡ bất tiện. Côn của gã được rèn bằng loại thép tốt nhất, nước thép xanh rờn và nặng gần hai chục cân. Tuy phép đánh đoản côn chú trọng những đòn giáng xuống, quét ngang nhưng thế điểm cũng có thức làm gãy xương kẻ địch nhờ sức nặng.

Cánh tay khỏe mạnh, thân hình đầy những bắp thịt rắn chắc, Lã Hoa Dương vũ lộng đoản côn liên tiếp đâm những đòn trời giáng khiến đao kiếm của kẻ địch phải ngân lời oán than rền rĩ. Và trong chớp mắt, mũi côn thọc vào đâu đó trên cơ thể đối phương.

Cửa Phật từ bi nên vũ khí của Thiếu Lâm không hề có mũi nhọn hay cãnh sắc. Thiền trượng, trường côn, đoản côn đều có đầu bằng. Nghĩa là, tuyệt học chính thống của Đạt Ma Tổ Sư sáng tạo ra chỉ gồm có phép luyện nội công, phép đánh trượng, phép đánh côn và quyền thuật. Còn tất cả các phép sử dụng lợi khí như đao, kiếm, thương, giáo... đều do những đệ tử người Trung Hoa thêm thắt vào. Người đời cho rằng Thiếu Lâm tự có đến bảy mươi hai tuyệt kỹ là do mượn ý trong Tây Du Ký, bởi Tôn Ngộ Không học được “Thất thập nhị huyền công”. Ngài Đạt Ma từ Thiên Trúc sang Tàu để hoằng dương Phật pháp và tu hành, thời gian đâu mà nghĩ đến lắm thứ võ công đến thế?

Nhắc lại, Lã Hoa Dương thần dũng như thiên tướng, trong nữa khắc đã đả thương được bốn, năm kẻ địch. Nhưng cuối cùng, gã cũng gặp được đối thủ xứng tay là Lã Bất Thành, đại đệ tử của Bắc Thiên Tôn. Hai gã ấy cùng họ Lã nhưng kẻ Bắc người Nam nên chắc chẳng có quan hệ bà con.

Lã Bất Thành phát hiện Thiếu Lâm Thần Côn quá ư lợi hại liền lướt đến ngăn chận. Lã Bất Thành cũng có ý muốn so tài với một trong “Võ Lâm Ngũ Tú”.

Lã Bất Thành chẳng nói chẳng rằng, dồn đủ mười thành công lực, đánh chiêu “Phụng Tiên Khai Lộ”, khí thế mãnh liệt như chẻ núi. Phụng Tiên chính thị Lã Bố có võ nghệ siêu quần bạt tụy, từng một mình đại chiến với Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi mà chẳng hề trầy da tróc vẩy.

Lã Phụng Tiên được xem là một trong những ông Tổ nghề đánh trường kích, cho nên đời sau thường dùng chữ “Bố” đặt tên cho chiêu thức.

Có lẽ, Lã Bất Thành đúng là dòng dõi mấy mươi đời của Lã Bố nên kích pháp cực kỳ tinh xảo. Đường kích của gã vừa hùng mạnh vừa ảo diệu, khiến Lã Hoa Dương nhất thời phải lép vế.

Thiếu Lâm Thần Côn tận lực chống đỡ, tuy không thọ thương nhưng phải thoái hậu nhiều bước. Gã chột dạ than thầm vì hiểu rằng tu vi của Lã Bất Thành hơn mình đến hai bậc. Gã cắn răng xông lên phản kích bởi chẳng còn cách nào khác.

Lã Hoa Dương chạm phải cường địch thì Võ Đương Thần Kiếm Mộ Duy Lộ cũng chẳng may mắn hơn. Đối thủ của chàng đẹp trai chính thị Hồ Đồ Thần Thương Khổng Đam. Tuy mang tiếng hồ đồ song sức lực và bản lãnh múa thương của Khổng Đam rất khá. Đôi cánh tay béo mập, to như cột đình múa cây kim thương ba chục cân, đánh cho trường kiếm của Mộ Duy Lộ run bần bật. Nếu không nhờ sự cần mẫn luyện công và giới sắc suốt một thời gian dài, Mộ Duy Lộ không chịu nổi mười chiêu thương sấm sét của họ Đổng.

Võ Đương Thần Kiếm chịu khó khép mình khổ hạnh, siêng năng luyện võ công cũng là vì muốn thoát khỏi cái bệnh liệt dương quái ác. Ngày ngày, gã được sư phụ cho uống thuốc và châm cứu nên thấy khá hơn. Có đêm, gã phát hiện đoản thương của mình lại hiên ngang, ngạo nghễ như xưa, lòng vô cùng hoan hỉ. Nhưng chẳng hiểu sao kỳ tích ấy không lập lại? Gã than thở với ân sư thì được Vân Thiên Tử an ủi rằng chưa đủ ba năm.

Mộ Duy Lộ không biết rằng Vân Thiên Tử cố tình kéo dài việc chữa trị, ngõ hầu đưa học trò mình về với chính đạo. Lã Hoa Dương và Mộ Duy Lộ mà còn bị hạ phong thì đám đệ tử Bạch đạo lại càng khốn đốn trước quân số đông đảo của tà ma. Hai đánh một không chột cũng què nên bọn tăng nhân, đạo sĩ thọ thương khá nhiều. Nếu không nhờ những thanh trường côn mạnh mẽ của một trăm linh tám nhà sư La Hán đường thì thế trận đã vỡ từ lâu.

Nhưng dần dà, chính những tay côn thần dũng cũng phải la oai oải, hoặc niệm Phật hiệu, bởi trúng đòn rách da, xé thịt. Lý do thứ nhất vì chênh lệch quân số, lý do thứ hai bởi ăn chay mau đói hơn ăn mặn. Vài chén cơm với xì dầu, rau cải, đậu hủ chỉ cung cấp số năng lượng bằng một nữa thịt thà, cá mú.

Đã cuối giờ Tỵ, ai nấy đều đói meo, sức đâu mà đòi chiến đấu!

Tình thế phe Bạch đạo rất nguy ngập, chỉ còn cách đầu hàng hoặc chờ chết.

Bắc Thiên Tôn ra sức đẩy lùi Đại Giác rồi phủ dụ:

- Chẳng lẽ hòa thượng ngươi không tiếc xương máu của đệ tử Thiếu Lâm hay sao? Hãy thức thời mà buông vũ khí quy hàng.

Đại Giác bình thản đáp:

- Cửa thiền không phân biệt sinh tử, bọn bần tăng thà chết chứ không chịu để thí chủ rước quân Mông vào tàn phá xã tắc, bức hại chúng sinh.

Vừa dứt lời, ông thi triển công phu “Sư Tử Hống” gầm vang:

- Tuẫn... Pháp!

Đấy là hiệu lệnh cho toàn thể đệ tử Thiếu Lâm đang hiện diện phải xã thân. Nếu Trung Hoa bị Mông rợ cai trị một lần nữa thì Phật giáo sẽ suy tàn, chẳng khác gì bị pháp nạn. Người Mông theo đạo Lạc Ma một phái Phật giáo ở Tây Tạng, họ chẳng ưa gì Phật giáo Trung Hoa.

Hai tiếng linh thiêng ấy dù thêm sức mạnh cho những đệ tử hiền lành suốt đời trai giới. Tuy nhiên, lực bất đồng tâm nên lát sau cục diện lại càng bi đát. Các vị chưởng mô và các sư đệ đều bi thương nhẹ, trừ Vân Thiên Tử. Ông vẫn an tàn và còn chặt đứt một đoạn dài cỡ gang tay ở đầu cây kim thương của Nam Thiên Tôn.

Khi viễn ảnh sắp đại bại của lục phái sắp đến gần thì phát sinh kỳ tích.

Một toán cao thủ Thiếu Lâm đông độ bốn trăm đã đến cứu viện, tiến vào tấn côn những kẻ đang trấn giữ đầu đường độc đạo.

Cửa ải quan yếu này do Trịnh Bá Nghiêm, Dương Tố Vy cùng sáu mươi kiếm thủ đảm đương. Nhiệm vụ của họ là ngăn không cho bất cứ ai thoát ra, chạy về Thiếu Lâm cầu viện. Và nếu như có ai đó ở ngoài đã làm việc đó thì viện binh cũng khó mà qua quan, trước khi cuộc chiến trong Độc Nha sơn kết thúc. Kẻ đứng chênh vênh trên đường hẹp thất thế rất nhiều, dễ bị kim thương của Bá Nghiêm đẩy rơi xuống vực. Đấy là chưa kể đến tác dụng của ám khí.

Sáu mươi gã thủ hạ Chiết Mai bang vốn là người của Phi Kiếm hội đất Thăng Trì nằm trên đường trục Đông Tây nối liền Trường An và Lạc Dương. Muốn tồn tại, Phi Kiếm hội phải liên minh với Chiết Mai bang bằng cách cử sáu mươi thủ hạ sang phò tá Dương Tố Vy. Kiếm thuật của bọn này không cao song thuật phóng tiêu bội phần linh diệu.

Tiễn kiếm hoặc tiểu đao là loại ám khí nặng, tầm sát thương trên dưới ba trượng, dùng để ám toán từ xa rất hữu hiệu. Trong việc mai phục hoặc đánh phủ đầu thì chúng vô cùng lợi hại.

Nhắc lại, chẳng hiểu kẻ lắm mồm nào đã chạy đến chùa Thiếu Lâm báo hung tin nên Thủ tòa Đạt Ma viện là Đại Tuệ thiền sư mau chóng đưa bọn đệ tử đến tiếp viện lục phái.

Người đông thì cũng tốt nhưng vấn đề là ở chỗ làm sao tiến vào được trận địa khi đối phương đã phòng thủ chặt chẽ?

Tất nhiên, kẻ có bản lĩnh cao cường nhất là Đại Tuệ thiền sư phải đi tiên phong. Ông xách thiền trượng lướt như bay trên con đường xuyên vực chi chít những cành cây cắm chênh vênh để gia cố.

Đáng lẽ, song song mặt đường, ngang tầm tay vẫn có sợi dây chảo lớn, nhưng chúng đã bị Trịnh Bá Nghiêm chặt đứt. Gã còn sai nhổ sạch cây gỗ ở hai bên đường một đoạn gần cuối dài bốn trượng. Nghĩa là, lúc kẻ địch lọt vào đến khúc ấy thì hoàn toàn bất lợi, bởi dưới chân không vững. Trong khi chỗ gã đứng rất an toàn, vững chắc.

Trịnh Bá Nghiêm tính toán đúng, Đại Tuệ thiền sư đã lộ nhiều sơ hở vì thiền trượng nặng mà tấn chẳng vững. Ông lúng túng đỡ nhiều chiêu thương của Trịnh Bá Nghiêm và những ám khí hiểm ác không sao tiến lên được dù võ công rất cao siêu.

Trong cảnh ngộ khó khăn ấy, Đại Tuệ trúng liền hai mũi tiễn vào đùi, đành phải thối lui băng bó và đổi vũ khí. Trường côn của đám đệ tử nặng chỉ bằng nửa thiền trượng sẽ giúp ông chống đỡ ám khí hữu hiệu hơn.

May mà những mũi tiễn kiếm ấy không tẩm độc, Đại Tuệ nhanh chóng trở lại với Bá Nghiêm. Ông dùng toàn lực múa tít cây trường côn bằng gỗ, ngoài bọc thép mỏng, đánh văng ám khí và cố sức đẩy lùi Bang chủ Bích Huyết bang.

Nhưng Trịnh Bá Nghiêm cũng là tay kiệt xuất, kiên cường chống cự bằng pho “Hoàng Long thương pháp” mà gã đã khổ luyện hai mươi năm. Gã được ưu thế là có thể đảo bộ, chuyển tấn rất ung dung, trong lúc Đại Tuệ thì chết dí trong một chỗ và lòng thấp thỏm đất lở bất ngờ. Chẳng phải bậc cao tăng này sợ chết, ông chỉ lo không cứu được Phương trượng sư huynh và mấy trăm người khác nữa. Do đó, Đại Tuệ hoàn toàn bị cầm chân và số phận những kẻ bị vây hãm trong kia khó mà thay đổi.

Đại Tuệ đau lòng khôn xiết, phẫn uất đánh mấy đòn lôi giáng, đẩy lùi Bá Nghiêm vài bước. Nhưng phe địch nhất tề phóng liền mấy chục ngọn tiễn kiếm, khiến ông phải bỏ ý định tràn lên, múa trường côn chống đỡ. Và Bá Nghiêm đã kịp quay về vị trí cũ. Đại Giác thiền sư lại trúng thêm một mũi tiễn kiếm vào bắp chân tả, khó mà địch lại Trịnh Bá Nghiêm. Trong lúc ông sắp tuyệt vọng thì cứu tinh xuất hiện, đánh vào sau lưng kẻ địch.

Lực lượng ấy đông độ bốn mươi, võ phục đủ màu song đều bằng gấm lục tốt, áo cừu ngắn cũng thuộc loại đắt tiền. Trong võ lâm làm gì có bang hội nào chơi sang đến thế!

Họ nhất tề rút kiếm, lột nón tre ở tay tả xông vào tấn công. Dương Tố Vy ngờ ngợ đoán ra đối phương là người của Xoa Lạp cốc. Nàng ta lại còn điên đầu hơn bọn tơi nón kia lại được chỉ huy bởi Thiết Đảm Hồng Nhan và gã hắc y bịt mặt. Làm sao Dương Tố Vy có thể ngờ đến việc những đệ tử Xoa Lạp cốc trở thành gia đinh của Quách gia trang và đến đây để bảo vệ Tử Khuê.

Kiếm là sở đoản của Bắc Thiên Tôn song lại là sở trường của lão đạo sĩ núi La Sơn. Do đó, kiếm thuật của Tống Thụy hơn Tố Vy một bậc. Thép chạm thép gay gắt và ả họ Dương khẽ rú lên, chân lùi mau bốn bước. Chiêu “Vương Mẫu Khai Liêm” của Tống Thụy đã rọc một đường từ ngực đến thắt lưng của kẻ địch. Tuy vết cắt không sâu nhưng lại khiến tấm võ y diêm dúa màu hồng phấn và yếm đào của Tố Vy bị rách tang hoang, ngọc nhũ phơi bày lồ lộ.

Tuy chẳng phải gái tơ, đông đào phong kính, nhưng Dương Tố Vy cũng không quen với việc thoát y trước mặt đám đông. Ả vừa giận vừa thẹn, theo bản năng của nữ nhân mà bối rối đưa tay trái lên cố khép hai mảnh vãi rách để che ngực. Khổ thay, Thiết Đảm Hồng Nhan cứ xông tới ra đòn như vũ bão, nên Tố Vy đành phải để mặt cặp tuyết lê đong đưa, nhún nhẩy, chú tâm đối phó.

Cảnh tượng hấp dẫn ấy đã như thỏi nam châm thu hút những cặp mắt yếu đuối của bọn đàn ông. Và ngay lập tực có hai gã kiếm thuẫn nhanh nhẫu đến hỗ trợ cho Thiết Đảm Hồng Nhan, dẫu nàng ta đang thắng thế. Ánh mắt họ dán chặt vào cặp đào to mơn mỡn, mặt đần ra bởi nụ cười ngớ ngẩn đầy thèm khát.

Tất nhiên, họ chẳng muốn sát hạt Dương Tố Vy, chỉ mong cuộc chiến kéo dài để nhìn no mắt. Là dân tộc Thổ, tính tình mộc mạc, kém đường xảo trá nên không đạo đức giả như người Hán. Khi thích thú, họ nhìn ngay chứ không thèm liếc trộm hoặc nhìn lén.

Chỉ lát sau, đã có hai gã hám gái nữa nhập cuộc, chúng nuốt nước bọt ừng ực đua nhau vang lên cốt để Thiết Đảm Hồng Nhan chán nản, phì cười, nhường trận địa cho bọn đàn ông cô đơn, thiếu thốn kia. Nàng biết rằng, Quách gia trang chẳng đủ tỳ nữ mà gả cho bốn mươi gã hàng binh Xoa Lạp cốc này, để chúng ở lại Hứa Xương phò tá Tử Khuê.

Chính Tử Khuê cũng không biết đám thủ hạ hiện diện ở Độc Nha sơn.

Quách trang chủ lo cho ái tử nên đã sai Dịch Quan San dẫn bọn kiếm thủ đuổi theo.

Sau khi dùng “Diêm Vương quỷ kỳ” để gây cuộc tàn sát giữa hai phe tà ma. Tử Khuê đã đưa Thiết Đảm Hồng Nhan về động đá, nơi Trác Thanh Chân đang chờ đợi. Họ cùng nhau bàn bạc kế hoạch đoạt lại cờ báu, Tử Khuê định sẽ đích thân ra tay, song Trác Thanh Chân đã giành lấy nhiệm vụ ấy. Nàng ta vui vẻ bảo:

- Tiểu muội đánh nhau không giỏi bằng, nhưng nghề khinh công móc túi thì dám xưng sư tỷ của đại ca. Hơn nữa, việc tiểu muội đoạt cờ rồi đào tẩu dưới bộ dạng của kẻ cướp thánh chỉ, sẽ khiến đối phương bị rối trí. Dẫu sau này họ khám phá ra Hàn Thiếu Lăng là ai thì Quách gia trang cũng không hề bị liên lụy.

Thiết Đảm Hồng Nhan rấ khâm phục đầu óc nhìn xa trông rộng, tính toán chu toàn của Trác Thanh Chân. Nàng buột miệng khen:

- Trác đại thư quả là sáng suốt, tiểu muội vô cùng khâm phục.

Thanh Chân nhanh nhẩu tự giới thiệu mình là đệ tam phu nhân của Tử Khuê nên Tống Thụy bắt buộc phải gọi nàng ta là chị. Nàng hơi buồn khi biết Tử Khuê đã có ba vợ, song không chán ghét Thanh Chân. Nhờ cô ả họ Trác quái dị này mà Thiết Đảm Hồng Nhan ngộ thức ra rằng mình phải chủ động dành lấy duyên nợ.

Tử Khuê là một nam nhân đôn hậu, ngốc nghếch và nhút nhát. Chờ gã mở miệng cầu hôn thì e rằng đầu cả hai đã bạc.

Khi Thanh Chân thành công rời khỏi Độc Nha sơn, Tử Khuê và Tống Thụy dự định sẽ ám sát Quân Sơn chân nhân rồi đào tẩu. Nào ngờ, lòng dạ Âu Dương Mẫn lại thâm độc phi thường, nghĩ ra kế liên thủ với Nam - Bắc Thiên Tôn để bắt sống Hội đồng Võ lâm mà đổi lấy cờ. Dẫu Tử Khuê có xuất đầu lộ diện, tự nhận mình là Hàn Thiếu Lăng thì bọn tà ma cũng không bỏ cuộc vì đã leo lên lưng cọp, gây hấn cùng sáu phái. Chàng đang định liều chết một phen thì gã anh vợ Dịch Quan San xuất hiện. Đồng thời viện binh của Thiếu Lâm tự cũng đến nơi. Thế là Vô Tướng Quỷ Hồ có ngay một kế sách lưỡng toàn.

Giờ đây, trong lúc Thiết Đảm Hồng Nhan hý lộng Dương Tố Vy ở vòng ngoài thì Tử Khuê đánh thốc vào phòng tuyến địch, cố tìm đến chỗ của Trịnh Bá Nghiêm. Chàng cố loại trừ được gã chiếm lấy vị trí hiểm yếu này thì quân tiếp viện mới vào được Độc Nha sơn mà cứu người.

Lòng nóng như lửa đốt, Tử Khuê xuất thủ vô cùng quyết liệt, tàn nhẫn.

Kiếm quang chớp lên loang loáng và bọn đệ tử Phi Kiếm hội thi nhau từ trần một cách mau lẹ, không kèn không trống. Bản lĩnh kém cõi nên chúng không thể chống đỡ đường gươm thần tốc vả ảo diệu vô song của một kẻ đã bước qua ngưỡng cửa kiếm đạo.

Bản năng sinh tồn đã giúp những tên khác ngửi thấy mùi chết chóc tỏa ra từ cái gã hắc y bịt mặt kia. Chúng khôn ngoan dạt ra, lịch sự nhường bước.

Thậm chí có gã sợ hãi đến nỗi đã cố mỉm cười thân thiện với vị hung thần.

Đứng trước cái chết, đôi khi người ta có những hành vi khó hiểu.

Nhưng chính những nụ cười ngớ ngẩn trên khuôn mặt đầy vẻ khiếp sợ ấy lại khiến lòng Tử Khuê chùng xuống. Té ra, đằng sau cái vỏ võ sĩ, kiếm thủ là một con người chân thực, luôn thiết tha được sống còn. Họ chỉ là những người tầm thường nghèo khổ, không tham vọng lớn, chỉ vì cơm áo của thê nhi mà dấn thân vào chốn giang hồ sát máu và chết bởi dã tâm của kẻ phát lương.

Niềm bất nhẫn trong lòng hóa thành phẫn hận, Tử Khuê lướt mau qua trận địa và không giết ai nữa. Có mấy tên ngốc dại dộ cử kiếm ngăn chận thì chỉ chống đỡ qua loa.

Cuối cùng, mục tiêu cũng đã xuất hiện trước mắt. Tử Khuê gằn giọng báo tử:

- Bá Nghiêm! Hàn mỗ đến lấy mạng ngươi đây!

Dứt lời chàng nhảy xổ đến xuất chiêu “Phù Sinh Nhược Mộng”, kiếm ảnh mêng mang mở rộng, chụp lấy thân hình gã họ Trịnh. Trịnh Bá Nghiêm cảm nhận được ngay luồng sát khí lạnh lẽo, kinh hoàng múa kim thương, thân hình xoay tít cố bảo vệ mạng sống trong cảnh lưỡng đầu thọ địch. Gã đang phải đối phó với Đại Tuệ thiền sư, nay có thêm gã chết tiệt Hàn Thiếu Lăng thì khó mà thoát chết.

Bá Nghiêm đặt hết hy vọng vào chiêu “Luân Thương Kháng Vũ” này.

Nam Thiên Tôn đã từng khẳng định đây là chiêu thức kỳ tuyệt nhất thiên hạ, dẫu mưa to cũng không làm ướt áo thì đao kiếm chẳng thể xâm nhập. Cây thương thép nặng ba chục cân quây vù vù, thương ảnh trùng điệp, dệt lưới kính như bưng. Và kình lực của nó cực kỳ mãnh liệt, khả dĩ đẩy lùi mọi đòn công kích.

Nhưng Trịnh Bá Nghiêm chẳng phải là Nam Thiên Tôn, có công lực hoa giáp. Trong khi Đại Tuệ thiền sư lại muốn trút hết sân si lên đầu kẻ đã cầm chân mình từ nãy giờ. Vị Thủ tòa Đạt Ma viện dồn hết mười thành hỏa hầu ra đôi cánh tay rắn chắc, múa côn vào đánh chiêu “Di Sơn Khai Lộ”. Nghe tên cũng biết chiêu này cương mãnh phi thường, khí thế dời non lấp biển.

Cây trường côn của thiền sư liên tiếp chạm phải màn thương dày đặc quanh thân Trịnh Bá Nghiêm. Tuy không phá thủng được song cũng khiến họ Trịnh đổ máu vì đường thương này.

Tử Khuê thừa thế thi thố xuất kiếm chập chờn vài lượt là khóa được mũi kim thương. Và trông chớp mắt chàng ập vào, hướng kiếm đâm thủng ngực họ Trịnh.

Bá Nghiêm rên lên thảm khốc vì trúng thêm một côn như trời giáng của Đại Tuệ thiền sư. Thân thể của gã văng xa hơn trượng, rơi thẳng xuống vực sâu. Dường như lòng trời thương tiếc cho bậc anh tài đoản mệnh, làm tự tuyệt nhà họ Trịnh, nên bỗng nhiên tuyết đầu Đông rơi lất phất và mỗi lúc một dày, mù mịt không gian.

Lúc này, toán quân Phi Kiếm hội cũng đã tan tác, nhường vai trò trấn ải cho bọn thủ hạ của Tử Khuê. Nghe nói Bang chủ Chiết Mai bang thoát chết, bỏ chạy bởi chẳng người đàn ông chân chính nào lại nỡ giết một nữ nhân đang phơi bày mộ ngực mỹ miều, gợi cảm.

Chỉ trong khoảnh khắc, bốn trăm tăng lữ Thiếu Lâm đã vào hết Độc Nha sơn, theo Đại Tuệ thiền sư đi cứu viện Phương trượng Chưởng môn. Bọn Tử Khuê cũng tham gia vì ở lại giữ cửa ra là một hành động dại dột vô ích, khi Âu Dương Mẫn vẫn còn một trái “Bạt Sơn cầu”. Vì thứ hung khí đáng sợ ấy mà Tử Khuê phải dặn dò Đại Tuệ phân táng mỏng quần tăng chứ không đi thành đội ngũ đông người.

Sự xuất hiện của đám viện binh đông đảo võ nghệ cao cường đã sớm thay đổi cục diện. Song Tôn cùng Âu Dương Mẫn càng hoang mang hơn khi nghe Dương Tố Vy chạy đến báo cáo rằng gả hán tử Hàn Thiếu Lăng chưa hề rời khỏi Độc Nha sơn và có mặt hạ sát Trịnh Bá Nghiêm.

Âu Dương Mẫn thấy rõ diện mục kẻ cướp cờ, đúng là cái gã đoạt Thánh chỉ. Vậy phải chăng Hàn Thiếu Lăng vô can? Lão không biết rằng Trác Thanh Chân đã cẩn thận mang chiếc mặt nạ mà Tử Khuê dùng lúc tiến vào Độc Nha sơn. Nàng đã chẳng hủy đi hai vật tinh xảo ấy theo lời dặn của Tử Khuê. Tuy nhiên, bọn tà ma chỉ tạm thời bị lừa vì kế hoạch của Tử Khuê có một sơ hở rất lớn. Đó là vì sao Hàn Thiếu Lăng lại phải bịt mặt? Chàng là người trung hậu, kém phần lão luyện nên không thể chu đáo hơn được nữa. May thay, Dịch Quan San đã kịp thời sữa chữa sai sót chết người ấy. Gã đã mau chóng biến Tử Khuê thành Cầu Nhiêm đại hiệp, với bộ râu rậm lừng danh.

Giờ đây, Tử Khuê lột khăn chường bộ mặt ấy ra xông vào tấn công Quân Sơn chân nhân Đường Mai Giãn. Lão họ Đường đang là đối thủ của Bang chủ Cái bang Thất Bổng Cái, Thạch Kính Tường rất căm hận kẻ đã hại bạn mình là Cửu Hoa Thánh Y, nên chiến đấu như hổ dữ, bản lĩnh của ông kém họ Đường một bậc nên bị hạ phong, trúng vài mũi kiếm máu loang đỏ áo. Nhưng thương tích không nặng vì lão ăn mày vẫn kiên cường cầm cự, chờ cơ hội báo thù cho bạn. Cái bang vốn là một bang hội chứ không phải môn phái. Cho nên pho võ học truyền tông “đả cẩu bổng pháp” chỉ có ý nghĩa tượng trưng chứ không xuất sắc lắm. Bổng là gậy dài trên dưới ba xích, vật thiết thân của bọn khất cái.

Ăn mày mà không chống gậy thì ra thể thống gì nữa.

Tục ngữ có câu “chó cắn rách áo” nghĩa là lũ cẩu chẳng ưa gì những người nghèo khổ. Nhưng tại sao lại có được tính chó má của loài người cơ chứ?

Cho nên, công dụng đầu tiên của gậy ăn mày là để đối phó với loài chó, thành danh “đả cẩu bổng”.

Trong Cái bang, Bang chủ và các trưởng lão, chức sắc không phải đi xin ăn. Gậy của họ chẳng đánh chó mà đánh người, bảo vệ quyền lợi của đệ tử, nên làm bằng thép. Riêng cây “đả cẩu bổng” của Thạch bang chủ thì được trạm trổ rất công phu và có đầu nhọn hoắt.

Trước khi gia nhập Cái bang, ở tuổi ba mươi, Thạch Kính Tường là một kiếm thủ. Và ông đem những đặc tính ưu việt của kiếm pháp bổ sung cho pho “đả cẩu bổng pháp”. Nhờ vậy, tổ học thêm phần lợi hại, củng cố địa vị Cái bang trên chốn giang hồ.

Trừ “Địa Đường đao pháp”, hầu hết võ công Trung Nguyên đều nhắm vào thượng hàng là chủ yếu. Nhưng vì chó thấp hơn người nên “đả cẩu bổng pháp” có rất nhiều đòn tấn công hạ bàn, từ rốn trở xuống, lối đánh này rất khó chịu.

Do đó, dù bản lĩnh cao cường hơn mà Quân Sơn chân nhân không thể kết liễu được Thạch bang chủ. Nếu lão giết được họ Thạch thì hạ thể cũng khó vẹn toàn trước những thức đâm hiểm ác, quái dị. Hơn nữa, kế hoạch của phe lão là bắt sống Hội đồng Võ lâm chứ không sát hại. Quân Sơn chân nhân kiên nhẫn chờ đợi Thất Bổng Cái sơ suất vì kiệt sức, vì mất máu, lão vẫn vẹn toàn trong khi Thạch bang chủ đã trúng ba vết thương nhẹ.

Tuy là sư đệ của Bắc Thiên Tôn song Đường Mai Giãn lại sở trường kiếm thuật chứ không phải kích pháp. Lão hơi nhỏ con nên không thích hợp với loại vũ khí dài và nặng ấy.

Niên kỷ gần tám mươi, Chân nhân có nhiều chục năm tu vị. Đường gươm của lão trầm ổn, nhanh nhẹn và kín đáo phi thường, cho nên y phục vẫn khô ráo dù tuyết rơi như mưa.

Nhưng tình trạng ung dung thư thái không còn nữa khi gã rậm rậu Hàn Thiếu Lăng xuất hiện. Họ Hàn chẳng nói chẳng rằng vung kiếm hợp lực cùng Thất Bổng Cái. Đã nghe danh Cầu Nhiêm đại hiệp, kẻ từng đả thương Minh chủ Âu Dương Mẫn, Đường Mai Giãn đành thoái hậu, tránh cảnh bị giáp công.

Thất Bổng Cái không đuổi theo nhưng Hàn Thiếu Lăng tiếp tục bước tới, quyết không tha cho kẻ địch. Họ Hà, tức Tử Khuê nóng lòng báo phục cho sư thúc nên đã xuất chiêu “Hồng Thủy Thao Thiên” trong “Oán Thiên kiếm pháp”.

Hàng ngàn thức kiếm thần tốc tạo thành những đợt sóng dữ, cuồn cuộn xô về phía đối phương, kiếm kình quyện lấy ngàn vạn hoa tuyết nên kiếm ảnh có màu trắng lạnh lùng, tang tóc. Khí thế của chiêu kiếm oai mãnh chẳng khác gì trận Đại Hồng Thủy đang tràn dậy, tràn ngập cả đất trời.

Tuy nhiên, Quân Sơn chân nhân công lực thông trầm, hơn gã tuổi trẻ vài bậc nên không hề sợ hãi, dùng chiêu thức “Động Đình thu vũ” mà đối phó.

Tuyệt chiêu này ảo diệu vô song, công thủ vẹn toàn, kết tinh của mấy chục năm nghiên cứu, rèn luyện.

Quả nhiên, Đường Mai Giãn chống đỡ, hóa giải được gần hết đòn công của đối thủ. Và sau hơn trăm tiếng thép tinh tang, lão còn phát hiện sơ hở chết người, mừng rỡ thọc một kiếm nhanh như chớp vào ngực trái Thiếu Lăng.

Đòn này tuyệt đối không né tránh được, trừ phi nạn nhân đã biết trước.

Khổ thay, bản chất của “Oán Thiên kiếm pháp” là như thế. Nó xảo trá và hiểm độc chẳng khác gì lão trời già. Lão ban cho con người hạnh phúc rồi đột nhiên lấy đi hết tất cả.

Năm xưa, Trương Mỹ Thành võ công xuất chúng, tài sản cự vạn, suốt đời làm việc thiện, được giới giang hồ tưng xung là Tứ Xuyên Kiếm Phật, thanh danh lẫy lừng thiên hạ. Nhưng hỡi ôi, đến tuổi lục tuần thì vị đại thiện nhân mất sạch phụ mẫu, huynh đệ, thê nhi, cháu chắt, tổng cộng mười tám người vì bệnh đậu mùa.

Trương lão sống sót mà như đã chết. Ông đau lòng phát điên lên được và vô cùng căm hận trời xanh. Ông bỏ nhà lên ngọn núi cao nhất của Vũ Lăng Sơn mà ẩn cư. Ngày ngày ngửa mặt chửi rủa Hoàng Thiên và sáng tạo pho “Oán Thiên kiếm pháp”.

Giờ đây, Đường Mai Giãn trở thành nạn nhân kế tiếp của lòng thù hận ấy. Lão tưởng mình đã có được cơ hội ngàn vàng, nào ngờ chỉ là bẫy rập. Hàn Thiếu Lăng khẽ lách ra mé phải để tránh đòn và lặng lẽ đâm vào huyệt Cự Khuyết trên bụng kẻ địch. Cự Khuyết thuộc Mạch Nhâm, thẳng trên rốn bảy thốn, là huyệt mộ của tâm, nên khi bị tổn thương nạn nhân khó tránh tử vong.

Nhưng sự đời biến ảo vô thường, tựa phong vân bất trắc, mũi kiếm của Tử Khuê đã chạm phải một vật gì đó rất cứng rắn, lệch sang bên trái, đâm thủng người đối phương, nên vết thương không sâu đến nội tạng vì chạm phải xương sườn.

Cảm giác đau đớn bởi gãy xương vô cùng khó chịu nên Quân Sơn chân nhân chẳng còn chút dũng khí nào nữa, tung mình chuồn thẳng. Lão vừa chạy vừa thầm cảm ơn cái mãnh kính chiếu yêu bằng đồng xanh đang nằm trước ngực. Không thì mạng lão đã ra ma.

Chưa năm nào lại có nhiều tuyết đầu mùa như năm nay. Mọi năm tuyết đầu Đông rơi nhè nhẹ, điểm lác đác trên cây cỏ, là cảnh đẹp mà tao nhân mặc khách ưa thích. Nhưng hôm nay cứ như một trận bão tuyết tháng chạp đi ngang rặng Tung Sơn này vậy. Quân Sơn chân nhân lao đi giữa làn mưa tuyết mịt mùng, hy vọng gã chết tiệt họ Lăng sẽ lạc dấu. Nhưng Tử Khuê sở hữu tuyệt học “Thao Quang thân pháp”, lại đang tuổi thanh xuân, cơ bắp cuồn cuộn, chạy nhanh như vó ngựa. Chàng đã bắt kịp Đường Mai Giãn khi lão vượt được nữa con đường xuyên vực.

Gió bấc ào ào thổi, che giấu tiếng chân người, tiếng y phục lất phất nên Đường Mai Giãn không phát hiện kẻ thù cách mình chỉ hai trượng. Và Tử Khuê chẳng bỏ lỡ cơ hội tốt, thi triển tuyệt kỹ “long tu xạ nguyệt”.

Thanh trường kiếm rời tay chàng, bay đi với tốc độ của mũi tên rời dây cung. Thủ pháp này tương tự pháp phóng ám khí nhưng cao siêu, phức tạp hơn nhiều. Lý do là vì trường kiếm nặng nề, và phải bay theo đường thẳng băng tựa đường tên chứ kô lộn nhiều vòng như tiễn kiếm, tiểu đao. Nếu không tiếng động nó tạo ra sẽ rất lớn, mất yếu tố bất ngờ, ám muội.

Thực ra, tuyệt kỹ này ít hiệu quả khi song phương đối diện. Trường kiếm quá cồng kềnh, chẳng phải thứ dùng làm ám khí. Và nếu đánh lén sau lưng thì cũng không bằng tiểu đao. Như Vu Mộc chân nhân vẫn bắt Tử Khuê phải luyện thủ pháp “long tu xạ nguyệt”. Vì nó chính là bậc thượng thừa của mọi phép phóng ám khí trên đời.

Tử Khuê đã quyết định đúng đắn khi phóng kiếm, gió rít vù vù đã làm mờ thính lực của đối phương và mũi kiếm xuyên thủng lưng Đường lão quỷ.

Tuy chân khí bế tắc, tứ chi bủn rủn vì đòn trí mạng, song do đà phóng tới mà Quân Sơn chân nhân vẫn lảo đảo thêm một ít bước mới gục xuống. Đường rất hẹp nên suýt nữa xác lão rơi xuống vực, nếu không vướng vào những đoạn cành cây cắm dính trên đường. Lão nằm ngửa, vắt vẻo, chênh vênh, mắt trợn trừng bất động.

Tử Khuê sợ mất bảo vật của sư môn, vội bước đến giữ chân và thò tay vào ngực áo lão mò tìm mảnh kính chiếu yêu “Bát Quái Đồng Kính”.

Chàng vẫn chỉ là gã trai non nớt, thiếu kinh nghiệm giang hồ, nên đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng. Đối với một cao thủ có mấy chục năm tu vị thì chỉ chết ngay khi vỡ tim hay đầu lìa khỏi cổ. Nay Quân Sơn chân nhân bị trường kiếm đâm xuyên qua phổi nhưng tim vẫn nguyên vẹn. Tuy sắp chết nhưng trong phút hồi dương lão vẫn huy động chút sức lực tàn vỗ vào ngực Tử Khuê, đẩy chàng văng ngược về sau, rơi xuống phần vực thẳm bên kia đường.

Lực phản chấn cũng làm trốc gốc mấy đoạn cành cây mà xác Quân Sơn chân nhân đang nương tựa, nên lão cũng cùng số phận với Tử Khuê. Bão tuyết đã che mờ cảnh vật, chẳng ai chứng kiến cảnh “đồng ư quy tận” này.

Đường lão quỷ chết là cái chắc vì vết kiếm thương nghiêm trọng, dù có rơi xuống vực hay không. Nhưng Tử Khuê thì còn đầy đủ chân khí và hoàn toàn tỉnh táo. Do bản năng sinh tồn, Tử Khuê cào cấu lớp đất đá để làm giảm đà rơi. May thay, hai bàn tay chàng mang “Ngư giáp miệt” bền chắc phi thường, nên các ngón tay có thể cắm sâu vào đất và không bị tróc thịt, gãy xương. Hai là, con đường xuyên vực Độc Nha sơn chẳng phải là một bức tường dựng đứng mà là một phay đất dạng lưỡi dao, trên mỏng dưới dày, có độ dốc.

Nếu chân đế không rộng thì con đường đã sụp đổ từ lâu rồi.

Đà rơi quá mạnh nên Tử Khuê không sao trụ lại được. Bàn tay chàng chỉ làm cho sỏi đá, bùn đất bị bóc ra từng mãnh và thân hình chàng lại tiếp tục lăn lông lốc. Tuy nhiên, những nỗ lực ấy cũng sẽ giúp chàng toàn mạng, thoát cảnh thịt nát xương tan.

Song Tử Khuê lại sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu, luôn gặp xui xẻo.

Lúc xuống đến chân dốc, đầu va mạnh vào một tảng đá lớn và chàng lập tức hôn mê.

Mãi trưa hôm sau Tử Khuê mới hồi tỉnh. Tuyết vẫn lất phất rơi xuống vực, phủ đầy trên cơ thể chàng. Nằm bất động trong tuyết quá lâu, cơ thể Tử Khuê hầu như đông cứng lại. Chàng cố vận khí và cử động tứ chi song chỉ hoài công, cái lạnh thấu xương đã xăm chiếm hoàn toàn làm kinh mạch bế tắc, máu huyết sắp ngừng chảy.

Biết mình khó thoát chết, Tử Khuê vô cùng sợ hãi, buồn rầu. Nghĩ đến người thân, chàng đau lòng bật khóc.

Chết từ từ là cái chết đáng sợ nhất. Người ta có quá nhiều thời gian để khiếp sợ và tiếc nuối quá khứ. “Vạn cổ tử vi nan” dẫu là bậc anh hùng cái thể cũng chỉ có thể gượng cười chứ lòng thì buồn vô hạn. Họa chăng là những bậc thiền sư giác ngộ, những Chân nhân đắc đạo, tin vào thế giới bên kia, lằn ranh sống chết.

Nhưng Tử Khuê không phải là kẻ tu hành, chàng còn rất trẻ nên khát sống vá yêu, biết mất cuộc sống trần tục này, nơi có những người chàng dấu ái.

Hình ảnh của họ hiện ra với bao triều mến khiến Tử Khuê đau đớn khôn xiết.

Chàng cố mấp máy đôi môi băng giá gọi tên từng người yêu dấu. Và người cuối cùng chàng nhớ đến là vị nghĩa ca họ Lỗ, một hồn ma bóng quế.

Song chính Lỗ phán quan lại làm bừng lên hy vọng sống sót trong lòng Tử Khuê. Chỉ mình lão có đủ khả năng giúp đỡ chàng trong cảnh tuyệt vọng này. Tử Khuê phấn khởi, tập trung tàn lực, thều thào thành tiếng:

- Lỗ đại ca... Lỗ đại ca...

Chàng gọi mãi những tiếng kêu cứu rời rạc, thê lương ấy và chết liệm dần. Khi đã đặt một chân qua ngưỡng cửa “Quỷ Môn Quan”, Tử Khuê mơ màng nghe tiếng ai đó than thở

Chương 12: Hầu phủ hữu cuồng nhân Ác giả phùng ác báo

Mùa Đông năm ấy khắc nghiệt hơn bao giờ hết. Tuyết phủ trắng vạn vật và cái lạnh cắt da đã giết chết không ít kẻ cơ hàn. Tuy nhiên tình hình võ lâm lại nóng bóng như dầu sôi, chiến tranh giữa hai phe chính tà có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Sau trận Độc Nha sơn, sáu phái Bạch đạo đã hiểu rõ dã tâm của Nam - Bắc Thiên Tôn và Âu Dương Mẫn nên không còn thụ động nữa. Họ âm thầm chuẩn bị lực lượng, chờ ngày giáng ma.

Nhưng hiện tại đối phương chưa có động tĩnh gì, có lẽ đang củng cố lực lượng. Rừng không hai cọp, Song Tôn và Âu Dương Mẫn đều muốn tiêu diệt nhau.

Sang Xuân, Hội đồng Võ lâm đã thắng một nước cờ khi Giáo chủ Thiên Sư giáo Huyền Thiên chân nhân Trương Sách dùng uy tính của mình làm cho Minh Đế nghi ngờ Bắc Thiên Tôn. Thế là từ nay triều đình đứng ngoài cuộc phong ba, chẳng hậu thuẫn cho bất cứ ai nữa.

Song Tôn không hề nản chí, nhập hai bang Chiết Mai, Bích Huyết thành Nam Bắc bang, hùng cứ núi Linh Sơn, trọng địa của Chiết Mai bang. Linh Sơn thuộc huyện Dương Bình, nằm ờ cực Tây Hà Nam, gần ranh giới Thiểm Tây và cũng không xa Sơn Tây. Quả là một vị trí vô cùng thuận lợi.

Nam Bắc bang có hai đồng bang là nhị vị Thiên Tôn. Dương Tố Vy, Lã Bất Thành giữ chức hộ bang Tả Hữu Sứ. Ngoài ra, Song Tôn còn mời thêm vài đại cao thủ đến làm Khách Khanh hộ pháp.

Phần Âu Dương Mẫn thì được sự đỡ đầu của Xoa Lạp cốc nên không thiếu nhân thủ và lại toàn là những tay thiện chiến, giỏi nghề kiếm thuẫn.

Đại khái, cục diện võ lâm hiện là như thế. Song điều mà giới giang hồ quan tâm nhất lại là cuộc so tài giữa Cầu Nhiêm đại hiệp Hàn Thiếu Lăng với Thiếu chủ Xoa Lạp cốc Nhạc Cuồng Loạn vào sáng ngày rằm tháng hai tới.

Sau khi giải cứu Hội đồng Võ lâm và mấy trăm cao thủ võ lâm thoát khỏi Độc Nha sơn, trước sự hiện diện của nửa vạn hào kiệt tứ hải, thanh danh Hàn Thiếu Lăng rực rỡ như mặt trời chính ngọ. Nhờ chàng ta phá ải, đưa viện binh vào mà bọn tà ma phải tháo chạy.

Nhưng đến đầu tháng giêng, khi tuyết đã tan hết, một cuộc thăm dò quanh vực thẳm Độc Nha sơn được Thiếu Lâm và Cái bang được tiến hành một cách âm thầm. Tuy thế, tin tức về việc ấy cũng bị rò rỉ ra ngoài, khiến võ lâm bàng hoàng, thương xót. Té ra, Cầu Nhiêm đại hiệp đã thất tung khi đuổi theo Quân Sơn chân nhân Đường Mai Giãn. Trước đó Hội đồng Võ lâm đã cho núi Quân Sơn trong Động Đình hồ thì không có Đường lão. Họ phỏng đoán rằng hai người ấy có thể đã giao đấu trên con đường xuyên vực và cùng rơi xuống đấy.

Nhưng lạ thay, dưới vực chỉ có thi thể của Đường Mai Giãn và Trịnh Bá Nghiêm, Bang chủ Bích Huyết bang. Vậy là vẫn còn hy vọng, mấy chục vạn đệ tử Cái bang ở địa phương lập tức nhận được lệnh truy tìm tung tích của vị Cầu Nhiêm đại hiệp.

Song sau đó, vào đầu tháng hai, phái Thiếu Lâm vẫn tiến hành xây dựng lôi đài dưới chân núi, chuẩn bị cho cuộc phó ước của Hàn Thiếu Lăng và Nhạc Cuồng Loạn. Nếu họ Hàn còn sống tất đến phó hội. Bằng như chàng không xuất hiện tức là đã chết và tang lễ sẽ được cử hành long trọng nhất lịch sử võ lâm.

Tại sao Hội đồng Võ lâm lại vội vã như thế mà không chờ thêm một thời gian nữa? Lý do chính vì nghĩa phụ của chàng, Trung Thiên Tôn Trần Ninh Tĩnh đã bùi ngùi khẳng định rằng tướng tinh của Tử Khuê đã tắt. Ông là bậc kỳ nhân cái thế tinh thông thiên văn địa lý và bói toán, chẳng thể sai được. Không chỉ riêng mình Trần lão mà bất cứ ai biết một chút về môn Chiêm Tinh thì cũng có thể nhận ra sao Khuê đã mờ trên bầu trời đêm.

Cũng có những người không tin vào lời Trung Thiên Tôn, đó là đám nữ nhân thân quyến của Quách Tử Khuê. Đàn bà vốn ngoan cố và khó dạy. Họ cho rằng Tử Khuê là bằng hữu với Lỗ phán quan, một chức sắc cao cấp chốn Âm ty, thì không thể chết non được.

Sau khi nghe Thiết Đảm Hồng Nhan kể về sự xuất hiện bất ngờ, éo le của ả Trác Thanh Chân khỉ gió nào đó, Kỹ nương cùng hai con dâu cũng đoán rằng đã tìm ả nọ để lấy lại “Diêm Vương quỷ kỳ”. Ả ta không đến Quách gia trang như đã hẹn.

Quách gia trang lập đàn cúng tế, mời gọi Lỗ phán quan hiển linh để họ hỏi han tin tức của Tử Khuê. Song chẳng hiểu sao cái lão chết tiệt ấy chẳng hề xuất hiện. Các bà liền ngấm ngầm nguyền rủa thóa mạ Lỗ Trực, kẻ đã xúi giục Tử Khuê đi Lạc Dương để rồi mất tích. Tuy nhiên, chẳng ai dám chửi thành tiếng.

Giờ đây chúng ta quay lại với chàng trai đen đủi Quách Tử Khuê, xem diễn biến thế nào? Đàn bà bao giờ cũng hữu lý, khi một kẻ có ô dù là quan to chốn Âm ty thì chẳng thể chết non được. Trần gian như thế tất Địa phủ cũng chẳng khác.

Nhưng nếu như thoát chết một cách dễ dàng, đơn giản thì Tử Khuê nào phải kẻ mang phần số đen đủi, hắc ám. Bởi vậy, khi tỉnh lại, chàng ta phát hiện mình đang bị giam cầm ở trong một nhà lao kỳ quái.

Tử Khuê nằm ngửa trên sàn đá lạnh, ngơ ngác nhìn quanh, tưởng đã đến ngục A Tỳ, chờ Diêm Vương phán xử những việc mình làm trên trần thế.

Nhưng ánh dương quang nhàn nhạt và vài bông tuyết nhỏ đang len lỏi qua những ô cửa trên đầu tường thạch thất đã khiến chàng ngờ ngợ ra đây chẳng phải là cõi Âm.

Tử Khuê ngồi bật dậy, đưa tay lên ngực trái, lòng vui mừng khôn xiết khi nghe trái tim vẫn còn thổn thức những nhịp đập đều đặn. Đồng thời chàng cũng ngộ thức được mình hoàn toàn lõa thể, thân không mảnh vải.

Song điều ấy chẳng có nghĩa lý gì trước niềm hạnh phúc của kẻ vừa trở về từ “Quỷ Môn Quan”. Tử Khuê hân hoan xếp bằng vận khí điều tức. Gương mặt chàng mất dần vẻ rạng rỡ vì chân khí đã hoàn toàn thất tán, kinh mạch bế tắc nhiều chỗ.

Sau vài khắc hoài công, Tử Khuê thở dài chấp nhận hoàn cảnh. Chàng tự nhủ rằng chỉ cần sống sót về nhà là có cách chữa trị. Quyển “Huyền Hư Y Cảo” của sư thúc chàng, có đủ những dược phương thần diệu để phục hồi chân nguyên cho kẻ vừa bị trọng thương.

Sau đó, Tử Khuê bình tâm quan sát cái nhà tù kỳ dị này và tự hỏi ai đã đưa mình đến đây? Nếu là Lỗ phán quan thì sao không đưa chàng về thẳng nơi dưỡng thương gần nhất là Thiếu Lâm tự. Vậy phải chăng người xuống vực thẳm cứu chàng thuộc phe địch? Phe nhà sẽ không để bệnh nhân trần truồng trong một tòa nhà bằng đá lạnh tanh như thế này.

Dòng suy tưởng mênh mang đã bị cắt đứt khi ánh mắt Tử Khuê thâu tóm toàn bộ cảnh vật. Chàng đã ngờ ngợ ra lối kiến trúc kỳ lạ này.

Năm xưa, ân sư chàng, Vu Mộc chân nhân đã từng nói về những nỗ lực của nền y học Trung Hoa trong việc điều trị bệnh điên.

Bệnh điên tức thị bệnh phong, đứng đầu trong nan y tứ chứng: phong, lao, cỗ, lại. Người đời sau dễ gây nhầm lẫn khi dùng chữ “phong” để chỉ bệnh cùi hũi. Thật ra, “lại” mới chính là tên chính xác của bệnh cùi.

Trong từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh tiên sinh không hề có chữ “phong” nào mang ý nghĩa chỉ thị là bệnh cùi cả. Và ở mục chữ “lại”, tiên sinh giải thích rõ từ này chỉ bệnh phong cùi, bệnh hủi. Vì vậy, phải chăng người Giao Châu đã đọc trái chữ “phung” thành “phong” và chữ này hoàn toàn thuần Việt?

Chúng ta hãy trở lại căn thạch thất hình bát giác đang giam hãm Quách Tử Khuê. Nó rất giống với những lời mô tả của Vu Mộc chân nhân về một căn phòng trị bệnh điên. Trước mỗi vách của tòa nhà tám cạnh này đều có những tảng đá hình khối chữ nhật chôn dựng đứng. Dựa vào màu sắc, Tử Khuê có thể nhận ra chúng là đá nam châm.

Hấp lực với sắt thép của từ thạch là điều thần bí, kỳ diệu mà người Trung Hoa cổ tôn sùng. Ngoài việc dùng từ thạch để chế tạo ra kim chỉ Nam, họ còn hy vọng đặc tính kỳ lạ của đá nam châm sẽ chữa trị được bệnh điên cuồng.

Các thầy lang đã thiết lập những căn phòng có vách chất đầy những thanh từ thạch và nhốt bệnh nhân vào trong ấy. Họ mong rằng những hấp lực của đá nam châm sẽ điều chỉnh những lệch lạc trong cơ thể kẻ điên. Và là cháu chắt của Phục Hy, Văn Vương các thầy thuốc Trung Hoa đã phối hợp với nguyên lý Bát Quái. Cho nên các phòng các từ thạch đều mang hình bát giác tám cạnh.

Có thể phương pháp trị bệnh điên độc đáo ấy đã du nhập vào Trung Hoa từ Ba Tư theo con đường tơ lụa. Người ta nói người Ba Tư và người Địa Trung Hải cũng sử dụng cách điều trị này từ thời rất xa xưa.

Để khẳng định điều mình phỏng đoán, Tử Khuê đến xem xét một tảng đá ở gần nhất. Chàng mỉm cười méo mó khi tìm thấy một chiếc đinh rỉ sét đang bám chặt trên đấy.

Tử Khuê chán nản lẩm bẩm:

- Mình có điên đâu mà họ nhốt vào đây cơ chứ?

Chàng thẫn thờ nhìn lên nóc tòa thạch thất, nhận ra mái nhà làm bằng lớp lá dầy cộm, gắn chặt với tám thanh vì kèo vững chắc.

Trên mỗi bức tường, cách mặt đất chừng độ hai trượng, người ta trổ những hàng ô thông sáng vuông vức, cạnh chỉ độ gang tay. Nghĩa là Tử Khuê có phục hồi đầy đủ sức lực, nhảy lên tới chỗ ấy thì cũng vô phương thoát được.

Tử Khuê thở dài, lững thững dạo quanh căn phòng có đường kính ba trượng nọ. Chàng vui mừng vì lần lượt phát hiện ra những tiện nghi tối thiểu.

Ở một cạnh hơi tối tăm bởi không nhằm hướng nắng tỏa đến, Tử Khuê tìm thấy một bể nước nhỏ và một hồ xí. Bể nước thông với bên ngoài bằng một lỗ hẹp nhỏ ở đấy, tất nhiên chàng không thể chui lọt. Hồ xí thì khỏi bàn tới.

Cảm thấy khát, Tử Khuê cầm chiếc gáo gỗ trên thành bể múc nước mà uống vài ngụm. Nước lạnh đến ê răng vì đang là mùa Đông và có tuyết rơi.

Đi thêm vài bước, Tử Khuê phát hiện những mảnh vải rách nằm lây lất, có lẽ chúng là của cái gã bệnh nhân gã ở đây trước chàng?

Tử Khuê trố mắt kinh ngạc khi nhìn thấy quyển “Lôi Đình bí phổ” đang nằm trong mớ giẻ rách kia. Chàng hoan hỉ nhặt lên, thắc mắc hỏi vì sao kẻ thù không tịch thu bảo vật liên thành này? Chợt nhớ đến “Tỵ Lôi thần châu”, chàng liền xem xét bắp đùi mình thì thấy nó vẫn còn. Đang lúc tâm tư rối tự to vò, Tử Khuê chợt nghe tiếng người gọi văng vẳng:

- Nhị công tử! Tiểu tỳ đã mang cơm chiều đến.

Chàng ngỡ ngàng tiến về phía ấy, nhận ra rằng phía sau tảng từ thạch tối tăm nhất có cửa thông ra ngoài. Nếu giờ là buổi hoàng hôn thì hướng này thuộc hướng nam.

Các tảng từ thạch đều cao hơn đầu người, dầy độ hai gang và rộng gần sải tay. Chúng được chôn trước các bức vách đá và không sát, cách ba bước chân. Do khung cửa nhỏ hơn một chút, lại ở nơi thiếu ánh sáng nên nếu không đến gần, Tử Khuê sẽ khó nhận ra.

Lúc này, chàng thấp thỏm bước qua khung cửa, đi hết đoạn đường hầm chật hẹp dài độ gần mười trượng, gặp một cánh cửa gỗ dày, đai thép cực kỳ rắn chắc. Cửa vẫn đóng kín mít và mâm cơm được đưa qua một khe chữ nhật trổ trên phần dưới cánh. Tử Khuê còn nghe được tiếng dặn dò vọng lại, trong lúc ả tiểu tỳ quay gót:

- Nếu công tử không chịu uống thuốc giống như hôm qua, thì đừng mong thoát khỏi cảnh giam cầm.

Tử Khuê nhìn mâm cơm, thấy có một bát sứ Giang Tây rất đẹp, miệng hình lục giác. Mùi thơm và hơi nước nóng hổi phát ra từ khe nắp đậy. Chàng ngồi xuống, tò mò mở nắp bát thuốc và nếm thử.

Sau khi tiếp nhận quyển “Huyền Hư Y Cảo” của Cửu Hoa chân nhân, mẫu thân chàng trở nên say mê nghề thuốc. Bà đã lập ra cả một dược phòng trong trang với đầy đủ dược vị. Tử Khuê thường giúp mẹ trong việc bào chế nên thông thuộc nhiều loại thảo dược.

Giờ đây, chàng không khó khăn nhận ra mùi của những loại thuốc quý như: Sâm, hà thủ ô, tam thất, đỗ trọng, bá kinh thiên... Chúng rất tốt cho việc khôi phục nguyên khí, nên Tử Khuê khoan khoái uống cạn ngay.

Bỗng chàng sững sờ vì một ý niệm hãi hùng. Đó là việc ngày hôm qua vẫn còn một gã nhị công tử điên khùng chết tiệt nào đó đã hiện diện chốn này.

Và chàng sẽ phải trả lời thế nào với gia chủ về việc gã ta thì biến mất, còn mình thì có mặt?

Lúc uống nước, Tử Khuê đã soi mặt vào gáo gỗ, biết rằng khuôn mặt mình không hề thay đổi. Nghĩa là chẳng có việc Lỗ phán quan đưa hồn chàng nhập vào xác khác. Càng nghĩ càng bế tắc. Tử Khuê thở dài phó mặc, bưng cơm vào trong và chén sạch sẽ, chàng đang đói đến rã ruột.

Đêm xuống, ngoài trời gió Đông rít vù vù, tuyết lọt qua những hàng lỗ thôn hơi phía bắc. Nhưng lạ thay, Tử Khuê lại thấy ấm hơn lúc chiều, có lẽ nhờ bát thuốc quý kia. Chàng thao thức mãi không ngủ được vì hoang mang và thương nhớ người thân. Bỗng Tử Khuê nghe ở hướng nam có tiếng người trò chuyện nho nhỏ. Dường như gã gác cửa đang tâm sự với tình nhân, là ả nữ tỳ mang cơm đến lúc chiều.

Tử Khuê muốn biết thêm thông tin về hoàn cảnh hiện tại của mình, nên nhẹ nhàng lần đến đấy, ngồi nghe ngóng. Quả nhiên, câu chuyện của đôi tình nhân nọ có đề cập đến chàng, tức gã nhị công tử điên loạn.

Sau vài đêm, Tử Khuê đã loáng thoáng biết được nạn nhân đã phát điên năm mười hai tuổi, được đưa vào Từ thạch đã tám năm. Và may sao, sau nhiều năm dài hoài công chờ đợi, cách đây ít ngày, nhị công tử không còn múa may, đập phá hay chửi rủa, la hét nữa. Gã bắt đầu ăn uống đều đặn và còn thò tay cho phụ thân mình chẩn mạch.

Tiêu trang chủ cũng là thầy thuốc của con mình. Ông nhận ra quý tử Tiêu Mẫn Hiên sắp khỏi bệnh. Nhưng ông không dám thả gã ra ngay vì Mẫn Hiên có thể bất ngờ chạy trốn. Gã khùng ấy thông minh tuyệt thế, căn cơ võ học thuộc hàng thượng phẩm. Năm mười hai tuổi, gã học hết nghề của cha và chạy nhanh như sóc. Kiếm quyền có thể quên nhưng khinh công thì không.

Hơn nữa, trong suốt mấy năm qua, Tiêu trang chủ đã bồi bổ cho con trai bằng trăm thứ thuốc quý nên sức lực Mẫn Hiên rất dồi dào. Thỉnh thoảng Trang chủ cho y nhịn đói vài bữa rồi mới đưa cơm canh tới cho thuốc vào thế là y nuốt sạch.

Trong đợt cuối năm này, Tiêu trang chủ đã sử dụng đến thảo dược ngàn năm và những vị thanh tâm, chia ra uống trong vòng một tháng. Đến rằm tháng mười một tới, nếu bệnh của Mẫn Hiên khả quan hơn thì được mang ra ngoài điều trị tiếp.

Những thông tin nọ đã giúp Tử Khuê bình tâm. Sau tám năm không gặp mặt, chắc hẳn họ Tiêu chẳng thể nhận ra sự khác biệt giữa chàng và Mẫn Hiên.

Vả lại, trong Từ Thạch ốc nào có ai khác ngoài chàng! Họ bắt buộc phải tin chàng là con trai họ. Sau khi được tự do, Tử Khuê sẽ tìm cách trốn về Hứa Xương.

Để đề phòng bất trắc, Tử Khuê đã học thuộc lòng “Lôi Đình bí phổ” rồi xé vụng, mỗi ngày một ít, thả vào hồ xí.

Những chén thuốc quý của Tiêu gia trang đã giúp Tử Khuê dần dần tụ tập được chân khí, đả thông vài kinh mạch bị bế tắc. Vì rảnh rỗi và cũng vì cuộc phó ước với Nhạc Cuồng Loạn vào ngày rằm tháng hai sắp tới, Tử Khuê đã tham luyện võ công của Lôi Đình thần cung. Chẳng cần tinh thông, chàng chỉ cần nắm vững từng chiêu thức để dễ dàng đối phó. Vu Mộc chân nhân là tôn sư trong nghề phá giải võ học người khác, nên Tử Khuê không hề gặp khó khăn khi tìm cách khắc chế võ học Lôi Đình.

Lạ thay, phần khinh công trong bí phổ lại có đến hai pho gồm “Lôi Đình thân pháp” và “Tiên Nữ Tùy Phong”. Tử Khuê theo khẩu quyết của pho thứ hai mà luyện thử thì phát hiện nó cực kỳ thần diệu và cũng chính là tuyệt kỹ mà Trác Thanh Chân đã thi thố.

Chàng phỏng đoán đấy là sở học Hoành Sơn Tiên Nữ, vợ bé Lôi Đình Thần Đế Quân. Hoành Sơn là một ngọn núi nhỏ vùng Tây Bắc Thiểm Tây, gần ranh giới Nội Mông.

Tử Khuê ngẩn người tự hỏi:

- Phải chăng Trác Thanh Chân chính là di nữ của Lôi Đình Đế Quân và Hoành Sơn Tiên Nữ nên mới sở hữu thủ lục võ công của cả hai? Một cung nữ bình thường thì làm sao có được quyển bí kíp trị giá liên thành này?

Khi hồi tưởng lại câu nói của ả họ Trác, chàng càng tin chắc vào giả thiết của mình. Thanh Chân vốn ở Hoành Sơn với mẹ, chỉ đến Thần cung để trộm “Hắc Ngọc tiên đào”. Nàng không cư trú tại đấy nên Nhạc Cuồng Loạn không biết mặt.

Khi người ta chết đi sống lại thì luôn tỏ ra bao dung, rộng lượng hơn trước. Do vậy, Tử Khuê chẳng hề trách Thanh Chân đã lừa dối mình. Chàng còn cảm thấy nhớ nhung người vợ bất đắc dĩ, một nàng tiên bé bỏng, ngây thơ.

Gần giữa tháng mười một, Tử Khuê đã khôi phục được năm phần nội lực và thông hiểu “Lôi Đình bí phổ”. Chàng cũng luyện thành pho “Tiên Nữ Tùy Phong”, khinh công tăng tiến vượt bậc. Tuy nhiên, khi thi triển nó, chàng không giống ai, dáng bộ ẻo lả như là Thanh Chân.

Chiều mười bốn, Tử Khuê đoán rằng đã đến lúc nhận thuốc nên ra của nam chờ sẵn. Lát sau, chàng nghe có tiếng chân quen thuộc của ả tỳ nữ Tiểu Sương. Khi ả còn cách cửa gỗ chừng hơn trượng, thì Tử Khuê phát hiện thêm tiếng chân nhẹ nhàng cùa người thứ hai và người này lên tiếng:

- Tiểu Sương! Hôm nay nhà bếp cho nhị đệ ta ăn những món gì vậy?

Tiểu Sương đình bộ quay lại, vui vẻ nói:

- Bẩm đại tiểu thư! Cũng chỉ là những món thường lệ. Có điều gần đây nhị công tử ăn nhiều quá, món nào cũng chẳng chê.

Sau gần một tháng lắng nghe, Tử Khuê đã khá thông thạo tình hình của Tiêu gia trang. Chàng biết rằng nàng đại tiểu thư kia tên là Tiêu Dị An, tuổi đã hai mươi bốn, tuy xinh xắn nhưng ế chồng vì tính tình lạnh lùng, khắc nghiệt.

Dị An là con của đại phu nhân đã quá cố, còn Mẫn Hiên là con của người kế thất.

Thính giác của Tử Khuê cực kỳ linh mẫn, nghe được những âm thanh do Dị An gây ra khi mở lồng đậy cơm. Và ả ế chồng kia hít hà khen thơm rồi vui vẻ bảo:

- Trông ngon lành lắm. Ta rất hài lòng.

Tiêu Dị An quay gót bỏ đi, còn Tiểu Sương tiếp tục mang mâm cơm đến cửa Từ Thạch ốc. Khi ả chuẩn bị đưa mâm cơm đút qua khe, chợt lẩm bẩm mấy câu:

- Lạ thật! Sao đại tiểu thư đột nhiên quan tâm đến nhị thiếu gia thế nhỉ?

Mẫn Hiên mà khỏi bệnh thì nàng ta mất quyền thừa kế chứ có lợi lộc gì?

Lúc đầu, Tử Khuê không hề bận tâm đến lời nói ấy. Song khi bưng chén thuốc lên uống, chàng nhận ra ngay có mùi lạ. Sau gần ba chục chén, Tử Khuê đã quá quen thuộc hương thơm của thuốc và chàng chợt nhớ đến thái độ lạ lùng của Tiêu Dị An qua nhận xét của Tử Sương.

Hồi tưởng lại hành vi của anh rể Nhậm Đức Tín, chàng ngần ngại không dám uống chén thuốc. Họ Nhâm có thể vì số tài sản thừa kế mà dám bán đứng chàng thì biết đâu Dị An cũng sẵn sàng đầu độc Mẫn Hiên để giành lấy cơ nghiệp?

Để kiểm chứng, Tử Khuê đưa mâm cơm vào trong đặt xuống sàn. Sau đó, chàng tìm bắt một con thằn lằn trên vách. Tám năm không quét dọn, nơi đây cực kỳ dơ bẩn và đầy bụi bậm. Trước khi phát điên, nhị công tử đã có hai mươi năm công lực dù tuổi mới mười hai. Tiêu trang chủ đã hết dạ tài bồi cho nhị công tử, dùng kỳ trân dị dược để biến Mẫn Hiên thành cao thủ. Có thể gã đã lâm bệnh vì sự ưu ái đó của cha già. Cho nên khi phát cuồng, gã thừa sức đập chết bất cứ ai vào quét dọn.

Khi tiếp quản cơ ngơi ô uế này, Tử Khuê cũng không dám cải thiện môi trường vì sợ lộ. Chàng chỉ phủi sạch chỗ mình nằm ngủ. Loài thằn lằn thì chẳng quản sạch dơ, vui vẻ sinh sôi nảy nở rất nhiều, bám đầy trên tường thạch ốc. Tử Khuê vươn mình thi triển phép “tụ khí thành ti”, búng rơi một con khá lớn. Tử Khuê vận công có chừng mực nó không chết, tính cựa quậy nhưng bị ngón tay của chàng khống chế không nhúc nhích.

Tử Khuê dùng miệng thổi một ít nước thuốc thổi vào miệng con vật đáng thương. Khi được thả ra, nó bò loạn xạ như điên cuồng, nhưng chỉ lát sau là bất động.

Tử Khuê xem xét lại, biết nó đã chết hẳn, liền buông tiếng thở dài, ngán ngẩm cho thói đời.

Nửa đêm, Tử Khuê chợt phát hiện tiếng động rất nhẹ ở hàng ô chữ thông gió trên vách hướng đông. Chàng liếc nhanh về hướng ấy và thấy thấp thoáng ánh mắt ai đó.

Biết Dị An quay lại thăm dò kết quả, Tử Khuê giả vờ ngáy đều. Dị An nghe được, thất vọng lẩm bẩm thành lời:

- Lạ thật! Chẳng lẽ Hà thủ ô ngàn năm đã phá giải được độc tính của “Cuồng Tâm tán”?

Ả bực bội buông mình xuống đất, bỏ đi mất. Tử Khuê suy nghĩ miên man đến cục diện éo le ngày mai khi phải đóng vai Tiêu Mẫn Hiên.

Chàng đã tính chuyện bỏ chạy ngay khi vừa ra khỏi cửa Từ Thạch ốc.

Nhưng hiện giờ công lực của chàng chỉ còn một nửa, và Kinh Túc Dương Minh Vị vẫn bị bế tắc ở huyệt Lương Khâu, phía trên đầu gối chân phải, không chạy nhanh được. Nghĩa là Tử Khuê phải ở lại thêm một thời gian, chờ hoàn toàn bình phục rồi mới ra đi.

Sáng hôm sau, Tử Khuê giật mình tỉnh giấc vì tiếng ai kêu réo:

- Mẫn nhi! Con mau ra cho phụ thân xem bệnh trạng trong người thế nào?

Tử Khuê choàng dậy và súc miệng rồi mới chạy ra, chàng hồi hộp đưa tay qua khe hở trên cánh cửa.

Tiêu trang chủ xem mạch rất lâu, cuối cùng nghiêm nghị nói với ai đó:

- Phu nhân! Lão phu đoán chắc rằng bệnh tình của Hiên nhi đã thuyên giảm được sáu bảy phần. Cứ uống thuốc thêm một tháng nữa là có thể đưa ra ngoài.

Thì ra Trang chủ phu nhân cũng hiện diện. Nghe trượng phu nói xong, bà bật khóc trách móc:

- Sao tướng công bảo rằng hôm nay Hiên nhi sẽ được chấm dứt cảnh giam cầm đầy đọa, mẫu tử trùng phùng? Thiếp đã quá mỏi mòn vì chờ đợi, vì thương xót con thơ, chắc không sống nổi cho đến lúc con thơ bình phục.

Tiêu trang chủ rầu rĩ biện bạch:

- Tuy thể trạng rất tốt song không hiểu sao Hiên nhi cứ lặng thinh, khiến lão phu chẳng yên tâm. Nếu thả ra ngay bây giờ, lỡ nửa đêm nó phát cuồng chạy trốn thì ai mà đuổi kịp? Lão phu phát hiện trong người Hiên nhi có đến hơn ba chục năm công lực. Xiềng xích con thơ thì lão phu chẳng nỡ, bằng như điểm huyệt thì vô ích vì năm xưa Hiên nhi đã học phép “Đạo chân xung huyệt”, tự động hóa giải chỉ sau nửa khắc.

Trang chủ phu nhân tuyệt vọng, quỳ xuống, nắm chặt tay Tử Khuê, vuốt ve và khóc lóc:

- Hiên nhi ơi! Tám năm nay lòng mẫu thân đau đớn như ai cào ai xé, lúc nào cũng mong nhớ đến con thơ, mong có ngày con tỉnh trí. Sao Hiên nhi không thương xót mẹ hiền mà thoát khỏi cảnh u mê?

Rồi bà gục mặt vào hai bàn tay Tử Khuê mà khóc ngất. Giọng bà khá giống Kỹ nương và vô cùng tha thiết khiến lòng chàng xúc động. Bất giác, Tử Khuê bật miệng, bùi ngùi nói nhỏ:

- Xin mẫu thân đừng khóc nữa!

Nghe câu nói ấy, Trang chủ phu nhân hoan hỉ phi thường, quay sang bảo chồng:

- Tướng công có nghe gì không? Hiên nhi đã nhận ra thiếp!

Tiêu trang chủ hân hoan tiếp lời:

- Lão phu cũng đã nghe rồi, để ta hỏi Hiên nhi vài câu cho rõ đã.

Ông nghiêm nghị hỏi:

- Hiên nhi! Con còn nhớ phụ mẫu danh tính là gì không?

Tử Khuê không biết vì bọn gia đinh, nô tỳ chỉ gọi là Trang chủ và phu nhân chứ đâu dám gọi tên của họ. Tử Khuê bí quá đáp lại:

- Hài nhi nhờ tiếng khóc bi ai của mẫu thân mà hồi tỉnh lại, nhất thời chẳng thể nhớ ra danh tính của song thân.

Cây nói gãy gọn hợp đạo lý này của chàng đã quá đủ để người mẹ đáng thương kia tin rằng con mình đã khỏi bệnh. Bà mếu máo hỏi chồng:

- Tướng công còn chờ gì nữa mà không mở khóa cửa?

Tiêu trang chủ cẩn thận như vậy là vì sợ bất trắc sau này. Mẫn Hiên mà thoát ra, chạy loạn xa khắp nơi thì cà thiên hạ biết ông có người con điên loạn, tổn hại thanh danh cao quý của một dòng họ mà mấy đời tập Tước Hầu. Tám năm nay, Tiêu trang chủ luôn phải nói dối người ngoài rằng Mẫn Hiên được gởi đi học võ phương xa.

Dù lòng còn phấp phỏng nhưng ông vẫn phải chiều ý người vợ trẻ đẹp, hiền thục. Nhị phu nhân Từ Lan nhan sắc phi phàm và trẻ hơn chồng đến hai mươi tuổi. Bà còn ha sinh một nam tử là Mẫn Hiên khiến tông tự họ Tiêu không đứt đoạn. Do vậy, Tiêu trang chủ yêu thương bà tha thiết.

Biết cửa sắp được mở, Tử Khuê vội nói:

- Mẫu thân à, hài nhi cần một bộ y phục.

Từ nương bật cười:

- Mẫu thân có mang theo sẵn trong người nhưng vì quá vui mừng mà quên mất.

Nói xong, bà đút qua khe một bọc vải có tấm trường bảo gấm xanh, áo trong, đồ lót và đôi giày vải. Lạ thay, chúng khá vừa vặn dù Từ nương chưa bao giờ nhìn thấy vóc dáng Tử Khuê.

Khi cửa mở toang, Tử Khuê mới hiểu ra nguyên nhân. Thân hình chàng và Tiêu trang chủ có kích thước tương tự.

Chàng chưa kịp quan sát kỹ gương mặt của lão già quắc thước, râu ba chòm oai vệ kia thì bị một phu nhân áo đen ôm chầm lấy. Chàng thoáng nhận ra rằng Tiêu phu nhân khá giống mẹ mình.

Những ngày sau đó, Tử Khuê không hề gặp phải khó khăn gì. Ai cũng tin tưởng và vui mừng khi thấy nhị công tử đã bình phục, trở thành thanh niên tráng kiện, tuấn tú.

Chỉ mình đại tiểu thư Tiêu Dị An là gượng cười, buồn nhiều hơn vui.

Nhưng nàng không còn cơ hội để ám hại đứa em cùng cha khác mẹ nữa. Lúc nào cũng có bốn người lẫn quẫn cùng nhị công tử, bất kể ngày đêm. Họ có trách nhiệm khống chế Mẫn Hiên khi gã có dấu hiệu phát cuồng trở lại.

Và Tử Khuê phát hiện ra rằng Tiêu gia trang đầy dẫy cao thủ. Từ vị Tổng quản già nua đến gã gia đinh gác cổng. Chàng không thắc mắc mà chỉ dặn lòng thêm cẩn thận. Lòng thương con trời biển của Từ nương đã khiến Tử Khuê gọi bà là mẹ mà không hề ngượng miệng.

Từ nương chăm sóc chàng như đứa trẻ thơ, luôn kề cận kể lể mọi việc trong trang, cố giúp ái tử sớm hồi phục ký ức một cách trọn vẹn.

Trí nhớ của Tử Khuê thì mẫn tiệp phi thường nên chẳng hề quên cái gì cả.
Chỉ sau nửa tháng, chàng đã thông thuộc tên tuổi từng người.

Tất nhiên, giờ thì chàng biết Tiêu trang chủ tên gọi là Tiêu Lạp Dân, tuổi chẵn sáu mươi. Ông ta còn là Ngân Diện Hầu đời thứ tư của Minh Triều.

Khi Tử Khuê giả vờ không nhớ, thắc mắc về cái tước hiệu kỳ quái ấy thì được Từ nương giải thích:

- Cao tằng tổ Tiên Phương là một kiếm khách. Ông ta thường mang một chiếc mặt nạ che đến mũi mà hành hiệp, nên được người võ lâm xưng tụng là Ngân Diện Kỳ Hiệp. Khi Thái Tổ hoàng đế Chu Nguyên Chương tiến đánh Sơn Tây, trúng mai phục của quân Mông Cổ ở gần Tỉnh Châu, sắp mất mạng thì được Tiên Phương cứu giá. Sau đó, họ Tiêu theo phò Minh Thái Tổ cho đến khi giang sơn được thu hồi trọn vẹn. Lúc luận công ban thưởng, được phong hầu, Tiêu cao tằng tổ đã xin cái danh hiệu Ngân Diện Hầu. Minh Thái Tổ chuẩn tấu, sai bộ công đúc một chiếc mặt nạ bằng bạc, pha thêm vàng và đồng cho cứng cáp, trên khắc dấu Ngọc Tỷ, rồi tặng cho họ Tiêu.

Bà mỉm cười kết luận:

- Hiên nhi biết không? Họ Tiêu chúng ta đã chuốc lấy khổ, vì lúc nào muốn đeo Kim bài, xưng Tước Hầu, thì mãi mang luôn cái mặt nạ nặng trịch, lạnh lẽo ấy. May cho ta là Hầu Tước phu nhân thì không phải mang mặt nạ.

Quen thói thân mật vui vẻ với mẹ hiền, Tử Khuê buột miệng nói đùa:

- Quả là may thật! Nếu không thì thiên hạ đã chẳng được chiêm ngưỡng dung nhan tuyệt thế của mẫu thân.

Từ nương rất cao hứng vì được ái tử tán dương, song giả vờ trừng mắt mắng yêu:

- Hiên nhi chớ bẻm mép! Ta đã già nua còn đẹp đẽ cái nỗi gì nữa.

Chợt bà phát hiện mặt mình đang nóng bừng lên vì hãnh diện, vội đứng dậy mở tủ, lấy ra môt quyển sách mỏng, trao cho con rồi nói:

- Hiên nhi! Đây là bí lục võ công nhà ta, con hãy ôn luyện lại cho thuần phục để phụ thân vui lòng.

Ngoài bìa ghi bốn chữ “Tiêu gia bí kíp” song khẩu quyết bên trong giống hệt “Lôi Đình bí phổ”, chỉ khác ở chỗ không có pho “Tiên Nữ Tùy Phong”, và hai pho kiếm chưởng thì thiếu sáu, bảy chiêu lợi hại nhất. Tử Khuê kinh ngạc khôn cùng nhưng không dám để lộ ra.

Vẻ mặt thẫn thờ của chàng đã khiến Từ nương ngộ nhận. Bà nở nụ cười hiền hòa và an ủi:

- Năm xưa, con đã từng thuộc lòng bí kíp này, cứ từ từ nghiên cứu sẽ nhớ lại thôi. Phần đường lối của chiêu thức, ta sẽ nhắc nhở, hướng dẫn cho.

Té ra Từ nương là bậc kỳ nữ xuất chúng, nắm vững tinh túy tuyệt học của Lôi Đình. Do bẩm sinh bất túc nên nội công chỉ có thành tựu giới hạn. Nếu không, bà đã là một cao thủ thượng thừa.

Trong suốt gần một tháng trời, bà cẫn mẫn dạy cho Tử Khuê từng thức kiếm, từng đường quyền. Nhờ vậy mà chàng tiếp thu rất nhanh. Kỳ công này chẳng làm ai tán thưởng vì họ cho rằng nhị công tử chỉ nhớ lại những gì học thuở niên thiếu. Song họ sẽ kinh ngạc nếu biết chàng thông thạo võ học Lôi Đình hơn cả Tiêu trang chủ. Chàng chỉ thiếu tuyệt kỹ “Phách Không chưởng lực” vì kém hỏa hầu.

Bề ngoài, vẫn sử xự như mình chưa hồi phục trọn vẹn, ít nói và thỉnh thoảng lại mỉm cười vô cớ. Thật ra, trong lòng chàng rối như tơ vò chẳng biết giải quyết hoàn cảnh éo le này thế nào. Chàng thật tâm yêu thương Từ nương, không muốn bà phải khổ tâm thêm nữa. Và dẫu có trình bày sự thật thì cũng chẳng có ai tin, họ sẽ cho rằng bệnh chàng tái phát. Giả sử họ tin thì càng bội phần tai hại, vì chàng sẽ lấy đâu ra một gã Mẫn Hiên mà trả họ.

Cuối cùng, Tử Khuê quyết định đào tẩu trong dịp tết nguyên đán. Và chàng sẽ để lại một phong thư, trấn an vợ chồng Tiêu trang chủ rằng mình đi du ngoạn, mở rộng kiến văn. Về đến nhà, chàng sẽ thỉnh cho được Lỗ phán quan, hỏi cho rõ nội tình và hạ lạc của Tiêu Mẫn Hiên. Nếu gã còn sống thì chàng bắt họ Lỗ mang gã trả về Từ Thạch ốc.

Tử Khuê đã nhiều lần khấn vái, gọi tên nghĩa ca mà không thấy hiện ra.

Chàng thầm trách lão đem con bỏ chợ, đưa chàng vào cảnh ngộ oái ăm này.

Do từ đầu đã nuôi ý định đào tẩu nên Tử Khuê dành nhiều thời gian lang thang khắp Tiêu gia trang, tức Hầu Phủ. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương xuất thân từ chốn bần hàn, thảo mãng nên cũng có chút máu khôi hài. Khi Tiêu Chương chê Tước Trung Dũng Hầu và đòi đổi thành Ngân Diện Hầu thì Minh Thái Tổ hơi phật ý. Ông ta chuẩn tấu song chơi lại bằng cách bắt họ Tiêu chỉ được xưng Hầu khi mang mặt nạ.

Đeo ngân diện cả ngày thì bất tiện, nhất là lúc Đông về, bạc sẽ lạnh tanh, da mặt khó chịu vô cùng. Thế nên con cháu họ Tiêu đành phải cho gia nhân, tỳ nữ gọi mình là Trang chủ.

Cố sự trên giải thích việc vì sao chủ nhân Hầu phủ lại không được bọn người nhà xưng hô là Hầu Tước Đại Nhân. Hầu phủ của dòng họ Tiêu không nguy nga tráng lệ, song diện tích rất lớn, tường xây cao đến hai trượng, án ngữ mọi sự dòm ngó của người bên ngoài. Phía sau phủ là đại hoa viên rộng đến vài mẫu, trồng gần trăm cây Thủy Sam cổ thụ tuổi đến gần hoa giáp.

Thủy Sam là loại cây thân gỗ lớn, rụng lá, thuộc họ Sam, có thể cao đến mười hai trượng. Thân chính cao thẳng, cành nhánh vươn ngay về hướng nam bắc, đông tây xen kẽ nhau giống tháp nhọn. Lá Thủy Sam có dạng dày, dẹt, mọc hai bên, nhánh nhỏ, màu lá thay đổi theo mùa. Mùa Xuân lá màu nõn chuối non tơ mềm mại. Mùa Hè lá trở nên xanh biếc mượt mà đáng yêu. Mùa Thu lá chuyển vàng, mùa Đông chuyển sang màu hồng rồi rụng dần.

Thủy Sam là loại có sức sống mãnh liệt, tính thích ứng rộng rãi, sinh trưởng nhanh, mỗi năm cao thêm từ gang rưỡi đến bốn gang tay. Bởi vậy, Thủy Sam là báu vật trong ngành rồng rừng lấy gỗ. Thủy Sam là loại cây đặc hữu của Trung Hoa, có ở miền Đông Bắc từ nhiều triệu năm trước. Gần năm trăm năm sau, thời nhà Minh, người ta tưởng rằng Thủy Sam đã tuyệt chủng thì lại thấy hơn một ngàn cây ở huyện Lợi Xuyên, Hồ Bắc.

Tất nhiên là Tử Khuê không cần biết những điều ấy về Thủy Sam. Giờ đã là tháng chạp, nên cây chẳng còn chiếc lá nào. Chàng ngắm nhìn những cành cây trơ trụi, tưởng nhớ đến Quách gia trang, nơi cũng có vài cây như thế và chàng thầm tính toán việc trèo lên cây mà nhảy ra ngoài.

Hàng Thủy Sam cuối đại hoa viên cách tường bốn trượng bằng một con đường trải sỏi phẳng phiu. Trên đường ấy, lúc nào cũng có bọn gia nhân dắt chó đi tuần cả ngày lẫn đêm.

Ngoài ra còn có cả những chốt canh cố định, nhãn tuyến bao quát suốt con đường. Nếu Tử Khuê băng qua đường mà vượt tường thì sẽ bị phát hiện ngay. Và khi nhà họ Tiêu dùng chó đánh hơi mà truy đuổi thì chàng khó thoát nổi. Chàng cần vài khắc thời gian và không để đối phương biết mình ra bằng lối nào.

Tử Khuê gật gù hài lòng tin rằng từ ngọn cây cao mười trượng kia chàng có thể vượt qua khoảng cách bốn trượng ra ngoài tường một cách êm thắm.

Thời điểm thích hợp sẽ là những ngày xuân, khi người ta vui say mừng năm mới.

Tiếng chân người phía sau nhắc nhở Tử Khuê nhớ trở ngại cuối cùng, đó là sự giám sát của hai gã cận vệ. Sau này, Tiêu trang chủ đã yên tâm hơn nên giảm số người canh chừng xuống còn hai. Nhưng hai gã này có võ công khá nhất, cơ trí cũng tinh minh, già dặn, hành vi cẩn trọng, chu đáo.

Họ là anh em ruột, mang họ Từ do phụ thân nhị phu nhân nuôi dưỡng.

Vì mồ côi sớm, không biết cha mẹ là ai nên hai gã này mang họ ân nhân.

Từ lão gia nuôi trẻ mồ côi vì lòng nhân, chứ không phải với ý định nhận nghĩa tử, nên hai gã vẫn chỉ là nô bộc. Người giàu có rất thận trọng trong việc nhận con nuôi, để phòng hậu họa giành gia sản sau này, nhất là khi họ đã có con ruột.

Lúc Từ Lan xuất giá về làm dâu nhà họ Tiêu thì hai gã cũng đi theo vì trước giờ quen hộ vệ nàng. Tuy đã chính thức là gia đinh của Hầu phủ song họ luôn giành lấy trách nhiệm bảo vệ nhị phu nhân. Về sau, Từ nương đã sai họ bảo vệ Mẫn Hiên tức Tử Khuê.

Từ Phong ba mươi chín, Từ Vũ ba mươi tám tuổi, cao trung bình nhưng cơ thể rắn chắc, lực lưỡng. Tên thì hiền lành, song sắc diện lạnh như tiền, mắt loang loáng, thần sắc rất đáng sợ dù ngũ quan đoan chính, chẳng có chút dị dạng. Và dường như họ chỉ tươi cười khi tiếp cận Từ nương và Mẫn Hiên.

Tử Khuê đủ trình độ để biết hai gã ấy là đại cao thủ, cả kiếm thuật lẫn khinh công. Cảm động trước lòng trung thành của họ đối với Từ nương mà chàng yêu mến hai gã. Ngược lại, phong thái đôn hâu, điềm nhiên và dễ thân cận của Tử Khuê đã chinh phục được hai anh em họ.

Trang chủ phu nhân thấy vậy hài lòng khen:

- Không ngờ khi trưởng thành, Hiên nhi lại có được tính tình dễ mến như vậy. Năm xưa ta cứ lo khi lớn lên, ngươi sẽ cao ngạo, lạnh lùng như Dị An.

Nhưng đến tối hai mươi bốn tháng chạp thì xảy ra một biến cố đã làm đảo lộn hoàn toàn những mưu tính của Tử Khuê.

Sau nhiều đêm suy nghĩ, chàng đã có thể khẳng định rằng tám năm trước, chính đại tiểu thư Tiêu Dị An đã hạ độc Mẫn Hiên bằng “Cuồng Tâm tán”. Và sau này, nếu Từ nương còn sinh nở được lần nữa thì đứa bé ấy cũng sẽ bị Dị An ám hại. Trước khi ra đi, Tử Khuê muốn đền đáp ân tình của Từ nương nên định sẽ bày cho bà cái phương pháp khôn khéo mà mẫu thân chàng đã sử dụng.

Cuối canh hai, Tử Khuê đi sang phòng của Trang chủ phu nhân ở sát vách, cùng chung dãy bắc sương. Tiêu trang chủ vắng nhà đã hơn nửa tháng.

Từ nương hớn hở hỏi:

- Trời lạnh căm căm sao Hiên nhi không đi nghỉ sớm, còn sang đây làm gì?

Tử Khuê ngồi xuống đôn gỗ hòa nhã đáp:

- Hài nhi buồn về thái độ lạnh nhạt của đại thư nên khó ngủ. Hài nhi mong mẫu thân lên tiếng, chia cho nàng ta một nửa gia sản để tránh cảnh nồi da xáo thịt.

Từ nương mỉm cười chua chát:

- Hiên nhi lầm rồi! Từ nhiều năm nay phần thừa kế đã được chia đôi. Dị An ghét ngươi vì muốn tranh giành chức Hội chủ Hoạch Đầu hội đấy thôi.

Tử Khuê bàng hoàng như bị sét đánh ngang tai, chết điếng cả người. Ai lại có thể ngờ đến việc Ngân Diện Hầu phủ lại là sào huyệt của tổ chức giết thuê lừng danh Trung Thổ cơ chứ?

Song Tử Khuê phải mau mau trấn tĩnh, cố không để lộ sự sợ hãi và kinh ngạc tột độ của mình. Chàng đang là Mẫn Hiên, mới tỉnh táo sau tám năm mê muội, không biết gì cả.

Tử Khuê đứng lên, giả vờ đi khép cánh cửa sổ, tranh thủ chút thời gian cho sắc diện bình thường trở lại. Chàng quay về quế rồi từ tốn nói:

- Mẫu thân chưa từng nhắc nhở nên hài nhi không nhớ nổi việc này.

Từ nương nhìn chàng bằng ánh mắt xót xa và bảo:

- Thật tâm ta cũng muốn Hiên nhi quên hẳn vì không dính dáng gì đến cái tổ chức nhơ nhớp ấy. Nhưng số trời đã định, ta không sao cưỡng lại được.

Ngày mai phụ thân ngươi sẽ hồi phủ và tổ chức đại hội thường niên. Ngươi sẽ được giới thiệu với tư cách Thiếu hội chủ và tham gia điều hành sự vụ để vài năm nữa kế vị ngôi Hội chủ.

Tử Khuê nghe gáy lạnh toát, rầu rĩ khoái thác:

- Hài nhi mới khỏi bệnh, chỉ muốn được đi du ngoạn đó đây cho bõ tám năm tù đày, chẳng muốn làm gì cho mệt trí. Mong mẫu thân nói giúp vài câu với phụ thân.

Từ nương buồn bã lắc đầu:

- Dẫu mẹ có thương con thì cũng đành bất lực vì tính nết cha ngươi vô cùng độc đoán. Tốt nhất là Hiên nhi cứ giả đò vui vẻ tham dự. Sang Xuân, ta sẽ mượn cớ về chơi quê ngoại, đưa Hiên nhi đi thăm thú những thắng cảnh Trung Nguyên.

Bà dừng lời, nhấp hớp trà thơm rồi nói tiếp:

- Còn một lý do bắt con phải làm vui lòng phụ thân, đó là tính mạng của Từ Phong và Từ Vũ. Hồi tháng chín, họ được cử đi ám sát một nhân vật ở An Dương nhưng đã không hoàn thành nhiệm vụ. Hai gã ấy chẳng nỡ ra tay vì đối tượng có đến bảy đứa con thơ nhao nhác. Dị An là người khắc nghiệt, tàn ác, lại đang chấp chưởng Hình đường, tất sẽ không tha cho họ. Chỉ có Hiên nhi là đủ tư cách cứu họ khỏi án tử.

Bà nhìn chàng với vẻ khẩn cầu:

- Từ Phong, Từ Vũ tuy là nô bộc nhưng đã lớn lên với mẹ, tình nghĩa thâm sâu. Mong Hiên nhi hãy vì ta mà cứu họ.

Tử Khuê thấy hai gã sát thủ còn giữ được lòng nhân ái vô cùng cảm phục và thương mến. Chàng khẳng khái trấn an Từ nương:

- Mẫu thân yên tâm, hài nhi đoan chắc sẽ gỡ tội được cho hai người ấy.

Từ nương hài lòng, cùng Tử Khuê trò chuyện mãi đến gần sáng mới đuổi chàng về phòng.

Tử Khuê lấy cớ hỏi han nội tình rất cặn kẻ, hiểu được nhiều bí ẩn trọng đại. Thì ra, Tiêu Lập Dân là sư đệ, đồng thời là em rể Lôi Đình cung chủ Trác Ngạn Chi. Đôi lúc ông cũng muốn nghe lời Từ nương, giải tán Hoạch Đầu hội, song bị trưởng nữ Dị An phản đối. Nàng ta có hậu thuẫn là cậu ruột, tức Lôi Đình Đế Quân, nên không sợ cha mình.

Càng hiểu rõ hoàn cảnh hiện tại, Tử Khuê càng thêm hoang mang, lo sợ, dù biết có trốn vế Quách gia trang cũng khó mà yên thân. Chẳng lẽ chàng cứ phải trốn tránh suốt đời, không dám lộ mặt?

Nỗi buồn phiền cùng cực đã biến thành sự bi phẫn, Tử Khuê nghiến răng thề rằng sẽ ở lại, tìm cách tiêu diệt xong cái tà hội ác độc này. Đây cũng là nghĩa vụ của võ sĩ đối với giang hồ và bách tính.

Chủ ý ấy đã khiến Tử Khuê bình tâm lại, thiếp đi lúc canh tư.

Quả nhiên trưa hôm sau, Tiêu Lạp Dân về đến phủ và ra lệnh triệu tập toàn bộ thủ hạ, trong tòa đại sảnh rộng thênh thang lúc đầu giờ Tuất, tối mai.

Ông đã trò chuyện với Mẫn Hiên, tức Tử Khuê về đại hội này. Chàng mỉm cười đáp ngây ngô:

- Phụ thân cứ yên tâm. Hài nhi đã được mẫu thân chỉ giáo qua. Được làm thiếu chủ thì sung sướng biết bao, tha hồ ra oai với thiên hạ.

Tiêu Lạp Dân thở dài ngán ngẩm, thương cho ái tử chưa hoàn toàn bình phục, ngây thơ cứ y như trẻ con vậy. Nhưng tin vào tài y thuật của mình, Lạp Dân không lo lắng lắm. Ông hỏi han, dặn dò con trai một lúc rồi mới dời gót.

Ông ta đi rồi, Tử Khuê ngồi nhìn qua song cửa hướng tây, ngắm cảnh tuyết rơi mà thương nhớ người thân nơi cố quận. Chàng hiểu rằng còn rất lâu mới được cùng họ đoàn viên.

Là kẻ thuần phác, ít mưu mẹo, Tử Khuê không tài nào tìm được cách thoát khỏi mớ bòng bong này, kể cả việc làm sao mà phá tan Hoạch Đầu hội mà không khiến cho Lôi Đình Đế Quân nghi ngờ. Sực nhớ đến gã anh vợ xảo quyệt, đa mưu túc trí là Vô Tướng Quỷ Hồ Dịch Quan San, Tử Khuê tạm yên lòng. Sang Xuân, chàng sẽ tìm cách rời khỏi Hầu phủ, lẻn về Hứa Xương cùng gã bàn bạc kế sách.

Tiếng tằng hắng của Từ Vũ ở bên ngoài khiến Tử Khuê chạnh lòng. Sau cuộc đàm đạo vừa rồi với Tiêu trang chủ, chàng không còn tự tin nữa. Ông đã nghiêm nghị dặn dò chàng không được can thiệp vào việc trừng phạt hai gã họ Từ. Dường như Tiêu Lạp Dân đã đoán trước được rằng Từ nương sẽ nhờ chàng gỡ tội cho họ.

Phần vì lời hứa với người đàn bà bất hạnh kia, phần vì thương anh em họ Từ, Tử Khuê bóp trán tính toán, cố tìm ra phương sách. Phải chăng “đương cục giả mê, bàng quang giả tỉnh”. Chuyện người thì sáng, chuyện mình thì tối?

Cuối cùng Tử Khuê cũng có được kế lưỡng toàn, vừa cứu được họ, vừa loại trừ được kình địch.

Chàng mở cửa, khoác áo cừu ra ngoài rủ Từ Phong và Từ Vũ đi dạo bằng một câu ngớ ngẩn đến mức họ phải mỉm cười:

- Này nhị vị! Ta chợt nhớ đến lũ thằn lằn trong Từ Thạch ốc, muốn đi xem chúng có mạnh khỏe không?

Tuy đang chờ án tử hình mà thần thái hai gã này vẫn thản nhiên. Có thể do họ cam tâm chấp nhận, vì không còn đường nào khác, đào tẩu thì ba tháng sau cũng chết vì kỳ độc mãn tính. Tất cả thủ hạ Hoạch Đầu hội đều bị khống chế bởi độc dược. Hoặc dã họ tin tưởng rằng nhị công tử sẽ vì mẫu thân mà cứu họ.

Hôm nay là ngày đẹp trời hiếm hoi trong cái mùa Đông chết dẫm này.

Trời vẫn lạnh, nhưng gió thổi nhẹ và tuyết rơi lất phất.

Đang lúc giữa giờ Mùi, trừ những kẻ trong phiên đang canh gác, phần lớn người trong phủ đều ngủ cả. Cảnh vật khá tĩnh lặng, nhất là vườn Thủy Sam phía sau. Từ Thạch ốc tọa lạc ở giữa khu rừng này.

Đến nơi, Tử Khuê nghiêm nghị bảo hai cận vệ:

- Nhị vị cứ ở ngoài này, cứ để ta vào một mình được rồi. Có người lạ, bọn thằn lằn sẽ không dám gặp ta.

Hai gã nhìn nhau ngao ngán, gật đầu và cố nén nụ cười. Họ vào trong chỗ bẩn thỉu, hôi hám ấy làm gì cơ chứ?

Chẳng còn nhốt ai nên cửa Từ Thạch ốc không hề khóa, dù ổ khóa vẫn còn treo lủng lẵng nơi khoen. Bọn gia nhân cũng không hề có ý quét dọn cơ ngơi kỳ dị này. Nó sẽ được phá bỏ khi Tiêu trang chủ xác định rằng nhị công tử đã hoàn toàn bình phục.

Tử Khuê rất hài lòng khi thấy bên trong còn giữ được nguyên trạng.

Chàng bước mau đến tảng từ thạch ở hướng Đông Nam, nơi mình tạt chén thuốc nước đã bị Dị An hạ độc.

Tử Khuê không sợ bẩn vì thứ nước thuốc sắc đặc sánh, bám chặt và làm loang lỗ mặt đá. Giờ đây, những chỗ ấy cũng phủ thêm một lớp bụi mỏng.

Trên sàn gạch có khá nhiều mảnh vụn của bát dĩa, muỗng đũa... những thứ ấy bị Mẫn Hiên hủy hoại. Chúng được làm bằng gỗ, khi gã hơi hồi tỉnh, không còn phá phách nữa mới được dùng đồ sứ.

Tử Khuê nhặt một mảnh bát có mép khá sắt, cạo lớp thuốc đã khô cứng trên mặt đá, tất nhiên có cả bụi bặm. Chàng hứng lấy thứ cặn bã ấy bằng một mảnh giấy đã mang theo sẵn trước khi rời phòng.

Được một nhúm nhỏ, vo chặt lại chừng hạt nhãn, Tử Khuê cho rằng đã đủ. Chàng sẽ hạ độc Dị An bằng đường hô hấp nên không thể dùng nhiều được. Số còn lại chàng để dành phòng khi hữu sự.

Tử Khuê đã hồi ức lại nội dung quyển “Huyền Hư Y Cảo” biết “Cuồng Tâm tán” lợi hại vô song, không hề để lại dấu vết và cũng không có thuốc giải.

Chất độc này theo máu, công phá phần não bộ khiến nạn nhân phát cuồng, vô phương chữa trị. Tuyên truyền “Cuồng Tâm tán” là độc kỹ lừng danh của Thủy Thần Độc Vương Cao Mộng Đắc. Thần Thủy là một địa phương ở vùng cực Bắc tỉnh Thiểm Tây. Họ Cao chết đã bốn mươi năm, không người nối dỗi nên võ học thất truyền. Giờ đây cái thứ vũ khí độc địa ấy trong tay Tiêu Dị An, khiến một kẻ thiện dụng độc như Tiêu Lạp Dân cũng không ngờ đến.

Tử Khuê hiểu rằng độc tố đã phân tán đều trong chén thuốc, nên với một ít bụi phấn thế này thì khó mà làm cho Dị An phát điên. Song chàng hy vọng rằng ả sẽ tạm thời bị choáng váng, tâm thần hỗn loạn, không giữ được chủ ý sát hại anh em họ Từ. Để đảm bảo phần thắng, Tử Khuê dự đinh rằng sẽ ra tay nhiều lần, vì sẽ ngồi chung bàn tọa với Dị An.

Đầu giờ Tuất ngày hai mươi sáu tháng chạp, đại hội thường niên của Hoạch Đầu hội được tiến hành, trong tòa đại sảnh phía sau quần thể Tứ hợp viện, cơ ngơi chính của Hầu phủ.

Tòa nhà này mới được xây dựng chừng hai mươi năm, khi nhân số của Hoạch Đầu hội quá đông.

Từ sáng đến giờ đã có hàng trăm người lần lượt tìm đến Hầu phủ. Họ chính là thủ lĩnh của những phân hội địa phương, thường là chốn phồn vinh, sầm uất. Nơi hoang dã nghèo khó thì làm quái gì có ai đủ tiền mướn sát thủ.

Thân chủ của Hoạch Đầu hội không chỉ có giới võ lâm mà phần lớn là đám thương lái, đám nhà giàu và bọn quan lại. Chỗ nào có lợi lộc thì nơi ấy có tranh giành.

Những phát minh thành tựu trong lịch sử đã chứng tỏ dân tộc Trung Hoa cực kỳ thông tuệ, cần cù và đầy sáng tạo. Đồng thời họ cũng rất thâm hiểm nên mới nổi tiếng thế giới về binh pháp và thuật quyền mưu.

Người Trung Hoa đã áp dụng “Tam thập lục kế” vào cả lĩnh vực buôn bán, quan trường. Họ thích nhất là kế “Tá đao sát nhân”, mượn tay kẻ khác để loại trử kẻ địch, thù nhân. Cho nên, nghề giết mướn rất ư phát đạt ngay từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc.

Trong lịch sử Trung Hoa, Kinh Kha là một hình tượng của một tráng sĩ anh hùng, bất khuất. Nhưng xét cho cùng, Kinh Kha cũng là một kẻ đâm thuê chém mướn. Người đời sau vì chán ghét Tần Thủy Hoàng mà tôn sùng Kinh Kha. Nhưng nếu họ Kinh thành công thì Trung Hoa chẳng thể sớm thống nhất, và nền văn minh không phát triển một cách nhanh chóng, rực rỡ đến thế.

Tử Khuê phải cố nín cười khi thấy bên trên chiếc hương án đặt trước cạnh tường hướng bắc có bức họa tường rất lớn, vẽ một chàng tráng sĩ hiên ngang đang đứng cạnh một bờ sông.

Tử Khuê có thể đoán chắc đấy là Kinh Kha vì mé tả có bài thơ cổ bi tráng:

Phong phiêu phiêu hề Dịch thủy hàn!

Tráng sĩ nhất khứ hề Bất phục phản!

Thì ra Hoạch Đầu hội đã tôn Kinh Kha làm tổ sư, phủ hào quang lên cái nghề giết thuê đầy tội lỗi của mình.

Chẳng hiểu hằng trăm tên giết mướn kia có thật lòng tin vào sự cao quý của nghề nghiệp mình đang làm hay không? Giờ đây họ đều hướng về hương án thờ Kinh Kha với vẻ thành kính rất mực. Trông họ chẳng khác gì những thiện nam, tín nữ đang chiêm bái tượng Phật trong chùa vậy.

Thích khách chứ chẳng phải đệ tử danh môn chính phái nên không có đồng phục. Họ cũng không ai đeo mặt nạ vì ai cũng mang trên vai vài ba cái án sát nhân, theo kiểu Danh Đầu Trạng của Lương Sơn Bạc. Hơn nữa, họ đều bị khống chế bằng độc dược mãn tính, có phản bội, cáo giáo đồng đảng thì cũng không thể sống sót.

Sau diễn từ khai mạc và nghi lễ thượng hương bái tổ, đại hội tiến hành việc tổng kết vụ sự. Một chiếc bàn dài và ba ghế dựa đã được mang ra đặt trước hương án. Khoảng nền vách bắc cao hơn phần diện tích còn lại độ gần sải tay, giúp cử tọa có thể nhìn rõ đoàn chủ tịch. Bọn môn nhân cũng được ngồi trên đôn gỗ vì hội nghị sẽ kéo dài hàng canh giờ.

Nhưng trước khi cho phép thủ hạ an tọa, Tiêu Lạp Dân đã tuyên cáo việc nhị công tử Tiêu Mẫn Hiên chính thức trở thành Thiếu hội chủ, sau này sẽ kế vị lão.

Dĩ nhiên, ai nấy đều vỗ tay tán thành bởi “con vua thì được làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”. Nhưng trong lòng họ đầy ắp e ngại vì biết chàng trai mặt mày ngơ ngáo kia đã từng điên loạn suốt mấy năm qua.

Được Tiêu Lạp Dân dặn dò từ trước, Tử Khuê bước ra vái chào cử tọa và chỉ cười tươi chứ không phát biểu. Lạp Dân sợ Mẫn Hiên nói quàng nói xiên thì mất mặt họ Tiêu.

Tử Khuê mang bản chất hiền lành đôn hậu nên nụ cười rất dễ mến, khiến bọn sát thủ lão luyện kia nhận ra tính nết và lập tức có tình cảm. Sau này, chàng làm Hội chủ thì bọn thuộc hạ sẽ dễ sống hơn cô ả La Sát Tiêu Dị An kia.

Đại tiểu thư nhà họ Tiêu không hề xấu xí, đôi mắt lá răm và bờ môi anh đào chín mọng kia còn có vẻ đa tình nữa. Thân hình nàng cũng thon thả, khiêu gợi chứ không gầy đét. Thế mà chẳng hiểu sao một ả rất mực đàn bà như thế lại khắc nghiệt, tàn nhẫn phi thường?

Thấy ái tử được nhìn với ánh mắt tán thưởng, Tiêu Lạp Dân, tức Hội chủ Hoạch Đầu hội, cao hứng mời toàn trường an tọa. Phần ông dẫn con gái, con trai mình đến ngồi ở bàn chủ tịch.

Lòng Tử Khuê vô cùng hồi hộp, quyết định ra tay sớm vì lát nữa sẽ không còn cơ hội. Chàng và Dị An sẽ ngồi hai ghế tả hữu, chính giữa là Tiêu Lạp Dân.

Cho nên, khi Tiêu hội chủ vừa an vị và Dị An đang lay hoay kéo ghế, Tử Khuê búng ngay một nhúm bột đất chứa “Cuồng Tâm tán” vào mũi ả chị hờ.

Tử Khuê đã dùng muỗng sứ nghiền nát số bột đất kia trở nên nhuyễn nhỏ như bụi bặm, mắt thường khó mà phát hiện.

Đã quen với phép điểm huyệt bằng tia cương khí nên thủ pháp của chàng cực kỳ chuẩn xác. Chàng lại dựa vào nhịp phập phồng của bộ ngực nở nang kia mà chọn đúng lúc Dị An hít vào. Nàng ta khoác áo lông cừu ngắn song không khép vạt.

Dị An lãnh trọn số bụi tai hại ấy và lập tức hắt hơi lia lịa, khiến Tử Khuê lo ngay ngáy sợ bụi thuốc văng ra hết. Chàng thầm van vái cả Phật Tổ lẫn Tam Thanh cho mình đừng thất bại, nguy hại đến tính mạng của anh em họ Từ.

Trong quá khứ, Tử Khuê đã gặp quá nhiều xui xẻo nên không còn tự tin khi làm bất cứ việc gì. Dẫu biết rằng chất độc đi vào đường hô hấp sẽ tác dụng nhanh và mạnh hơn đi vào dạ dày, song Tử Khuê lại không nắm vững được lượng độc tố cần thiết.

Trà nóng đã được mang ra nhưng chén nào cũng có nắp đậy. Khi uống, người ta sẽ dùng cạnh nắp để chặn xác trà. Nhấp xong một hai hớp thì đậy nắp cho nóng. Do vậy, Tử Khuê không hy vọng hạ thủ thêm lần nữa vào chén trà.

Vả lại, việc dùng chân khí búng mạnh thuốc qua mặt một đại cao thủ như Tiêu Lạp Dân là một hành động dại dột.

Tuy luôn rén rình rập sắc diện, thần thái của Dị An, Tử Khuê vẫn theo dõi được diễn tiến của hội nghị. Lúc này, Phân hội chủ các địa phương đang trình bày với Tiêu Lạp Dân về những khó khăn, những hợp đồng chưa hoàn thành của khu vực mình đang phụ trách.

Chàng sợ đến toát mồ hôi khi một lão già gầy, đầu hói, đứng lên phát biểu:

- Thưa Hội chủ! Phân hội Hứa Xương vừa phát hiện Đông Nhạc Tiên Hồ Tái Dịch Vân trong nhà một lão đại phú họ Quách. Thuộc hạ đã thử đột nhập vào dọ thám thì phát hiện việc canh phòng của Quách gia trang cực kỳ nghiêm mật. Và dường như bản lãnh của bọn gia đinh rất cao cường, không thua gì những sát thủ kiêu dũng của bổn hội. Thuộc hạ cho rằng phân hội Hứa Xương không đủ sức bắt cóc ả họ Dịch, xin Hội chủ cử thêm người đến hỗ trợ.

Tiêu Lạp Dân trầm ngâm vuốt chòm râu dài và đẹp một lúc rồi mới nói:

- Lão phu rất tin tưởng vào nhãn quan sắc bén của Hồ các hạ nên lòng rất nghi hoặc. Thường thì các nhà đại phú không thể có được lực lượng gia nhân lợi hại đến mức ấy. Phải chăng Quách trang chủ là một cao thủ đã phong kiếm quy ẩn? Nếu không thì Quách gia đâu có quan hệ với một nhân vật danh tiếng giang hồ như Dịch Tái Vân? À! Thế Đông Nhạc Tiên Hồ đến ở Quách gia trang với tư cách gì?

Lão Phân hội chủ họ Hồ tên Kiệt kia lộ vẻ đắc ý:

- Bẩm Hội chủ! Tám ngày trước, thuộc hạ giả làm người cơ nhỡ đến Quách gia trang. Tuy bị chặn tại nội cổng để nhận bố thí, song thuộc hạ đã may mắn nhìn thấy Đông Nhạc Tiên Hồ cùng một nữ nhân nữa, hai nàng ấy đang thơ thẩn trước phía trước cửa thùy hoa. Và nếu thuộc hạ không nghe lầm thì bọn tỳ nữ gọi Dịch Tái Vân là Nhị Thiếu, còn nàng thứ hai là Đại Thiếu. Xem ra, gã Quách công tử chết tiệt nào đó quả tốt phúc. Vợ lớn của gã cũng đẹp tuyệt trần, chỉ kém Dịch Tái Vân chút đỉnh.

Nghe xong, Tiêu hội chủ tư lự bảo:

- Xem ra lai lịch Quách gia trang có điều bí ẩn, chúng ta không thể hành động hồ đồ được. Lão phu sẽ cho người đến Thần Đao bảo thương lượng lại, đòi giá gấp đôi, tức sáu ngàn lượng hoàng kim. Trong lúc này, Hồ các hạ cứ huy động anh em giám sát Quách gia trang và điều nghiên kỹ địa hình. Nếu Tần Minh Viên chấp nhận giá mới, lão phu sẽ đưa quân xuống Hứa Xương và sử dụng “Tam nhật mê hồn câu” mà tấn công Quách gia trang.

Tử Khuê chết điếng cõi lòng, thập phần lo lắng cho ái thê và người thân.

Chàng bỗng có cảm giác chán ghét cả Tiêu Lạp Dân. Qua ánh mắt và chất giọng của lão khi bày mưu tính kế. Tử Khuê không tin rằng Lạp Dân có ý hướng thiện như lời Từ nương đã kể. Nghĩa là cho dù Tiêu Dị An không ngăn cản thì lão ta cũng không bao giờ chịu từ bỏ quyền lực và những món lợi khổng lồ của nghề giết mướn.

Dẫu sau này có kẻ thủ hạ không sợ chết, đứng ra cáo giác cũng chẳng đáng lo. Hầu Phủ có Minh Thư Thiết Khoán của minh Thái Tổ, bộ đầu công khai, các cấp không được vào tra xét, trừ phi xin được Thánh chỉ. Tiêu Lạp Dân có thừa thời gian để phi tang hoặc tạm lánh mặt. Chỉ vài tháng sau là kẻ phản bội sẽ chết rất êm ái, không còn nhân chứng nữa. Lão đã sử dụng hai loại độc khác nhau. Loại dành cho các Phân hội chủ có kỳ hạn nửa năm. Loại dành cho sát thủ, do thám cấp thấp thì chỉ tròn ba tháng.

Những thông tin ấy do Từ nương tiết lộ với Tử Khuê. Chính bà là người đang cất giữ hàng ngàn viên giải dược cũng như toa điều chế. Tuy gian hùng cái thế, song Tiêu Lạp Dân lại tinh tưởng tuyệt đối vào người vợ trẻ đẹp, hiền lành.

Tử Khuê hiểu rằng phải ngăn chặn ngay bàn tay tội lỗi của Tiêu Lạp Dân, không phải chỉ vì an nguy của Quách gia trang mà còn nhiều nạn nhân khác nữa.

Nhưng dẫu sao Tiêu Lạp Dân cũng có ân đối với chàng. Nếu không nhờ ba chục chén thuốc quý có “Thiên niên Hà thủ ô” thì những đoạn kinh mạch bị bế tắc, bị đông cứng trong cơ thể chàng sẽ không bao giờ được khai giải. Mất võ công đối với người võ sĩ còn đau khổ hơn là cái chết. Hơn nữa, ám hại một người mà hơn gần tháng nay chàng gọi là phụ thân thì đáng xấu hổ làm sao!

Nhưng nghĩ câu “đại nghĩa diệt thân”, vì họ Tiêu không thể chết vì lượng độc ít ỏi. Tử Khuê quyết định hành động.

Chàng đã vo tròn, nén chặt độc phấn thành những viên nhỏ cỡ hạt đậu xanh. Khi sử dụng, Tử Khuê vận công nghiền nát rồi búng đi. Chàng ngồi sát mé tả Tiêu Lạp Dân nên có thể hạ thủ rất dễ dàng, bằng một lực đạo tương đối nhỏ, không hề làm xao động không gian.

Tiêu Lạp Dân đang chăm chú nhìn xuống dưới, lắng nghe phân hội Phúc Kiến báo cáo. Lão chẳng thể phát hiện những động tác nhanh như chớp của bàn tay phải Tử Khuê đang đặt ngửa trên đùi.

Cũng như Tiêu Dị An, Tiêu Lạp Dân cũng hít phải phần lớn bụi phấn, ngứa mũi hắt hơi vài cái, song không hề nghi ngờ gì cả. Dẫu là người luyện võ, khi trời Đông giá lạnh, thì thỉnh thoảng vẫn bị cảm mạo, việc ấy rất bình thường.

Tử Khuê lại tiếp tục ở trong tâm trạng hồi hộp, chờ đợi kết quả. Nãy giờ, Tiêu Dị An vẫn chẳng có biểu hiện gì khác thường khiến Tử Khuê lo lắng vì bụi thuốc chứa quá ít “Cuồng Tâm tán” nên vô tác dụng.

Nhưng lát sau, khi đến mục luận tội, kết án những thuộc hạ mắc lỗi, Tử Khuê đã nhận ra giọng nói của Dị An hơi run, không đanh thép như thường ngày và nhịp thở chẳng đều. Chàng mừng rỡ quan sát thật kỹ và thấy mặt ả đỏ bừng, sống mũi lấm tấm mồ hôi.

Tổng cộng có đến hai mươi sáu môn nhân Hoạch Đầu hội phạm phải lỗi lầm. Hai gã Từ Phong, Từ Vũ đứng đầu danh sách vì tội kháng lệnh. Số còn lại mang tội danh hèn nhát, bất lực và không hoàn thành nhiệm vụ.

Dị An đọc đến tên ai thì người ấy đứng lên, gương mặt lo âu, ủ rũ. Họ thừa biết mình nhận sự trừng phạt hà khắc đến mức nào. Nhẹ nhất cũng bị đòn trăm hèo, nằm liệt giường hai tháng.

Lúc đọc được gần nửa danh sách đen kia thì Dị An đã dừng lại, cởi áo lông cừu. Hành động này khá bất thường vì thời tiết rất lạnh, dù cửa nẻo đóng kín và trong sảnh có hơn chục lò sửi ấm bằng đồng và hàng tá đèn đuốc.

Đọc xong thay vì luận tội ngay thì ả lại ôm quyền cáo lỗi với cử tọa rồi lui vào nhà sau, cứ như bàng quang sắp vỡ đến nơi vậy.

Lạ thay, Tiêu hội chủ cũng bắt đầu xuất hạn, đứng lên cởi bỏ áo lông cừu, trao cho ả tỳ nữ hầu trà. Sau đó, Lạp Dân ngồi xuống nghiên cứu bản danh sách bọn thủ hạ phạm quy, cân nhắc hình phạt cho từng người để lát nữa góp ý cùng trưởng nữ.

Hai mươi sáu gã bất hạnh ấy đứng trơ như phỗng, cao hơn những kẻ còn lại đang ngồi trên ghế nên phát hiện quái sự đầu tiên. Chúng không nén nổi sự kinh ngạc tột cùng, đồng thanh “ồ” lên. Kế đó, toàn trường xôn xao như vỡ chợ.

Thì ra, đại tiểu thư Dị An đã ra đến, đầu tóc ướt đẫm và toàn thân không mảnh vải. Thế mà nàng ta còn tươi cười, vòng tay phân bua:

- Xin chư vị lượng thứ cho. Bổn nhân nghe người nóng nực vào tắm cho mát.

Diễn biến tiếp theo còn khủng khiếp hơn nữa, Tiêu Lạp Dân quay sang nhìn ái nữ, thay vì hốt hoảng thì lại xô ghế, bước đến ôm chầm lấy. Lão mê muội hôn hít, vuốt ve tấm thân nõn nà của Dị An với những động tác khát khao và dâm đãng. Khổ thay, Tiêu Dị An không hề phản kháng mà còn cười khanh khách đầy thích thú.

Cảnh tượng loạn luân quái dị kia đã khiến toàn trường hoàn toàn chết lặng. Tử Khuê cũng bối rối đến mức chẳng biết phải làm sao. Chàng đâu ngờ thứ bột thuốc kia lại có tác dụng quái gở, khó coi đến thế?

Khi Tiêu Lạp Dân thoát y, người ta mới hiểu rõ lão điên loạn đến mức định giao phối với Dị An ngay tại chốn này. Ai đó thảng thốt thét lên:

- Họ đã phát cuồng rồi!

Và từ hàng ghế đầu tiên gần nạn nhân nhất, có hai người nhảy xổ đến, khống chế huyệt đạo của hai cha con Tiêu hội chủ. Họ chính là Đường chủ Nội đường, tức lão Tổng quản Du Vinh và Đường chủ Ngoại đường Tuân Khánh.

Cương vị của hai người ấy trong hội chỉ kém ba cha con nhà họ Tiêu.

Từ lâu, Tử Khuê đã biết hai lão này có võ công rất cao siêu, được Tiêu Lạp Dân xem trọng. Và hôm kia, chàng lại được Từ nương tiết lộ rằng họ là người của Lôi Đình thần cung, đến hỗ trợ cho Lạp Dân đã nhiều năm nay.

Sau khi lệnh cho bọn tỳ nữ khiêng hai kẻ đã phát cuồng vào trong hậu viện. Du Tổng quản nghiêm nghị bảo cử tọa:

- Sự nghiệp của bổn hội liên quan đến rất nhiều người, không thể vì chút bệnh tình của cha con Tiêu hội chủ mà phế bỏ. Thời gian điều trị chắc sẽ khá lâu nên lão phu đề nghị đại hội tạm trao quyền Hội chủ cho Thiếu hội chủ Tiêu Mẫn Hiên.

Cơ nghiệp này vốn là của dòng họ Tiêu, toàn thể môn hạ trong đại hội đều tán thành.

Tử Khuê nào muốn vướng vào vũng bùn nhơ nhớp, bèn giẫy nẫy như đĩa phải vôi, ấp úng nói:

- Kính cáo chư vị. Tại hạ trẻ người non dạ, lại vừa thoát cảnh mê cuồng chẳng bao lâu, sao có thể đảm đương vụ sự của bổn hội. Hay là Du lão cứ tạm nắm quyền Hội chủ một thời gian, chờ gia phụ bình phục?

Nghe chàng nói thế cử tọa phía dưới lập tức im lặng một cách khó hiểu.

Họ chờ đợi câu trả lời của Du Vinh với ánh mắt đầy nghi hoặc.

Họ Du có gương mặt tròn trịa, hồng hào trông khá phúc hậu. Nhưng tục ngữ có câu “họa hổ họa bì nan họa cốt” nên mọi người vẫn có quyền nghi ngờ Du Tổng quản thừa nước đục thả câu, nắm lấy ngôi vị Hội chủ. Việc cả hai cha con họ Tiêu phát cuồng cùng một lúc chẳng phải đáng ngờ lắm sao?

Du Vinh bối rối, thở dài bảo Tử Khuê:

- Lão phu mà chấp chưởng thì lòng người không phục mà còn bị đàm tiếu nữa. Nhị công tử cứ yên tâm đảm nhận một thời gian, lão phu và Tuân lão ca sẽ hết lòng phò tá, hướng dẫn cho.

Đường chủ Ngoại đường Tuân Khánh đang xem xét những chén trà uống dở dang trên mặt bàn. Nghe họ Du nói vậy, lão bước lại và lên tiếng trình bày:

- Này anh em. Dẫu cho nhà họ Tiêu có tiền sử bệnh điên thì cũng khó xảy ra việc Hội chủ và Dị An đột nhiên loạn trí cùng một lượt. Lão phu ngờ rằng họ đã bị hạ độc bởi một thứ xuân dược cực kỳ mãnh liệt. Nhưng khi kiểm tra những chén trà, lão phu không hề phát hiện quái sự. Hơn nữa, thiếu chủ cũng cùng uống những thứ trà ấy mà không sao. Tuy nhiên, ba tách trà vẫn được giữ lại để nhờ bậc cao minh xem xét thêm. Vài ngày nữa, nếu bệnh tình Hội chủ và Dị An không thuyên giảm, lão phu sẽ đưa họ về Lôi Đình thần cung chữa trị.

Còn việc điều hành bổn hội thì lão phu khẳng định rằng chỉ mình nhị công tử Tiêu Mẫn Hiên đủ tư cách. Xin chư vị chớ nên phân tâm, nghi hoặc mà ảnh hưởng đến hoạt động của bổn hội.

Tuân Khánh có dung mạo đoan chính, trang nghiêm, tính tình trầm tĩnh, ôn hòa, xử sự thì cương quyết và chu đáo. Trước giờ, họ Tuân vẫn được anh em trong hội kính trọng, nể sợ. Nay nghe Tuân Khánh phân tích sự vật một cách khách quan, rạch ròi như thế, mọi hoài nghi tan biến cả. Và có kẻ thẳng thắn nêu ý kiến, đó là chủ phân hội Thiểm Tây:

- Bẩm Tuân đường chủ! Thuộc hạ cứ thắc mắc mãi, không hiểu Hội chủ và tiểu thư bị hạ độc bằng cách nào. Trà không có độc và cơm tối thì dùng chung với chúng ta. Hơn nữa, chẳng ai có động cơ để ám hại họ cả.

Tuân Khánh đưa tay gãi sống mũi rồi nói tiếp:

- Lão phu cũng đã suy nghĩ như Hà lão đệ. Quả đúng là không có ai có động cơ và điều kiện để hạ độc. Lúc này, lão phu chưa thể khẳng định nguyên nhân, phải chờ xem diễn tiến bệnh tình của nạn nhân như thế nào.

Và lão vòng tay nói với Tử Khuê:

- Nay công tử là quyền Hội chủ, xin hãy tiếp tục chủ trì đại hội. Lão phu xin phép được ra ngoài chăm sóc Hội chủ và tiểu thư.

Nãy giờ Tử Khuê ở trong tâm trạng hồi hộp lo âu, hối tiếc vì đã hạ thủ cả Tiêu hội chủ, gây ra sự nghi ngờ to lớn. Chàng thầm trách mình là kẻ ấu trĩ, không nhìn xa trông rộng. Một mình Dị An phát cuồng thì còn được. Nay cả hai cha con đều nhất loạt loạn tâm, bảo sao Tuân Khánh không ngờ vực?

Chất độc “Cuồng Tâm tán” trong máu hai nạn nhân có thể bị Lôi Đình Đế Quân phát hiện ra và lão sẽ nghĩ đến chàng.

Nhưng cảm giác sợ hãi đôi lúc lại khiến người ta hổ thẹn và phẫn nộ, nhất là đối với một chàng trai mang bản chất anh hùng hiệp sĩ như Tử Khuê.

Chàng liền nghĩ rằng lão Trác Ngạn Chi chết giẫm kia có gì đáng sợ, khi chàng đã tỏ tường võ công của lão.

Chủ ý ấy đã nâng đỡ tinh thần của Tử Khuê. Chàng bình tâm dấn thân chơi tiếp canh bạc dở dang. Tuấn Khanh đi rồi, Tử Khuê liền ngồi vào ghế Hội chủ và vui vẻ mời Tổng quản Du Vinh cùng mình điều khiển đại hội. Họ Du khoan khoái nhận lời, nhắc nhở tân Hội chủ xử lý cho xong việc hai mươi sáu gã môn nhân phạm lỗi.

Tử Khuê cầm bảng danh sách, đọc qua loa rồi đứng lên, điềm đạm tuyên bố:

- Bổn nhân trộm nghĩ rằng khi chúng ta tôn thờ Kinh Kha làm tổ sư thì cũng nên hành sự cho giống họ Kinh. Một bậc anh hùng cái thế như Kinh tổ sư chắc cũng không nỡ giết một người cha để bảy đứa con thơ phải mồ côi, không nơi nương tựa. Vậy thì xét cho cùng, Từ Phong và Từ Vũ đã hành động đúng.

Còn hai mươi bốn vị kia cũng không có lỗi khi thất bại. Năm xưa, Kinh Kha cũng đâu có giết được Tần Thủy Hoàng. Tóm lại, bổn nhân quyết định tha bổng tất cả.

Không phải chỉ riêng hai mươi sáu gã sát thủ phạm lỗi, hầu như tất cả mọi người hiện diện đều vỗ tay hoan hô cách ứng xử nhân từ của tân Hội chủ.

Bao năm qua, Tiêu Lạp Dân đã ỷ vào thuốc độc mà bắt bọn môn nhân phải chịu đựng những quy củ cực kỳ khắt khe, tàn nhẫn.

Con sâu cái kiến còn ham sống nên khi gặp mục tiêu quá khó khăn, người ta phải tháo lui để bảo toàn tính mạng. Hành vi ấy hoàn toàn hợp lý, song Lạp Dân không chấp nhận, khép tội họ và xử phạt rất nặng.

Chương 13: Ngân Diện tầm mỹ nữ Huyết Mai đáo Tử Kỳ

Ngay từ trưa ngày mười ba tháng hai, thành Đăng Phong náo nhiệt bởi sự hiện diện của gần ngàn hào kiệt võ lâm. Và ngày mai chắc chắn nơi đây sẽ còn nhộn nhịp hơn gấp bội. Cái tin Cầu Nhiêm đại hiệp Hàn Thiếu Lăng thất tung sau trận Độc Nha sơn, không hề làm giảm lượng người đến xem cuộc phó ước sinh tử vào sáng ngày rằm. Trước tiên là vì giới gian hồ không tin rằng Hàn Thiếu Lăng đã gặp tai họa. Bằng cớ là dưới vực thẳm không hề có xác họ Hàn. Biết đâu, chàng chỉ ẩn náu nơi nào đó rèn luyện võ công.

Thứ đến có tin rằng lục phái Bạch đạo sẽ có mặt những cao thủ thượng thừa. Vạn nhất họ Hàn không xuất hiện thì sáu người ấy sẽ thượng đài, tranh tài với Nhạc Cuồng Loạn, không chờ đến tiết Trùng Cửu nữa. Bởi vậy, chẳng một khách võ lâm nào dám bỏ qua thịnh hội trăm năm có một này.

Trong số những người lo xa đến sớm ấy, có một toán kỵ sĩ đông độ mười ba người, phong thái hiên ngang, sang cả, chẳng hề giống bọn hào khách giang hồ.

Đi đầu là một gã mặc trường bào, tay hẹp bằng xám tro, may bằng lụa Hàng Châu, chân mang ủng da hươu. Tấm kim bài vàng óng đeo trước ngực và chiếc mặt nạ bạc tinh xảo, che kính từ chân tóc đến chốt mũi chính là chiêu bài của Ngân Diện Hầu gia đất Trịnh Châu. Dựa vào phần da cổ và nửa mặt dưới, người ta có thể đoán đây là tiểu Hầu gia Tiêu Mẫn Hiên chứ không phải cha của gã.

Vả lại, Tiêu Lạp Dân có bộ râu ba chòm dài thượt, còn gã này chỉ để ria mép dù hai má xanh đen những chân râu mới cạo. Thật ra trước đây Mẫn Hiên, tức Tử Khuê mang tướng vô tu, mặt nhẵn nhụi, không một cọng râu, kể cả lông ngực, lông chân cũng trụi lủi. Nhưng Hà thủ ô lại là thứ rất tốt cho râu tóc.

Nhất là khi thứ rễ cây quý báu ấy già đến ngàn tuổi thì có thể làm người hói mọc tóc xanh um. Thế nên, giờ đây chàng trở thành kẻ đa mao, râu quai nón bù xù, chẳng cần phải bôi thuốc cũng giống Cầu Nhiêm đại hiệp. Lúc này dẫu người thân chàng có nhận ra những nét quen thuộc ở nửa dưới khuôn mặt kia, thì cũng sẽ phân vân bởi số râu lạ lẫm kia.

Hôm nay, tháp tùng Ngân Diện Hầu gia là mười hai kiếm thủ áo gấm đen, gồm anh em họ Từ và mười gã sát thủ mang tội hèn nhát, không hoàn thành nhiệm vụ.

Khi tuyển lựa cận vệ đi theo mình đến Đăng Phong, Tử Khuê chọn ngay trong số những kẻ phạm quy. Liều mạng một cách vô ích vì một mục đích vật chất thì không phải là dũng sĩ. Qua sự giới thiệu của anh em họ Từ, chàng đã thu nạp mười người khá nhất, chín nam, một nữ.

Cũng như Từ Phong, Từ Vũ, mười tay kiếm ấy thuộc đội quân cốt cán, tinh nhuệ, mang tên Thần Phong hội, nhân số gần hai trăm người.

Thần Phong hội trực thuộc Tổng hội, trú quân tại Hầu phủ. Thường ngày họ đóng vai gia đinh, khi có lệnh thì xuống phối hợp với phân hội địa phương hành động.

Niên kỷ của đám Thần Phong thuở ấy ở vào khoảng chừng ba chục đến bốn mươi, độ tuổi cường tráng, sung mãng, và đầy kinh nghiệm. Bản lãnh của họ rất điêu luyện nhờ nhiều năm rèn luyện Tiêu gia kiếm pháp, tức “Lôi Đình kiếm pháp”. Ngoài ra họ còn có tài phóng “Liễu Diệp Phi Dao”, trăm phát không sai.

Tóm lại mười hai thủ hạ của Tử Khuê đều là những hung thần thứ dữ.

Chính vì thế mà Tổng quản Du Vinh mới yên tâm để vị Hội chủ trẻ tuổi đi ngao du thiên hạ.

Bệnh tình của Tiêu Lạp Dân và ái nữ Dị An không hề biến chuyển. Ngoại đường chủ Tuân Khách đành phải đưa họ về Lôi Đình thần cung. Nhị phu nhân Từ Lan đi theo để chăm sóc. Bà thật lòng yêu thương ông chồng già của mình. Nhờ vậy mà Tử Khuê mới có cơ hội thoát ly Hầu phủ.

Chàng không về ngay Hứa Xương mà đoán rằng gia quyến của mình sẽ đến Tung Sơn, đúng ngày chàng ước hẹn với Nhạc Cuồng Loạn.

Đoàn người dừng chân trước Hưng Thái đại lữ điếm, được Hoàng chưởng quỹ đích thân ra nghênh tiếp. Chẳng phải lão đang ế phòng mà chẳng qua Hoàng Hộ chính là thủ hạ Hoạch Đầu hội. Mấy ngày trước, họ Hoàng đã nhận được lệnh của Tổng hội, để dành nguyên tầng trên lữ điếm cho Hội chủ và tùy tùng.

Suốt hơn tháng qua, Tử Khuê đã vùi đầu vào đống sổ sách trong thư phòng của Tiêu Lạp Dân. Và chàng đã kinh ngạc trước sự đông đảo hùng mạnh của Hoạch Đầu hội. Tổ chức này sở hữu đến trăm khách sạn, tửu quán, trà lâu, hiện diện ở những địa phương sầm uất, phồn vinh nhất nước.

Không phải tất cả những cơ sở kinh doanh ấy đều có lãi, song chúng chính là nơi Hoạch Đầu hội tìm được hợp đồng giết mướn. Trong những câu chuyện trà dư tửu hậu, bọn tiểu nhị sẽ chắt lọc được những thông tin hữu ích về một mối hiềm khích hay cạnh tranh của một gã rủng rỉnh bạc tiền.

Sau nhiều ngày điều nghiên kỹ càng, phân hội địa phương ấy sẽ phái một sứ giả đến gợi ý giúp đỡ. Các sứ giả này thường đóng vai thầy bói dạo, một nghề thuận lợi để tiếp xúc với mọi giới. Chính họ cũng có nhiệm vụ moi móc thông tin bằng những câu quẻ đoán khôn khéo, tinh vi.

Ở mỗi phân hội địa phương cũng có vài ba sát thủ đủ sức thực hiện ngay những phi vụ nhỏ, dễ ăn. Chỉ riêng phân Hội chủ và đám sát thủ này biết Hội chủ là ai và sào huyệt Tổng hội ở chốn nào. Tất nhiên, họ đều đã bị Tiêu Lạp Dân đầu độc.

Tử Khuê còn đọc được một tài liệu cực mật, ghi rõ những hợp đồng giết thuê đã được thực hiện từ hồi Hoạch Đầu hội bắt đầu khai sinh. Trong đó có vụ thảm sát toàn gia Tri huyện Ngọc Điền, tỉnh Hà Bắc, tức gia đình Dịch Tái Vân. Té ra, lớp sát thủ đầu tiên của Hoạch Đầu hội đều là người của Lôi Đình thần cung. Khi đào tạo xong lớp sát thủ thứ hai là bọn Thần Phong hội hiện nay. Thủ hạ của Trác Ngạn Chi đã về lại Thần cung, chỉ còn lại hai gã Du Vinh và Tuân Khánh.

Một bí mật khác cũng đã làm Tử Khuê phải giật mình. Đó là việc Lôi Đình Đế Quân được hưởng ba phần mười lợi tức từ việc kinh doanh của Hoạch Đầu hội.

Tất cả những dữ kiện ấy đã chứng tỏ dã tâm của Lôi Đình thần cung. Tử Khuê bỗng lo sợ rằng một kẻ tham lam, tàn ác như Trác Ngạn Chi sẽ không chịu dừng ở mức độ ấy. Có lẽ chính lão cũng bị rợ Mông mua chuộc nên mới biết việc Bắc Thiên Tôn gả con cho Vương tử Mông Cổ.

Chúng ta hãy tạm quên nội tình phức tạp ấy, cùng Tử Khuê trở lại thành Đăng Phong.

Sau khi tắm gội ăn uống xong, Tử Khuê dẫn bọn cận vệ đi dạo. Chàng đang đóng vai một kẻ chưa từng ngao du chốn lạ nên giờ có quyền dạo khắp thành, mặc cho mười hai gã Thần Phong ngán ngẩm vì nhàm chán.

Từ Phong, Từ Vũ đi hai bên tả hữu Hội chủ, mười gã còn lại chỉnh tề theo sau. Phong thái quyền quý và chiếc mặt nạ sáng loáng trên mặt Tử Khuê đã khiến khách bộ hành trên phố xì xầm bàn tán. Họ tự hỏi cái gã tiểu Hầu gia nhà họ Tiêu, đất ở Trịnh Châu, đến đây diễu võ vương oai làm gì? Bao năm qua chắc chắn Ngân Diện kiếm khách đâu đủ tài chường mặt ra chốn giang hồ?

Tử Khuê sử dụng ngân diện là để dấu mặt chứ không phải thích cảnh xênh xang áo mão. Năm năm trước, khi vừa đúng tuổi nhược quan, Tiêu Mẫn Hiên đã được tập tước Hầu, được ban kim bài ghi rõ họ tên. Lúc ấy, gã đang bị giam nơi Từ Thạch ốc nên Tiêu Lạp Dân đã thay con tiếp nhận. Giờ đây, Tử Khuê có thể đường hoàng thủ vai Ngân Diện Hầu đời thứ năm.

Và lúc này, Tử Khuê cũng không hề có ý định dạo chơi mà là tìm người thân của mình đã đến chưa. Kiếm người tất mắt phải láo liên, soi mói những chốn đông đúc như trà lâu, phạn điếm, khách sạn. Biết không thể dấu diếm những kẻ lão luyện như mười hai gã Thần Phong kiếm thủ này, Tử Khuê liền vui vẻ nói trớ đi:

- Này các huynh đệ. Đêm qua ta trằn trọc không yên, sực nhớ ra mình chưa có vợ. Đến gần sáng ta thiếp đi và nằm mộng, thấy một lão già tóc bạc phơ, tự xưng là Nguyệt Lão. Ông bảo mạng ta có nhiều vợ đẹp và một trong số ấy đang hiện diện ở đất Đăng Phong này. Hay là các ngươi giúp ta quan sát, tìm kiếm thử xem sao?

Cả bọn bật cười, vòng tay nhận lệnh. Họ cũng là nam nhân nên từng trải qua những đêm thao thức thì thiếu đàn bà. Họ thật mong chàng trai điên tàng, dễ mến, nhân hậu này tìm được giai nhân. Thế nên mười hai cặp mắt sắc bén ấy đảo lộn không ngừng, bao quát tất cả những mục tiêu là phái yếu.

Trong lúc ấy, Tử Khuê lại vì câu chuyện Nguyệt Lão mà nhung nhớ Trác Thanh Chân. Chàng tự hỏi nàng ta đã gặp những khó khăn gì khi về đến Quách gia trang. Thái độ của Kỹ nương và hai ả họ Trình, họ Dịch sẽ ra sao? Tử Khuê hơi yên lòng khi nghĩ đến hậu thuẫn hùng mạnh là phụ thân mình.

Quách lão luôn mong muốn chàng có thêm vợ đẹp.

Sau gần canh giờ lang thang đến gãy giò, bọn Tử Khuê đến công viên Nam Hải ở gần cửa Tây thành. Hoa viên công cộng này mang tên như thế vì ở giữa có bức tượng Nam Hải Quan Âm bằng đá trắng, cao bằng người thật.

Cha chung không ai chăm sóc nên bồn hoa đều điêu tàn, xơ xác, chẳng có đến một bông chào đón mùa Xuân. Nhưng lũ tùng bách thì vẫn xanh um, vươn cành che mát cho đám người bạc bẽo, vô ơn.

Công viên Nam Hải rộng đến ba chục mẫu, là điểm xanh lớn nhất của thành Đăng Phong. Thoảng nghe tiếng sân trong hồ như có tiếng thép chạm nhau, tiếng quát tháo lanh lảnh của nữ nhân, Tử Khuê chột dạ rảo bước dẫn thuộc hạ vào xem thử. Chàng cảm nhận được sự quen thuộc từ những âm thanh ấy.

Đến nơi, Tử Khuê bàng hoàng nhận ra Thiết Đảm Hồng Nhan Tống Thụy và Hồ Đồ Thần Thương Khổng Đam đang bị hơn hai chục kiếm thủ vây hãm, phe địch y phục không giống nhau, không có dấu hiệu đặc biệt nên khó nhận ra lai lịch. Nhưng chắc chắn là võ công của chúng rất khá cả Tống Thụy lẫn Khổng Đam đều đã thọ thương.

Thiết Đảm Hồng Nhan vẫn giữ lối đánh liều mạng như ngày nào, mắt phụng tròn xoe, mày liễu dựng ngược. Nàng múa tít bảo kiếm, lăn xả vào bọn đối phương, mặc cho máu hồng loan đỏ tấm bạch y.

Hồ Đồ Thần Thương cũng tung hẳn cây thương sắt nặng nề, cố phá vỡ vòng vây. Mồ hôi y phục ướt đẫm và tiếng thở hồng hộc chứng tỏ con trâu nước kia sắp kiệt sức.

Tử Khuê chẳng có thời gian để thắc mắc tại sao hai kẻ không hề quen biết ấy lại đồng hành. Chàng cố nặn ra một nụ cười, nói với bọn thủ hạ:

- Ta cho rằng cô ả xinh đẹp, dữ dằn kia xứng đáng là người Nguyệt Lão đã se duyên. Các ngươi mau giết sạch bọn ác ôn, cứu lấy Hội chủ phu nhân.

Đám Thần Phong đều biết rõ lai lịch của Thiết Đảm Hồng Nhan, hiểu rằng Tống Thụy chẳng bao giờ chịu làm vợ tiểu Hầu gia. Nhưng Hội chủ đã ra lệnh thì chúng chẳng thể nói không.

Phía ngoài bộ võ phục đen, bọn sát thủ Hoạch Đầu hội còn khoác thêm một tấm đoạn bào hơi rộng, để che giấu vai cắm đầy “Liễu Diệp Phi Đao”. Mỗi gã mang theo đến ba mươi sáu mũi dao nhỏ, lưỡi mỏng như lá liễu, dài độ gang tay.

Giờ đây, chúng tháo nút áo khoác, để lộ ám khí và lao tới, nhất tề phóng ngay vào lưng kẻ địch. Quả xứng dang đại sát thủ, mười hai mũi dao loại đủ ngần ấy tên. Tiếng rên la bi thiết của đám nạn nhân đã làm những kẻ còn lành lặn phải chùn lòng.

Thuật phóng phi đao mới chính là sở học gia truyền của nhà họ Tiêu.

Tuyệt kỹ này lợi hại ở chỗ hoàn toàn dựa vào uyển lực, chỉ lắc cổ tay là tiểu đao bay ra, không dùng sức của vai và cánh tay như bọn Sơn Đông mãi võ thường biểu diễn. Đặc điểm thứ hai là người phóng phi đao sử dụng tay trái.

Năm xưa, Ngân Diện Hầu đời thứ nhất tức Tiên Phương đã đột tử trước khi dạy xong cho con cái pho kiếm pháp. Lão lại không để lại kiếm phổ nên gia học thất truyền, chỉ còn thuật phóng phi đao. Chính vì thế mà sau này Tiêu Lạp Dân mới đi tầm sư học nghệ, trở thành sư đệ của Lôi Đình Đế Quân. Lão vừa nhập môn được vài năm thì sư phụ Tứ Tượng chân nhân tạ thế, được Trác Ngạn Chi tiếp tục dạy dỗ. Tử Khuê đoán rằng có thể Trác Ngạn Chi giấu bớt nghề nên hai pho kiếm, chưởng mới thiếu sót như thế.

Sau khi thấy Mẫn Hiên, tức Tử Khuê luyện xong phần kiếm chưởng, Lạp Dân đã đích thân dạy chàng thuật phóng phi đao. Tử Khuê đã nhiều năm rèn luyện thủ pháp “Long tu xạ nguyệt” uyển lực cực kỳ mạnh mẽ nên giờ đây học nghề ném ám khí chẳng khó khăn gì. Với căn cơ võ học sáng láng như gương, Tử Khuê chỉ cần hai tháng đã vượt qua bọn Từ Phong. Tuy chàng đã giấu bớt thành tựu mà Lạp Dân còn khen nức nở. và lão chẳng chút nghi ngờ chỉ cho rằng con trai mình từ nhỏ đã có thiên bẩm cực cao, học gì cũng giỏi hơn người.

Việc chàng có đến bốn chục năm nội lực cũng là hợp lý vì mấy năm qua uống toàn thuốc quý, kể cả kỳ trân hiếm có như Hà thủ ô ngàn năm.

Tiêu trang chủ đã tặng cho ái tử một bộ ám khí gia truyền, gồm bày ngọn tiểu đao bằng thép ròng, mũi nhọn hoắc như đầu kim, tên gọi “Thất Hưu đao”.

Hưu ở đây có nghĩa thôi, nghỉ, bỏ... ám chỉ rằng khi phi đao bay ra thì nạn nhân hưu hỉ là cái chắc, thôi không sống nữa.

Pho “Thao Quang thần thức” của Vu Mộc chân nhân có một số nửa đòn nằm ở tay trái nên Tử Khuê hầu như thuận cả hai tay. Khi hữu thủ không bận bịu trường kiếm, chàng có thể ra hai mươi tám ám khí cùng một lúc.

Giờ đây, bộ ám khí “Thất Hưu đao” đang ở trên bụng trái Tử Khuê.

Những chiếc đuôi mạ bạc sáng loáng, chạm trổ văn hoa tinh xảo, đã biến những thứ ám khí ấy thành vật trang sức đẹp mắt, oai vệ.

Trong lúc đồng đội quần thảo, so gươm với phe địch, Từ Phong và Từ Vũ vẫn thản nhiên đứng hộ vệ chủ nhân. Họ chỉ quan tâm đến an toàn của Hội chủ, cũng là cháu ngoại của Từ công lão, người đã cứu mạng, dạy dỗ họ từ tấm bé.

Nhưng Tử Khuê đã nhận ra tình trạng hiểm nghèo của Thiết Đảm Hồng Nhan và Hồ Đồ Thần Thương, vội vã nhập cuộc. chàng lướt đi thì anh em họ Từ cũng bám theo, trường kiếm lăm lăm trong tay.

Ba người đi xuyên qua trận địa, giữa những cặp đối thủ, đến được nơi cần đến. Hai gã đối thủ của Tống Thụy và Khổng Đam cảnh giác, bỏ mục tiêu cũ lao đến tấn công ba cường địch mới xuất hiện.

Từ Phong và Từ Vũ không để Hội chủ phải nhọc sức, lập tức xông lên đón tiếp đối phương. Phần Tử Khuê lướt đến định đỡ lấy tấm thân đẫm máu đang lảo đảo của Tống Thụy. Nàng ta ngượng ngùng lùi bước, không muốn người đàn ông mang mặt nạ kia chạm vào thân thể mình. Nhưng gã ta lại chẳng để ý đến câu “Nam nữ hữu biệt”, cứ sấn tới mà vươn tay điểm huyệt nàng. Tống Thụy chưa kịp sợ hãi thỉ đã mê man.

Bên kia, Khổng Đam chống thương đứng thở hồng hộc rồi từ từ quỵ xuống. Song chẳng còn kẻ địch nào đe dọa gã nữa, phe địch đã kéo nhau đào tẩu vì tự lượng địch không lại bọn kiếm thủ Thần Phong. Tử Khuê cũng đã điểm chỉ huyết và cho sư muội uống linh đan xong. Chàng bốc xốc nàng lên tay, ra lệnh rút nhanh về lữ điếm.

Mờ sáng hôm sau, Thiết Đảm Hồng Nhan tỉnh giấc bởi tiếng oanh ríu rít trên cành. Nàng ta ngỡ ngàng vì thấy mình đang nằm trong một căn phòng sang trọng. Là kẻ quen phiêu bạc, Tống Thụy nhận ra ngay phong cách của một khách điếm đắt tiền.

Sực nhớ lại cảnh ngộ đã qua, Tống Thụy giật mình, ngồi bật dậy. Tấm chăn đơn trên người tuột xuống khiến nàng ngộ thức rằng cơ thể mình không một mảnh xiêm y.

Hình bóng người đàn ông mang mặt nạ hiện ra, mang theo nỗi lo âu, hổ thẹn khôn cùng. Phải chăng chính gã đã băng bó vết thương cho nàng?

Thiết Đảm Hồng Nhan cố bình tâm kiểm tra lại cơ thể, mừng vì tiết hạnh vẫn còn nguyên vẹn. Hơn thế nữa, bảy vết thương trên người nàng đều được băng chặt bằng vải sạch và không chút đớn đau. Xem ra thuốc kim sang của người ân lạ mặt kia quả là thần hiệu.

Song lòng nàng vẫn còn tê tái, ủ ê, dòng lệ tủi hổ tuôn dài trên má khi nghĩ đến Quách Tử Khuê. Dẫu chữ trinh chưa mất nhưng thân xác đã bị nam nhân khác đụng chạm thì nàng còn mặt mũi nào đến với chàng nữa? Nàng chưa kịp oán trách gã ân nhân chết toi kia thì có tiếng chân người ngoài cửa.

Tống Thụy vội nằm xuống, kéo chăn đắp kín đến tận cổ.

Cửa phòng mở ra và một nữ nhân mặc võ phục đen bước vào. Nàng ta độ tuổi tam thập, dáng người khỏe mạnh, song dung mạo nhu mỳ, đầy nữ tính.

Thiết Đảm Hồng Nhan thở phào nhẹ nhõm, lòng khấp khởi mừng rằng chính nữ nhân này đã chăm sóc mình chứ chẳng phải một gã đàn ông có bàn tay nhám nhúa nào cả.

Người phụ nữ ấy bước đến cười rất tươi và nói:

- Nô tỳ được lệnh của Hầu gia đến vấn an ngọc thể của Tống cô nương.

Người hy vọng được diện kiến tôn nhan trong bữa điểm tâm sáng nay.

Tống Thụy có kiến văn rất rộng, nghe nàng ta gọi người mang mặt nạ là Hầu gia thì ngờ ngợ đoán ra lai lịch, liền dò hỏi thêm:

- Dám hỏi đại thư phải chăng ân công chính là Ngân Diện Hầu gia Tiêu Lạp Dân ở đất Trịnh Châu?

Nữ nhân phì cười lắc đầu:

- Bẩm không, gia chủ nhân là nhị công tử Tiêu Mẫn Hiên, Hầu tước đời thứ năm, tuổi mới đôi mươi. Và xin Tống cô nương chớ xưng nô tỳ là đại thư.

Cứ gọi một tiếng Tiểu Tinh là được rồi. À! Nô tỳ cũng cùng họ Tống với cô nương đấy.

Nghe nói đối phương đồng họ với mình, Tống Thụy càng có hảo cảm.

Song nàng đang là khách Hầu gia không tiện tranh tiện tranh cãi thứ bậc nhà người, tạo sự rắc rối xưng hô. Tống Thụy vui vẻ bảo:

- Dẫu danh phận thế nào cũng không quan trọng, lòng Tống Thụy luôn biết ơn người đã chữa trị thương thế cho mình.

Tiểu Tinh che miệng cười khúch khích, ánh mắt đầy vẻ giễu cợt:

- Té ra lúc nãy cô nương đã sợ khiếp vía vì tưởng ngọc thể đã bị nam nhân nào đó sờ mó?

Tống Thụy thẹn đỏ mặt, gật đầu thú nhận:

- Đúng vậy. Khi thấy nàng, ta mới yên tâm.

Tiểu Tinh dường như hài lòng trước thái độ tiết hạnh khả phong của Tống Thụy. Nàng ân cần lấy y phục sạch ở đầu giường, giúp Thiết Đảm Hồng Nhan mặc vào.

Gần khắc sau, Tống Thụy có mặt ở phòng ăn trong tầng chót Hưng Thái đại tửu điếm. Nàng được Tiểu Tinh dẫn đến bàn riêng của Ngân Diện Hầu. Hai bàn kia dành cho đám thủ hạ Hầu phủ, Tiểu Tinh làm xong nhiệm vụ cũng ngồi xuống ngay trong hai bàn ấy.

Cùng lúc Hồ Đồ Thần Thương cũng được một hán tử mặc áo gấm đen đưa ra đến nơi. Tiêu Mẫn Hiên liền đứng dậy, mời hai vị khách an tọa.

Thiết Đảm Hồng Nhan chưa ngồi ngay, nàng ôm quyền vái tạ:

- Ơn cứu mạng của Hầu gia, tiểu nữ suốt đời chẳng dám quên.

Khổng Đam thấy vậy cũng bái lia lịa, hùng hổ nói tràng giang đại hải:

- Khổng mỗ là bậc đại trượng phu đỉnh thiên lập địa, ân oán phân minh.

Nay thọ ân cứu tử của Hầu gia, Khổng mỗ xin làm thân khuyển mã để đáp đền.

Ngân Diện Hầu gia mỉm cười khoa tay:

- Nhị vị chớ bận tâm. Việc tương trợ lẫn nhau là đạo nghĩa chốn giang hồ.

Vả lại, tại hạ nào dám nghĩ đến việc thu nhận một bậc đại hiệp thành danh đây như Khổng huynh đây làm thủ hạ.

Khổng Đam nghe câu tán dương ấy thì vô cùng đắc ý, cười hề hề:

- Cảm tạ Hầu gia đã quá khen. Thật ra, Khổng mỗ chỉ bắt chước bọn kép hát mà nói thế thôi. Ơn kia, ngày sau Đam tôi sẽ tùy cơ mà báo đáp. Khổng mỗ tính khí khác người, hành sự hồ đồ, chỉ ba ngày cũng đủ khiến Hầu gia phải điên đầu.

Nói xong, Khổng Đam ngồi vào bàn của bọn kiếm thủ mà ăn như hổ đói.

Tử Khuê cảm mến cái tính thật thà của gã song không hề có ý thu nạp. Lý do là vì họ Khổng là đệ tử của Nam Thiên Tôn, kẻ địch của chàng. Lẽ nào sau này Khổng Đam có thể vì chàng mà chống lại sư phụ Thứ đến, thân cận với một kẻ quá ngu ngốc là một việc rất nguy hiểm.

Tử Khuê vừa ăn vừa ngắm khuôn mặt xanh xao của Tống Thụy mà rộn ràng niềm thương cảm. Chàng biết nàng yêu thương mình và đã đau khổ rất nhiều trong những tháng qua. Nhớ lại những lần cùng vào sinh ra tử, chàng thức nhận rằng nữ nhân kỳ lạ này chính là người bạn đời tuyệt diệu nhất mà một kiếm khách luôn mong đợi.Ở nàng, chàng tìm được cả tình yêu lẫn tình bạn hữu.

Chờ Tống Thụy nuốt xong chiếc bánh hấp, Tử Khuê điềm đạm hỏi:

- Vì sao Tống cô nương và Khổng Đam lại bị bọn người kia tấn công?

Chúng thuộc bang hội nào vậy?

Tống Thụy buông đũa đáp:

- Chẳng rõ bọn họ là ai mà có ý định bắt sống tiện nữ. May mà Khổng sư huynh sớm ra tay tương trợ nên mới cầm cự được đến lúc Hầu gia xuất hiện.

Tử Khuê vẫn còn thắc mắc:

- Bổn nhân nghe đồn Tống cô nương đã từng đối đầu với Nam - Bắc Thiên Tôn, sao lại được Khổng huynh giúp đỡ?

Tống Thụy mỉm cười:

- Với tính nết ấy thì Khổng Đam nào có phân biệt bạn hay thù. Vả lại, y đã bị Nam Thiên Tôn đuổi cổ rồi.

Tử Khuê lấy làm lạ, quay sang hỏi Khổng Đam:

- Này Khổng huynh! Vì sao các hạ là đệ tử của Nam Thiên Tôn, một trong hai vị Bang chủ mà lại bị Nam Bắc bang khai trừ vậy?

Hồ Đồ Thần Thương buông đũa, nhăm nhó khuôn mặt tròn vo vành vạnh nung núc những thịt cùng mỡ, nói với giọng buồn rầu ấm ức:

- Bẩm Hầu gia! Khổng mỗ làm ơn mắc oán, chỉ trách trời già không có mắt. Hồi cuối năm ngoái, sau trận Độc Nha sơn, gia sư đã lệnh cho Khổng mỗ về Thiên Dương rước nhị sư nương về Lĩnh Sơn. Dọc đường, do thời tiết quá lạnh mà bị tái phát chứng bệnh cũ ngay khi vừa đến thành Vũ Xương. Đêm ấy, thấy nhị sư nương ôm bụng lăn lộn, rên xiết dữ dội, Khổng mỗ sợ quá, định đi mời đại phu nhưng sư nương không cho và bảo rằng chỉ có “Âm Dương Hòa Hợp tâm pháp” của gia sư thì trị được bệnh này. Nay gia sư vắng mặt, bà sẽ hướng dẫn cho Khổng mỗ thực hiện. Đam tôi vốn là người hiếu thảo, nhất nhất tuân lệnh.

Mấy chữ “Âm Dương Hòa Hợp tâm pháp” rất gợi cảm, thầm hiểu chuyện gì đã xảy ra, nhưng không lẽ gã họ Khổng này lại ngu ngốc tới mức ấy?

Tiểu Tinh tủm tỉm hỏi cho rõ:

- Này Khổng huynh! Chẳng hay lệnh sư nương niên kỷ bao nhiêu và nội dung tâm pháp kia thế nào?

Khổng Đam ấp úng đáp:

- Như tại hạ đã trình bày, đấy là vợ lẽ của gia sư, tuổi tác mới độ ba mươi hai. Còn “Âm Dương Hòa Hợp tâm pháp” thì... thì... chính là chuyện ấy đó mà.

Vẻ bẽn lẽn, thẹn thùng của gã trai già họ Khổng đã khiến bọn Thần Phong kiếm thủ cười nôn ruột. Từ Vũ vừa tức cười vừa bực bội chửi đổng:

- Con bà nó! Ngươi thông dâm với sư nương mà còn kêu oan cái nỗi gì nữa?

Khổng Đam nhăn mặt biện bạch:

- Xin Từ huynh và anh em chớ hiểu lầm nhân cách của tại hạ. Lúc đầu, sư nương chê miệng Khổng mỗ hôi rượu, ban cho một viên kẹo hoa huế, rồi sai tại hạ xoa bóp thân thể. Lát sau, Khổng mỗ nghe đầu óc chếnh choáng và không biết gì nữa. Khi tỉnh lại mới biết mình bị con mụ người Mông kia cưỡng bức chẳng còn giữ được tiết hạnh. Kể từ đó, đêm nào mụ cũng giày vò tại hạ đến tận sáng.

Cả nhà ôm bụng cười ngặt nghẽo vì cách dùng chữ của Khổng Đam.

Nhưng chính gã thì bật khóc sụt sùi:

- Khổng mỗ đã cắn răng chịu đựng suốt một tháng trời, thế mà về đến Linh Sơn rồi vẫn không thoát. Thỉnh thoảng, nhị sư nương lại lẻn xuống phòng tại hạ. Cuối cùng gia sự cũng phát hiện ra hồi giữa tháng giêng. Nếu không có Phùng sư bá thì Khổng mỗ đã bị gia sư giết chết.

Dẫu cho Khổng Đam chủ động song việc xảy ra quá là khó dung thứ.

Nếu là bậc trượng phu chân chính, gã phải giết ngay người đàn bà dâm đãng kia và thưa thật với sư phụ. Đằng này, họ Khổng lại kéo dài chuỗi ngày tội lỗi thì quả xứng danh hồ đồ. Phải chăng chính gã cũng bị cám dỗ bởi khoái lạc nên không còn dũng khí để cắt đứt?

Tử Khuê không nỡ kết tội gã mà thầm thương kẻ có bẩm sinh đầu óc kém cỏi, ngu muội.

Dù thương tích không sâu, chỉ rách da rách thịt, và được bôi thuốc kim sang thần diệu của Hoạch Đầu hội, hai bệnh nhân vẫn phải tịnh dưỡng, tránh những cử động mạnh để miệng vết thương mau kéo da non. Cho nên, Tống Thụy và Khổng Đam vẫn phải ở lại Hưng Thái đại lữ điếm với người ơn.

Phần Tử Khuê thì ngay sau bữa ăn sáng đã ra ngoài, tiếp tục tìm kiếm người thân. Lần này, chàng chỉ mang theo anh em họ Từ và bốn tay kiếm Thần Phong. Sáu người kia ở lại lữ điếm bảo vệ nạn nhân.

Tin tức về trận chiến ở công viên Nam Hải đã loan khắp thành, nên nhiều ánh mắt trên đường phố đã nhìn Ngân Diện Hầu với vẻ hiếu kỳ và nể sợ.

Hôm qua, có khá nhiều hào khách chứng kiến thủ pháp phóng phi đao và kiếm thuật của bọn cận vệ Tiêu Hầu gia. Thuộc lạ lợi hại thế thì chủ nhân không thể tầm thường. Họ đã tự hỏi rằng phải chăng đã đến lúc hậu duệ của nhà họ Tiêu dương danh thiên hạ.

Nhưng vị Hầu tước trẻ tuổi kia chẳng hề tỏ vẻ hãnh diện, tự hào. Và dường như chàng ta đang tư lự về một vấn đề nghiêm trọng nào đó?

Quả đúng vậy, Tử Khuê đang cố phỏng đoán lai lịch, môn hộ của những kẻ đã tấn công Thiết Đảm Hồng Nhan. Kiếm pháp của họ khác hẳn với những môn phái mà sư phụ chàng đề cập đến. Bản lĩnh của họ không bằng bọn Thần Phong kiếm thủ vì tuổi tác chỉ độ tam thập trở xuống. Nghĩa là, lớp trung niên của bang hội ấy sẽ lợi hại hơn nhiều. Tử Khuê linh cảm rằng canh bạc võ lâm sẽ có thêm một tay chơi sừng sỏ.

Và nếu đúng vậy thì Tử Khuê khó mà bảo vệ được Tống Thụy vì lực lượng quá mỏng manh. Chàng quay lưng hỏi Từ Phong:

- Từ các hạ có phát hiện manh mối gì về lai lịch của bọn địch thủ hôm qua không?

Tử Khuê đã nhập vai Tiêu Mẫn Hiên, vì tôn kính Tiêu nhị phu nhân mà tôn trọng cả những người bạn thơ ấu của bà. Bở vậy, chàng rất lễ độ với anh em họ Từ, dù thân phận của họ chỉ là thủ hạ. Điều này đã làm cho Từ Phong, Từ Vũ rất cảm kích. Những kiếm thủ Thần Phong khác cũng rất hài lòng trước cách xưng hô của tân Hội chủ. Chàng ta đã khiến họ cảm thấy nhân cách mình có giá trị hơn trước. Và họ nhủ lòng rằng sẽ sẵn sàng chết vì người tri kỷ.

Nhắc lại, khi nghe Tử Khuê hỏi, Từ Phong liền đáp:

- Bẩm Hầu gia! Tối qua thuộc hạ cũng suy nghĩ mãi và cùng anh em bàn bạc phán đoán. May thay, Tống Tiểu Tinh hiền muội đã nhớ ra mình từng gặp loại kiếm pháp ấy. Hồi giữa năm ngoái, Tống hiền muội nhận lệnh xuống Tín Dương công cán. Khi sang đến bờ Nam sông Hoài Hà và còn cách cửa Bắc thành Tín Dương hai chục dặm, Tiểu Tinh bỗng nghe trong lối mòn của cánh rừng mé tả kia có tiếng mỹ nhân kêu cứu. Tinh muội động lòng hiệp nghĩa liền rẽ vào và theo dấu vó ngựa mà đuổi theo. Cuối cùng, những dấu vết ấy đã dẫn Tiểu Tinh đến một tòa sơn trang nằm dựa núi Thốc Sơn. Cơ ngơi này rất rộng lớn và kiên cố, tường xây cao đến hai trượng, cổng chính treo chiêu bài Long Vân bảo.

- Tinh muội kiên nhẫn chờ đợi đến tối, trèo tường vào dọ thám. Trước tiên, nàng ta nhìn thấy mấy trăm hán tử võ phục xám đang luyện kiếm. Và đấy chính là thứ kiếm pháp đã tạo ra những kiếm ảnh hình tam giác mà chúng ta đã gặp chiều qua.

- Tiểu Tinh bám vào đỉnh tường, di chuyển vào khu hậu viện thì phát hiện nhà cửa, phòng ốc nhiều vô số, không tài nào tìm ra được chỗ nhốt nạn nhân. Tinh muội tự lượng sức mình, đành bó tay, rời khỏi nơi ấy.

Nghe xong câu chuyện, Tử Khuê bâng khuâng thầm nghĩ:

- Té ra có những người trong bọn sát thủ này vẫn còn giữ được lòng hiệp nghĩa. Ta phải tìm hiểu cặn kẽ rồi tìm cách đưa họ về với chính đạo.

Và ngay sau đó, Tử Khuê chợt đến những lời lẽ mà nghĩa phụ Trung Thiên Tôn. Ông từng chỉ về hướng núi Thốc Sơn, cách La Sơn vài chục dặm, bảo rằng nơi ấy là nơi ẩn cư của một ma đầu cái thế, Long Vân Tú Sĩ Quảng Chiêu Phong. Họ Quảng năm nay tuổi gần thất thập, tính tình thâm trầm, kính đáo, cơ trí thông tuệ tuyệt luân, gian hùng đáng mặt anh em với Tào Tháo. Tuy lão đã thoái xuất giang hồ ở tuổi sáu mươi, nhưng Trình Ninh Tĩnh không hề yên tâm. Ông đoán rằng Long Vân Tú Sĩ đã tìm được bí kíp võ công của cổ nhân, đang cố tu luyện và chờ ngày khuynh đảo võ lâm. Một con người tài hoa đầy tham vọng như Quảng Chiêu Phong sẽ không chịu gác kiếm quy ẩn sớm như thế.

Tử Khuê bất giác rùng mình lo sợ bởi giả thiết rằng Long Vân bảo cố bắt sống Tống Thụy để uy hiếp Trung Thiên Tôn. La Sơn không xa Thốc Sơn và Trần lão chính là trở ngại lớn lao đối với mưu đồ bá chủ của Long Vân Tú Sĩ.

An nguy của Thiết Đảm Hồng Nhan cũng có thể là của những người khác trong gia đình chàng. Nếu họ có mặt ở đây đúng lúc tất sẽ bạt kiếm tương trợ Tống Thụy.

Từ ngày học xong “Lôi Đình kiếm pháp” và có thêm chục năm công lực, Tử Khuê không sợ bất cứ địch thủ nào. Nhưng chàng lại đang hóa thân làm người khác, chẳng thể đem hết sở học ra thi thố, nên khó mà bảo vệ được những người mà mình yêu quý nếu đối phương quá hùng mạnh, đông đảo. Tử Khuê suy nghĩ một lúc, gượng cười nói với bọn thủ hạ:

- Nguy hiểm thật. Xem ra ta đã vô tình chọc nhằm tổ ong dữ là Long Vân bảo. Không biết họ có nể nang cái tước Hầu gia của ta không nhỉ? Từ Vũ nhếch mép cười nhạt, ánh mắt đầy vẻ oai nghiêm:

- Hầu gia cứ yên tâm. Sau khi biết bọn kẻ thù là ai, bọn thuộc hạ đã sớm gửi thư hỏa tốc về Hầu phủ, gọi hết đội Thần Phong kiếm thủ đến đây rồi. Chỉ nội chiều nay họ sẽ có mặt.

Tử Khuê vừa mừng vừa kinh ngạc, hỏi lại gã:

- Vì sao các hạ hành động một cách sáng suốt như vậy? Và thư di chuyển bằng cách nào mà Hầu phủ có thể nhận được nhanh như thế?

Từ Vũ vui vẻ đáp:

- Bẩm Hầu gia, chiều hôm qua thuộc hạ đã cho người ở lại công viên Nam Hải dọ thám tình hình. Nhờ vậy mà chúng ta biết được rằng bọn địch đã cùng viện binh quay lại thu nhặt những kẻ bị thương hoặc đã chết. Gã Tương Ký ẩn núp trong lùm cây nên nghe lóm được vài câu đối phương bàn bạc. Đầu lãnh của chúng, một tên trung niên, râu quai nón, đã tỏ vẻ ngần ngại khi đụng chạm đến Hầu gia tại đây. Gã ra lệnh cho thủ hạ tạm xếp xó vụ này lại, chờ đến sau ngày rằm, khi Tống cô nương trở về Nghiệp thành thì mới ra tay.

Từ Phong cướp lời em, ranh mãnh nói:

- Nhưng bọn thuộc hạ biết Hầu gia đã quyết chí lấy Thiết Đảm Hồng Nhan nên bàn nhau gọi quân tiếp viện.

Đúng là Tử Khuê đã tuyên bố như thế khi bọn thuộc hạ tỏ ý không tán thành việc chàng chọn Tống Thụy làm ý trung nhân. Họ đã khai hết lai lịch cũng như thành tích của ả cọp cái, mong làm chàng thối chí. Kể cả nghi vấn rằng Tống Thụy đã thất thân với Thiếu chủ Xoa Lạp cốc Nhạc Cuồng Loạn.

Tử Khuê đã phải giả vờ làm một trai tơ mới lớn, lỡ say mê rồi thì bất chấp tất cả.

Thấy chủ nhân lộ vẻ ngượng ngùng, Từ Vũ bác lời anh:

- Thật ra việc cầu cứu Hầu phủ là để bảo vệ Hầu gia trước tiên. Lúc nãy, thuộc hạ chưa kể hết những gì Tương Ký nghe được, Long Vân bảo cũng đã quyết định chặn đường tiêu diệt chúng ta. Chính vì thế mà bọn thuộc hạ đã mau chóng nhờ chim bồ câu của Cái bang đưa tin khẩn về Trịnh Châu. Nhờ vậy mà bọn viện binh mới có thể đến đây sớm được.

Tử Khuê ngơ ngác hỏi lại:

- Chẳng lẽ Cái bang cũng liên minh với bổn hội?

Từ Vũ lắc đầu, tủm tỉm đáp:

- Bẩm không. Các Phân đà Cái bang đều có quyền kiếm thêm tiền bằng cách chuyển giùm thư tín cho đồng đạo võ lâm hoặc bách tính. Họ chẳng cần biết nội dung của thư từ nếu người gởi và địa chỉ đến không đáng ngờ. Bao năm qua, bổn hội đã nhờ họ rất nhiều.

Tử Khuê chua chát nghĩ:

- Bang chủ Cái bang má biết được sự thật oái ăm này thì chắc sẽ ngã ngửa ra mà chết vì tức tối.

Từ Phong bỗng cười gượng gạo, ấp úng nói:

- Nay Hầu gia đã rõ ẩn tình thì xin hãy tha cho thuộc hạ tội lấy trộm Kim ấn. Không có cái dấu hiệu triện chết tiệt ấy thì Du Tổng quản sẽ không tin.

Tử Khuê chợt nhớ ra mình có mang theo một chiếc ấn triện nhỏ bằng vàng khối để đóng trên thư từ, văn bản. Chắc là Tống Tiểu Tinh đã lén thó của chàng vì ả là người phục vụ quần áo, chiếu mền.

Tử Khuê bật cười dễ dãi:

- Không sao! Không sao! Chư vị đã hành động vì hảo ý nên ta không nỡ bắt lỗi. Nhưng lần sau cứ nói thật với ta, đừng nên che giấu.

Hai gã họ Từ có ý sợ hãi cúi đầu vâng dạ. Qua mặt thượng cấp là một việt chẳng nhỏ, may mà họ phán đoán không sai về tính cách của cậu chủ nhỏ.

Chàng rất nhân từ tất sẽ bỏ qua.

Tử Khuê cùng sáu thủ hạ lang thang khắp thành, cố tìm thêm một vài nữ nhân nữa. Bọn Thần Phong vừa đi vừa cười thầm cái gã Tiêu Hầu gia dở người, kiếm vợ mà cứ như đi chợ vậy.

Đến đầu giờ Ngọ, cả bọn đều thấy đói bụng nên ghé vào Giác Duyên đại phạn điếm dùng bữa. Tuy là chiêu bài mang hơi hướng Phật pháp nhưng quán này lại bán chủ yếu là món mặn, cơm chay cũng có song chỉ là phụ, được biểu hiện trên tấm bản gỗ dán giấy vàng, dựng trước cửa “Bổn tiệm có bán cả thức ăn chay”.

Nghịch lý ấy xuất phát từ Thiếu Lâm tự là một ngôi chùa thiền tông, không được đám nữ tín đồ ưa chuộng. Ở đấy các nhà sư trẻ luôn giữ trang nghiêm như tượng, chẳng biết tươi cười chào đón. Họ cũng không biết coi bói, chấm số tử vi, chọn ngày hung cát, hoặc gỡ rối tơ lòng. Vị trí chùa lại khá cao, làm nhùn chân đám Phật tử già yếu. Còn những bài thuyết pháp của Thiếu Lâm tự thì lại quá cao siêu, hạng thanh văn duyên giác chẳng thể nào hiểu nổi.

Cho nên trừ những kẻ yêu mến thiền học, đa số tìm đến những ngôi chùa nhỏ khác, theo phái Tịnh Độ Tông. Ở đấy, họ tìm được tất cả những gì mình cần thiết về mặt tâm linh cho người sống lẫn người chết.

Do đó, Giác Duyên đại phạn điếm bán đồ mặn đắt hơn đồ ăn chay. Khổ nỗi, cái tên sặc mùi nhang khói ấy lại không quyến rũ được đám hào kiệt giang hồ từ bốn phương kéo về nên quán cơm rộng lớn này rất vắng khách.

Khi bọn Tử Khuê bước vào phạn điếm thì chỉ có lèo tèo vài bàn thực khách. Họ ăn chứ không nhậu, không giang lại càng yên tĩnh buồn chán.

Quán đang ế ẩm nên khách được chào đón ân cần, niềm nở, nhất là khi đây là một vị Hầu tước sang trọng, quyền quý. Và trong chốc lát, thức ăn được mau chóng dọn ra, tất nhiên là có cả vò rượu Thiên Hưng thượng hạng.

Dù tửu lượng rất cao, nhưng Tử Khuê ít khi uống nhiều. Chàng có thể vì người mình yêu mến mà uống thâu đêm suốt sáng để họ được vui, nhưng chưa bao giờ dùng rượu để nhấn chìm nỗi buồn phiền của bản thân. Sau cơn say rã rời, cuộc đời vẫn hiển hiện những đắng cay, phiền não vì còn người thì còn đó những nỗi buồn khôn khuây.

Tử Khuê ăn uống chậm rãi, từ tốn, ánh mắt hướng ra ngoài của quán, như sợ không kịp nhìn thấy người thân đi ngang qua.

Phải chăng trời cao không phụ người có lòng? Một đoàn nhân mã đông đảo đã dừng vó ngựa trước Giác Duyên đại phạn điếm, và lá đại kỳ Hoàng Phong bang bay phần phật trong gió đã khiến Tử Khuê vui khôn xiết.

Trái tim chàng rộn rã đập nhanh vì người đầu tiên bước vào quán quan sát là Vô Tướng Quỷ Hồ Dịch Quan San. Gã có mặt tức Dịch Tái Vân cũng vậy.

Dịch Quan San quét đôi nhãn thần quan sát khắp lượt thực khách, thấy không có gì đáng trở ngại liền trở ra. Lát sau, họ Dịch kính cẩn hướng dẫn ba nữ nhân áo vàng, đầu đội nón che chân diện, vào trong quán.

Nhờ thái độ nhũn nhặn của Quan San mà Tử Khuê đoán ra ngay nữ nhân đi chính giữa chính là mẫu thân mình, Băng Tâm Ma Nữ Kỹ Thanh Lam.

Chàng phải cố đè nén niềm cảm xúc đang dâng trào như nước lũ, không chạy đến ôm từ mẫu mà khóc cho thỏa thích.

Sáu gã kiếm thủ Thần Phong cũng dán nhãn quan hiếu kỳ vào những người mới đến, nên không phát hiện mắt chủ nhân mình ướt rượt.

Bàn của Tử Khuê và những bàn có thực khách khác đều nằm dọc hướng tây nên khoảng trống còn lại rất lớn. Dịch Quan San liền bố trí cho ba nữ nhân vào một bàn ở giữa. An tọa xong, họ lột nón rộng vành có rèm the mỏng, để lộ gương mặt mà Tử Khuê nhung nhớ đã bao ngày. Chàng nghe lòng nhói đau khi vùng tóc mai của mẹ hiền đã điểm bạc và dáng vóc của bà gầy gò hơn trước.

Nhan sắc của Thiên Kim, Tái Vân cũng kém tươi, không hề có một chút phấn son, sắc diện phảng phất nỗi ưu buồn, lo lắng.

Nhưng đối với bọn Thần Phong kiếm thủ thì hai người ấy vẫn xinh đẹp phi thường. Và khi phát hiện tiểu Hầu tước cứ nhìn mãi về phía ấy, Từ Phong rầu rĩ nói nhỏ:

- Bẩm Hầu gia! Nữ nhân trung niên ấy thì thuộc hạ không rõ là ai, nhưng hai ả trẻ tuổi kia lai lịch rất lớn, người chớ nên tơ tưởng cho hoài công. Cái ả đẹp trang nghiêm là Bang chủ Hoàng Phong Trình Thiên Kim, cũng là Hầu tước. Nàng ta tính tình nóng nảy, lỗ mãng kinh khủng nên có biệt danh Trình Giảo Kim. Còn cô nàng thon thả có đôi mắt nhiếp hồn kia là Đông Nhạc Tiên Hồ Dịch Tái vân, xảo trá nổi tiếng võ lâm. Ả cũng chính người Thần Đao bảo nhờ bổn hội bắt sống.

Nghe gã nói xấu vợ mình, Tử Khuê phì cười, ỡm ờ đáp:

- Sách có câu “phu tướng phụ tùng”, họ có dữ dằn mấy ta cũng không sợ.

Bổn nhân đã phát nguyện rằng sẽ ôm hết giai nhân trong thiên hạ. Nay chẳng thể bỏ qua mối hời này được. Còn hợp đồng với Thần Đao bảo thì ta cũng sẽ hủy bỏ luôn.

Bọn kiếm thủ ngao ngán nhìn nhau. Họ cho rằng chàng trai trẻ tuổi này chưa hết điên nên mới muốn vợ một cách dữ dội thế.

Lúc này Phá Sơn Quyền Trình Kiếm Các, biểu thúc của Thiên Kim đã bố trí xong người canh gác, đưa số còn lại vào quán. Ngoài toán đệ tử Hoàng Phong bang kè kè lồng dựng ong độc, còn có bốn mươi hai gã hàng binh Xoa Lạp cốc.

Những người ấy ngồi chung quanh để bảo vệ thượng cấp. Trình lão thì cùng ăn với ba nữ nhân và Dịch Quan San. Năm người lặng lẽ dùng bữa và Tái Vân là người buông đũa trước. Nàng bưng tách trà nhấm nháp, mắt liếc quanh nhận ra cái gã diêm dúa, mang mặt nạ kia đang nhìn mình đắm đuối.

Là người lịch duyệt, Tái Vân đoán ngay đối phương chính thị Ngân Diện Hầu đất Trịnh Châu. Tổng đàn Võ lâm cũng ở đấy nên nàng từng nghe Âu Dương Mẫn nhắc đến Hầu phủ. Lão rất bực bội vì những cơ sở kinh doanh của nhà họ Tiêu không chịu đóng phí bảo kê cho lão Đại thành Trịnh Châu, khiến lão cũng giảm phần thu nhập.

Dịch Tái Vân cau đôi mày liễu thanh mãnh, lộ vẻ khó chịu rồi quay sang hướng bắc. Trước kia, nàng luôn tự hào khi được bọn nam nhân chiêm ngưỡng, say mê. Nhưng giờ đây, những ánh mắt tôn thờ ấy chỉ khiến nàng thêm đau đớn vì thương nhớ trượng phu.

Khi buổi ăn kết thúc thì có một hán tử áo vàng, thấp đậm, nhễ nhại mồ hôi, chạy vào bẩm cáo Trình lão:

- Bẩm lão gia! Đoàn gia trang đã bán cho người khác và tất cả các khách sạng trong thành đều hết phòng.

Trình lão thất vọng than thở:

- Thế có chết không chứ. Lão phu không ngờ lão chết toi họ Đoàn lại đột nhiên bán nhà. Tổng nhân số của ta hiện nay hơn trăm, tối nay biết trọ ở đâu bây giờ?

Thiên Kim nghiêm giọng bảo bọn thủ hạ:

- Sao ngươi không thử hỏi mướn những trang viện khác trong thành?

Gã áo vàng rầu rĩ đáp:

- Bẩm Bang chủ. Thuộc hạ cùng hai mươi huynh đệ khác đã rảo khắp thành mà không tìm được nhà nào còn trống, dù lớn hay nhỏ.

Tử Khuê nghe đến đấy liền hỏi anh em họ Từ:

- Chiều nay khi đội Thần Phong kiếm thủ đến đây thì họ sẽ ở đâu?

Từ Vũ đắc ý đáp:

- Bẩm Hầu gia. Chính chúng ta đã mua Đoàn gia trang hồi sau tết. Lão họ Đoàn thua bạc nên bán rất rẻ. Bổn hội có tai mắt khắp nơi, luôn nắm được cơ hội kiếm lời. Cơ ngơi ấy rất rộng lớn, phòng ốc, tiểu viện gần trăm gian, thừa sức chứa nửa ngàn người. Nếu Hầu gia muốn nhân dịp này lấy lòng người đẹp thì xin cứ tùy tiện.

Tử Khuê mừng rỡ, giả vờ hỏi thêm:

- Này chư vị! Liệu đám người này có quen biết với Thiết Đảm Hồng Nhan hay không?

Gã sát thủ rậm râu tên Tần Thiếu Bá được dịp lập công với chủ, lên tiếng ngay:

- Bẩm Hầu gia! Thuộc hạ từng có công cán ở Dụ Châu, biết rõ rằng Tống cô nương và Đông Nhạc Tiên Hồ cùng là bạn của Tây Nhạc kiếm khách Lư Công Đán. Vậy thì họ phải quen biết nhau.

Tử Khuê chỉ hỏi cho có lệ chứ chàng biết rõ quan hệ ấy hơn ai hết. Chàng mỉm cười hài lòng, đứng lên sửa sang y phục rồi bước đến bàn của người thân.

Họ nhìn chàng với ánh mắt nghi hoặc, cảnh giác và thiếu thiện cảm.

Tử Khuê ôm quyền, nhã nhặn nói, mắt hướng thẳng vào Kỹ nương:

- Bẩm phu nhân. Tại hạ Tiêu Mẫn Hiên quê đất Trịnh Châu, cũng là chủ mới của Đoàn gia trang. Hiện nay, nơi ấy vẫn còn bỏ trống, chưa sử dụng đến.

Ngưỡng mong phu nhân cùng chư vị đây hạ cố nhận lời kính thỉnh của tại hạ, đến đấy nghỉ ngơi.

Giọng nói của Tử Khuê hơi khàn và đầm ấm, khác hẳn khi xưa, có lẽ vì “Thiên niên Hà thủ ô”. Kỳ trân hãn thế ấy đã tạo ra những thay đổi nơi cơ thể chàng, không chỉ ở hiện tượng mọc râu, biến giọng mà các giác quan cũng minh mẫn hơn trước bội phần.

Tất nhiên là chẳng ai trong số những người thân của chàng nhận ra đôi môi và hàm răng quen thuộc, bởi chung quanh chúng có quá nhiều những cọng râu cứng cáp, cái mà Tử Khuê không hề có.

Những ánh mắt thiết tha của chàng đã đánh động mối dây linh cảm thiêng liêng trong lòng người mẹ. Tuy không nghĩ đối phương là con của mình, song bất giác Kỹ nương có cảm tình với Ngân Diện Hầu.

Băng Tâm Ma Nữ hiền hòa đáp:

- Lão thân xin đa tạ hảo ý của Hầu gia. Song phương chưa hề quen biết nên bọn lão rất ngại ngùng. Tuy nhiên, nếu lát nữa không còn chốn trú thân nào khác, bọn lão thân sẽ đến quấy nhiễu Đoàn gia trang một phen.

Tử Khuê hiểu rằng bà con do dự, muốn thương lượng với những người khác. Chàng vái chào rồi quay về bàn mình.

Từ Phong tủm tỉm cười, hạ giọng:

- Thuộc hạ e rằng Hầu gia sẽ hoài công. Phong này dám chắc vị phu nhân này theo họ Quách và là mẹ chồng của hai ả nõn nà kia.

Tử Khuê thản nhiên đáp:

- Ta cũng nghĩ như thế và sẽ sai các hạ đi Hứa Xương ám sát cái gã Quách công tử tốt phúc nọ. Khi hai nàng đã góa bụa thì ta ngỏ lời cầu hôn thì cũng chẳng muộn.

Bọn sát thủ bật cười, chẳng hiểu Hội chủ nói đùa hay nói thật. Và nếu chàng muốn thế thì bọn họ cũng sẵn sàng thực hiện ngay. Bắt sống người thì hơi khó chứ ám sát thì dễ hơn. Họ chỉ cần kiên nhẫn mai phục, chờ đợi con mồi ra khỏi hang, phóng vài mũi tiêu tẩm độc là rồi đời.

Bên kia, Dịch Tái Vân cũng hạ giọng nói khẽ với mẹ chồng:
- Bẩm mẫu thân! Hài nhi đã bắt gặp gã họ Tiêu nhìn chúng ta trân trối.

Hài nhi e rằng gã là kẻ hiếu sắc, không thể tin tưởng được.

Kỹ nương gật gù, nhìn Thiên Kim với ánh mắt dò hỏi. Nữ Hầu tước bèn thỏ thẻ:

- Bẩm mẫu thân! Nhân số chúng ta đông đến gần trăm, chỉ cần tiểu tâm đề phòng là được.

Dịch Quan San cũng góp ý:

- Bẩm can nương. Hài nhi tự tin có thể đối phó với mọi mưu ma chước quỷ, nếu gã họ Tiêu dám giở trò.

Trình Kiếm Các là khách nên giờ mới lên tiếng. Nhưng lão vừa tằng hắng xong chưa kịp nói thì phát sinh biến cố. Ngoài đường vọng ra những tiếng vó ngựa dồn dập, gấp gáp và đoàn kỵ sĩ đông đáo ấy dừng cương trước cửa Giác Duyên phạn điếm. Đáng ngại hơn nữa khi ai đó dõng dạc ra lệnh:

- Mau vây chặt phạn điếm, không để bất cứ ai ra vào!

Mặt trước quán cơm chay nửa mùa này nằm trên đường trục bắc nam, phía sau và hai bên giáp với đường nhánh, nên đối phương hoàn toàn có thể vây kín, không chừa một lối thoát nào.

Qua cửa chính, người bên trong có thể thấy thấp thoáng bóng quân binh cầm giáo đang phối hợp cùng những gã áo xanh thẩm cầm đao Nhật Bản. Thứ đao đặc dị ấy chính là chiêu bài của Thần Đao bảo. Nhưng trong số những kẻ đi theo vị võ quan vào quán, không chỉ có Thần Đao bảo chủ Tần Minh Viên mà còn có Võ lâm Minh chủ Âu Dương Mẫn.

Đông Nhạc Tiên Hồ Dịch Tái Vân hiểu ngay rằng họ đến đây vì mình.

Dẫu đã dự trù trước cuộc chạm mặt bằng cách mang theo một lực lượng đông đến hàng trăm, song Tái Vân và những người khác không ngờ rằng đối phương lại mượn tay quan quân. Ai nấy ngồi im như tượng, đặt tay vào đốc gươm chờ đợi.

Gã võ quan tuổi tứ tuần kia hách dịch nói:

- Bổn quan là Tổng binh thành Đăng Phong, nhận lệnh Tri huyện đại nhân đến đây bắt ả Dịch Tái Vân vì tội đào hôn. Theo sớ kiện thì Tái Vân đã được nghĩa phụ là Âu Dương lão gia gả cho công tử Tần Trọng Vĩ, con trai Thần Đao Bá. Y thị đã chịu nhận sính lễ song lại bỏ trốn trước ngày hôn lễ, vi phạm luật Đại Minh.

Dịch Tái Vân uất ức thét lên:

- Nói láo! Bổn cô nương nhân sính lễ của họ Tần khi nào?

Âu Dương Mẫn mỉm cười, âm hiểm ôn tồn nói:

- Vân nhi! Ba vạn lượng vàng mà can gia trao cho con chính là lễ vật của Tần gia đấy.

Quả đúng là Tái Vân từng nhận của Âu Dương Mẫn số vàng ấy, song vì tưởng lão cho vì yêu mến. Biết mình đang gánh chịu những hậu quả của hành vi nông nổi năm xưa. Tái Vân vô cùng đau xót và hổ thẹn với gia đình chồng.

Kỹ nương không nói gì song nhìn nàng với ánh mắt buồn rầu.

Tái Vân hiểu rằng trong hoàn cảnh này mình loạn động sẽ hại đến Quách gia trang và Trình Thiên Kim. Nàng chống cự thì tất cả sẽ rút gươm, nhưng dẫu có thoát được thì hai nhà họ Quách, Trịnh cũng trở thành tội phạm của triều đình.

Nước mắt tuôn như suối, vai gầy run rẩy, Tái Vân hình dung đến gương mặt đôn hậu của Tử Khuê, lẩm bẩm gọi tên chàng lần cuối. Nàng quyết định quyên sinh để bảo toàn danh tiết.

Nhưng Kỹ Thanh Lam thông tuệ hơn người, nhãn quan sắc bén, hiểu lòng con dâu, nên nghiêm nghị bảo:

- Vân nhi không được nghĩ quẩn! Việc này đã có ta chủ trì.

Trình Thiên Kim cũng an ủi nàng:

- Vân muội chớ đầu hàng. Gia nương là người cơ trí tất hẳn sẽ có cách đối phó lão quỷ Âu Dương Mẫn.

Trong lúc ấy, Tử Khuê cũng rối như tơ vò, cố tìm cách giải cứu ái thê. Âu Dương Mẫn và Tần Minh Viên chẳng đáng sợ nếu không có hậu thuẫn là nha môn Đăng Phong. Vô kế khả thi, chàng gượng cười với bọn thủ hạ:

- Nguy thật! Gã Tổng binh mắc toi kia mượn vương pháp mà hành sự, làm sao ta có thể can thiệp mà cứu giai nhân đây? Chư vị có diệu kế gì không?

Từ Phong buồn rầu đáp:

- Thuộc hạ e rằng chẳng có cách nào cứu ả họ Dịch cả. Gã Tổng binh tên gọi Trịnh Trường Hoài, thuộc dòng dõi trung lương, trưởng nam cố Tri phủ Lạc Dương Trịnh Lương Nhân. Giống như cha, Trường Hoài rất thanh liêm, kiên quyết, theo vương pháp mà hành xử, không thể mua chuộc hoặc hăm dọa được.

Ký ức phu thường của Tử Khuê đã nhớ ra những dữ kiện liên quan đến cố Tri phủ Lạc Dương Trịnh Lương Nhân được ghi lại trong quyển “án lục tuyệt mật” của Hoạch Đầu hội. Chàng khấp khởi mừng thầm, lòng lóe lên niềm hy vọng.

Trở lại cuộc tranh luận giữa hai bên nguyên và bên bị, chúng ta sẽ nghe được Thiên Kim nói thế này:

- Trịnh túc hạ! Ta là Hoàng Phong Hầu Trình Thiên Kim ở huyện Trình, phủ Nam Dương, chắc thúc hạ có nghe nhắc đến?

Trịnh Trường Hoài gật đầu:

- Đúng là mạt tướng có biết việc này. Nhưng dẫu cho tiểu thư có mặc tước phục, đeo kim bài thì cũng không thể can dự vào công vụ của quan lại Đăng Phong.

Thiên Kim đáp:

- Ta cũng hiểu được điều ấy song có vài lời phế phủ mong Trịnh túc hạ cân nhắc.

Trịnh Trường Hoài ôm quyền cúi đầu:

- Xin Hầu gia chỉ giáo. Mạt tướng rửa tai lắng nghe.

Thiên Kim điềm đạm nói ra một hơi:

- Đúng là ba năm trước Dịch Tái Vân có bái Âu Dương Mẫn làm nghĩa phụ và nhận của ông ta ba ngàn lượng vàng. Nhưng khi nhận số vàng ấy, Âu Dương Minh chủ đã có nói rõ nguồn gốc nên chẳng thể bảo Tái Vân đã nhận sính lễ của Tần gia. Lúc nãy, chính Âu Dương Mẫn đã tự biểu lộ ra. Đấy là chuyện quá khứ, bây giờ Âu Dương Mẫn không còn là nghĩa phụ của Dịch Tái Vân nữa. Lý do là vì Âu Dương Mẫn đang bị triều đình nghi ngờ là hóa thân của tên trọng phạm Huyết Mai hộichủ, Tái Vân sợ liên lụy nên có quyền cắt đứt quan hệ cũ.

Thiên Kim nói rất hữu lý khiến Trịnh Trường Hoài do dự. Gã trầm ngâm một lúc rồi lắc đầu, ánh mắt rất kiên định. Nhưng gã chưa kịp phát biểu thì nghe có tiếng cười khanh khách:

- Này Trịnh Trường Hoài! Phải chăng ngươi dám xem thường Thái tổ hoàng đế nên không thèm đến bái kiến bổn Hầu gia.

Thật ra, Trịnh Trường Hoài không hề thấy Ngân Diện Hầu. Gã chỉ chăm chú nhìn vào cái bàn của Tái Vân theo sự chỉ điểm của Âu Dương Mẫn. Hơn nữa, Tử Khuê ngồi sát vách và được sáu gã kiếm thủ đứng vây quanh bảo vệ.

Khi quân là tội rất nặng nên Trịnh Trường Hoài lạnh cả gáy. Đúng là trong Thiên Lễ Luật của Đại Minh có quy luật rằng quan lại cấp thấp phải đến thăm hỏi cấp trên trước.

Họ Trịnh quay lại, nhìn thấy một người áo gấm, ngực đeo kim bài và che mặt bằng Ngân Diện. Đăng Phong không xa và cũng thuộc phủ Lạc Dương, nên Trường Hoài chẳng thể không nghe nói đến Ngân Diện Hầu. Vả lại, trong thành này cũng có tài sản của Hầu phủ là Hưng Thái đại lữ điếm.

Trịnh tổng binh ngượng ngùng bước đến, khom lưng thi lễ:

- Ty chức Trịnh Trường Hoài, Tổng binh thành Đăng Phong xin ra mắt Hầu gia. Lúc này do quá chú tâm vào công vụ nên ty chức không nhận ra sự hiện diện của Hầu gia. Mong bậc quý nhân lượng thứ cho.

Ngân Diện Hầu mỉm cười mỉm cười bao dung và hòa nhã bảo:

- Mời Trịnh túc hạ an tọa. Bổn Hầu có việc cần bàn.

Tuy lòng chẳng muốn nhưng họ Trịnh chẳng dám từ chối, vái tạ rồi ngồi xuống. Gã giật bắn mình khi nghe đối phương hỏi nhỏ:

- Túc hạ có muốn biết ai là hung thủ đã sát hại lệnh tôn hay không?

Mười hai năm nay, Trịnh Trường Hoài nung nấu trong lòng mối thù sát phụ. Gã biết cha mình bị đồng liêu mướn cao thủ ám hại song không rõ chủ hung là ai? Nay có người cung cấp tin tức, Trường Hoài vui mừng khôn xiết, cố trấn tĩnh hỏi lại:

- Hầu gia không lường gạt mạt tướng đấy chứ?

Ngân Diện Hầu lắc đầu nghiêm nghị bảo:

- Ta lấy danh dự của Ngân Diện Hầu bảo chứng cho lời nói. Nhưng túc hạ phải mượn cớ rút quân, viện cớ rằng có sự can thiệp hợp tình hợp lý của Hoàng Phong Hầu và Ngân Diện Hầu. Còn tri huyện Đăng Phong thì túc hạ cứ bảo lão đừng tham vàng của Âu Dương Mẫn mà mang họa. Bổn chủ là thân cận của Tam Ty Hà Nam, chỉ một câu nói cũng khiến lão mất chức.

Trịnh Trường Hoài xem trọng thù gia hơn cả chức tước. gã chẳng cần quan tâm đến phản ứng của lão tri huyện hoặc Âu Dương Mẫn, khẳng khái gật đầu ngay:

- Mạt tướng xin tuân lệnh. Mong Hầu gia cho biết danh tính hung thủ.

Ngân Diện Hầu kề tai gã nói:

- Kẻ ấy là Trác Thanh Khê, mười hai năm trước giữ chức Tri phủ Nam Dương. Còn bây giờ lão ấy ra sao thì ta không rõ.

Trịnh Trường Hoài trợn tròn đôi mắt hổ, nghiến kèn kẹt:

- Té ra lão ta đã vì chức vụ Tả Bố Chính sứ tỉnh Chiết Giang mà đang tâm ám hại tiên phụ. Do lão là bằng hữu chí thiết của tiên phụ mà mạt tướng không bao giờ nghi ngờ.

Ngân Diện Hầu sợ gã hiếu tử này nóng nẩy, thí mạng báo thù, liền nghiêm giọng:

- Nếu Trác Thanh Khê hiện là người đứng đầu tỉnh Chiết Giang thì việc báo thù của túc hạ sẽ bội phần khó khăn, có thể mất mạng mà không thành công. Bổn tước sẽ bày cho túc hạ một kỳ mưu.

Rồi chàng kề tai gã thì thầm một lúc. Sắc diện họ Trịnh rạng rỡ hẳn lên.

Gã vái dài để tạ ơn rồi quay bước trở lại vị trí cũ.

Âu Dương Mẫn và Thần Đao bảo chủ Tần Minh Viên vô cùng sốt ruột, hỏi ngay:

- Này Trịnh quan gia! Phải chăng gã Ngân Diện Hầu kia muốn can thiệp vào vụ này?

Trịnh tổng binh bình thản gật đầu:

- Đúng vậy. Tiêu Hầu gia thông thạo bộ luật Đại Minh, đã chỉ cho bổn quan thấy những điểm không hợp lý của vụ kiện cáo này. Do đó, bổn quan sẽ mang trát trở lại huyện thành, xin tri huyện đại nhân hủy bỏ.

Trước sự bàng hoàng, ngơ ngác của hai lão quái vật, Trịnh tổng binh ra lệnh lui quân.

Thần Đao bảo chủ đã tốn cho tri huyện Đăng Phong bốn trăm lượng vàng mà không nên việc bèn tiếc đứt ruột và nổi điên. Lão giận dữ đổ trách nhiệm lên đầu Âu Dương Mẫn:

- Nếu hôm nay Âu Dương huynh không tận lực cùng lão phu bắt được con nhãi họ Dịch thì Tần mỗ sẽ cắt đứt liên minh.

Phe Hoàng Phong bang đã đứng cả dậy, tuốt kiếm trần sẵn sàng nghênh chiến. Âu Dương Mẫn hớt hải cao giọng can gián:

- Tần lão huynh chớ loạn động!

Nhưng vừa nói dứt lời thì chính lão lại bất ngờ lao đi, vượt qua những bàn bên ngoài, đến vị trí có Dịch Tái Vân. Âu Dương Mẫn xảo quyệt phi thường như thế nên đã thành công. Trường kiếm của lão loang nhanh như chong chóng quanh thân, kiếm kình như bão tố, đánh bật tất cả vũ khí của bọn kiếm thủ người Thổ đứng vòng ngoài, kể cả thanh đao lợi hại của Trình Kiếm Các. Công lực của Âu Dương Mẫn rất thâm hậu, đường kiếm nặng như núi đổ.

Hung hãn như hổ dữ, Âu Dương Mẫn phá tan những đòn tấn công quyết liệt của Dịch Quan San, Trịnh Thiên Kim và Kỹ nương rồi nhảy xổ vào Tái Vân.

Đông Nhạc Tiên Hồ khiếp vía lùi mau, vung cước đá trên mặt bàn gỗ để cản bước lão hung thần. Nhưng Âu Dương Mẫn chẳng hề chùn chân, vung kiếm chẻ đôi mặt bàn ra và tiếp tục ập đến.

Lưng của Tái Vân đã chạm phải một bàn ăn khác, chỉ còn cách đề khí bốc lên. Nàng đã phản ứng hợp lý song Âu Dương Mẫn cũng nhanh nhẹn không kém, bay theo ngay. Sức lực của lão mạnh mẽ hơn nên đã bắt kịp Tái Vân lúc nàng sắp chạm nóc phạn điếm.

Song phương đối diện, Đông Nhạc Tiên Hồ nghiến răng đâm liền bảy nhát kiếm nhanh như điện, quyết đổi mạng với kẻ thù. Nhưng Âu Dương Mẫn kiếm thuật cao siêu, dễ dàng hóa giải chiêu thức ấy, đánh rơi kiếm và vươn tả thủ điểm vào ngực Tái Vân.

Sự việc diễn biến quá mau lẹ, chỉ trong vài cái chớp mắt nên bọn Thiên Kim không sao phản ứng kịp. Đã có ba bốn người đề khí bốc lên để tấn công Âu Dương Mẫn, giải vây cho Tái Vân, song đã quá muộn. Lão ta mà tóm được Tái Vân làm con tin thì không ai đụng đến nữa.

Nhưng cũng chính trong khoảnh khắc hiểm nghèo ấy, một tia chớp màu sáng bạc đã xé không gian, từ hướng Tây bay đến, cắm phập vào huyệt Thiên Tông ở giữa xương bả vai trái Âu Dương Mẫn.

Huyệt Thiên Tông thuộc Kinh Thủ Thái Dương Tiểu Trường, tuy không phải là tử huyệt nhưng ảnh hưởng rất lớn đến cử động của vai và cánh tay. Do đó, tả thủ của Âu Dương Mẫn lập tức rụng rời, chẳng còn chút khí lực nào cả.

Tất nhiên, Âu Dương Mẫn còn bị đau đớn khủng khiếp, khẽ rú lên và mặt thì nhăn như khỉ.

Tái Vân thông minh tuyệt đỉnh, tâm cơ linh mẫn, biến báo hơn người.

Nàng biết ngay Âu Dương Mẫn bị trúng đòn của ai đó, liền co chân đạp thật mạnh vào bụng dưới của lão.

Cú đá ấy không thể khiến một kẻ nhiều năm tu luyện “Thiết Sa thần công” phải thọ trọng thương, song cũng khiến thân xác Âu Dương Mẫn văng ra xa, rơi vào lưới kiếm của Trình Thiên Kim, Dịch Quan San và Kỹ nương.

Lưng và đùi của Âu Dương Mẫn bị đâm thủng bốn năm nhát. Lão rơi nặng nề xuống nền gạch cứng của phạn điếm. Thời may, Thần Đao bảo chủ cũng vừa lao đến nơi, Phá Sơn Quyền và thủ hạ Hoàng Phong bang đã không ngăn cản nỗi đường đao dũng mãnh của họ Tần.

Thấy đồng đảng sắp bị phân thây. Tần Minh Viên vội dùng dùng toàn lực vũ mạnh thanh đao dài, che chắn cho Âu Dương Mẫn ở dưới chân. Và lão thét vang, đốc thúc thuộc hạ vào giải vây.

Nhưng từ đầu đến giờ, bọn thuộc hạ Thần Đao bảo không sao lọt qua được cửa chính cũng như cửa sổ. Chúng đã vượt tường vây, cố xâm nhập mà chẳng được.

Đám gia đinh nhà họ Quách, tức bọn hàng binh Xoa Lạp cốc phòng thủ cực kỳ chắc nhờ phép đánh kiếm thuẫn. Bất cứ kẻ địch nào dại dột nhảy qua khung cửa đều bị đánh văng ra bởi những đòn hợp công kín đáo và hiểm ác.

Ở cửa ra vào, bọn áo xanh bị thương nằm la liệt, mỗi người cắm một hai mũi “Liễu Diệp Phi Đao”. Sáu gã Thần Phong kiếm thủ Hoạch Đầu hội đang trấn giữ lối này. Từ Phong và Từ Vũ cũng tham chiến, không đứng bảo vệ Hầu gia nữa.

Họ đã tận mắt chứng kiến chủ nhân chúng phóng một mũi “Thất Hưu đao” với tài nghệ bậc thầy và một lực đạo kinh hồn. Do mục tiêu ở xa đến hai trượng nên Tử Khuê đã phải sử dụng đến cả sức lực cánh tay lẫn thân người chứ chẳng riêng gì quyển lực. Thủ pháp này chỉ hữu hiệu khi ám toán sau lưng, còn lúc đối diện thì những động tác rườm rà ấy sẽ đánh động đối phương.

Sức mạnh của bốn mươi năm công lực dồn vào cánh tay hữu rắn chắc làm cho “Thất Hưu đao” bay nhanh hơn trường tiễn, chỉ còn là ánh chớp mờ sắc bạc. Hai gã họ Từ tự lượng mình không tài nào đạt đến trình độ ấy. Họ ngạc nhiên kính phục song không nghi ngờ.

Nhưng hai gã không biết Tử Khuê nào có muốn giết Âu Dương Mẫn bằng cách ám muội như vậy. Bất đắc dĩ lắm chàng mới dùng hạ sách này để cứu ái thê. Hiện nay, chàng thừa sức hạ sát lão trong một trận đấu công bằng.

Tử Khuê không phải áy náy lâu vì Âu Dương Mẫn tội ác chồng chất, có chết như thế nào cũng không hề oan ức. Song chàng lại ái ngại cho Thần Đao bảo chủ. Tần lão vì quá thương con nên mới mù quáng tiếp tay cho kẻ ác. Hơn nữa, họ Tần không hề biết Âu Dương Mẫn là Huyết Mai hộichủ Điền Sĩ Lệ.

Nghĩ vậy, nên Tử Khuê vận công cao giọng nói:

- Này Thần Đao Bá. Bổn Hầu gia nghe vài người ở Đô Sát viện Bắc Kinh nói rằng có thể Âu Dương Mẫn chính là Huyết Mai hội chủ. Nếu đúng như thế thì việc lão tận lực cứu mạng Âu Dương Mẫn hôm nay sẽ là tai họa cho cả Tần gia đấy.

Trình Thiên Kim cũng nhảy lùi, phụ họa thêm vào:

- Ngân Diện Hầu dạy rất phải. Chẳng lẽ Tần bảo chủ không nghĩ đến danh dự của dòng dõi trung lương?

Tần Minh Viên chột dạ nghĩ thầm:

- Chắc gì Âu Dương Mẫn sống sót nổi khi bị đâm nát người thế kia? Vả lại, hai đứa trẻ này nói cũng hữu lý.

Đã có chủ ý, Tần lão lên tiếng:

- Được, lão phu đồng ý bãi chiến rút quân. Sau này nếu Âu Dương Mẫn không phải là Huyết Mai hội chủ thì các người sẽ mang tội lạm sát Võ lâm Minh chủ đấy.

Vòng vây lập tức dãn ra, song phương đình thủ và ra lệnh cho thủ hạ ngưng chiến. Tần Minh Viên ngồi xuống xem xét cái xác đẫm máu đang nằm ngửa, mắt trợn trừng, hơi thở đứt đoạn.

Dẫu lợi dụng lẫn nhau song cũng một thời xưng huynh gọi đệ, Tần lão buồn rầu, sa lệ nói:

- Âu Dương huynh cứ yên tâm nhắm mắt. Lão phu hứa sẽ đem di hài về đến Lư Châu và an tán trọng thể.

Âu Dương Mẫn chưa chết hẳn nhưng vì mất máu quá nhiều nên rơi vào tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Và dường như những lời an ủi của Tần Minh Viên đã đánh lòng ham sống sợ chết của nạn nhân. Âu Dương Mẫn bỗng mấp máy đôi môi, thều thào nói:

- Điền mỗ không thể chết được... Năm xưa Lệ này bị rơi xuống vực sâu... mà vẫn bình an, lẽ nào... giờ lại chết vì mấy... vết thương cỏn con này.

Tần lão bàng hoàng choáng váng trước những lời nói mê sảng ấy. Nhất là ngay sau đó, giọng nói đanh thép của Tổng binh Trịnh Trường Hoài vang lên:

- Không ngờ trước khi chết tên trọng phạm Điền Sĩ Lệ lại để lộ chân tướng. Ty chức mong rằng nhị vị Hầu gia làm chứng cho.

Thì ra Trịnh Trường Hoài vì lo lắng cho ân nhân là Ngân Diện Hầu, nên đã kéo quân quay lại khi nghe gã tiểu nhị Giác Duyên phạn điếm chạy theo báo rằng hai phe đang đánh nhau chí chết, sắp phá nát quán cơm.

Nhờ vậy mà họ Trịnh đã có mặt đúng lúc nghe được những lời thú tội của Âu Dương Mẫn.

Thần Đao bảo chủ không nghe Trịnh tổng binh không mời mình làm chứng thì lo sốt vó. Lão đã sát cánh bên cạnh tên tội phạm nguy hiểm kia từ khá lâu, nay lại cùng đến đây, khó mà tránh được liên lụy.

Tần lão thiểu não van nài:

- Khi làm văn án, xin Trịnh lão đệ đừng nhắc gì đến lão phu. Ơn này Tần gia quyết chẳng dám quên.

Trịnh tổng binh cười nhạt:

- Trịnh mỗ có muốn giúp Tần bá cũng không được. Ở đây còn có hai vị Hầu gia nữa, liệu họ có đồng ý hay không?

Tần Minh Viên sợ đến nhũn cả người, quay sang vái Ngân Diện Hầu và Hoàng Phong Hầu:

- Xin nhị vị Hầu gia nghĩ tình đồng liêu của tổ phụ ba dòng họ mà cứu lão phu. Ơn ấy lão phu xin kết cỏ ngậm vành, xả thân đền đáp.

Trình Thiên Kim ỡm ờ đáp:

- Vụ án Huyết Mai hội chủ cực kỳ hệ trọng, phải trình tấu lên Thánh thượng để long tâm hoan hỉ. Bổn nhân chẳng gánh nổi tội khi quân. Nhưng nếu Ngân Diện Hầu thương xót lão thì ta cũng liều mạng tuân theo.

Thiên Kim nhìn thấy cái túi da “Thất Hưu đao” trên bụng trái Tiêu Mẫn Hiên, biết gã chính là người ám toán Âu Dương Mẫn, cứu mạng Tái Vân, góp phần quang trọng đưa lão vào cái chết. Vì vậy, nàng giao quyết định này lại cho Ngân Diện Hầu.

Thế là Tần Minh Viên lại khổ sở khẩn cầu chàng Hầu tước trẻ tuổi nhủ lòng thương. Tiêu Mẫn Hiên tư lự nói:

- Hiện nay cả võ lâm đều biết Tần Đao Bá là cánh tay phải của Âu Dương Mẫn, tức Điền Sĩ Lệ. Dẫu cho trong văn án không nhắc đến tên túc hạ thì sau này Tần gia cũng khó thoát khỏi liên lụy. Bất cứ một gã xấu bụng nào đó cũng có thể đem mối quan hệ này tố cáo với Đô Sát viện và họ Tần diệt vong.

Nghe đến đây, Tần Minh Viên sợ đến mức tứ chi bủn rủn, mặt xanh như tào lá. Lão quỳ ngay xuống mà lạy lục:

- Lão phu nhất thời hồ đồ, di hận thiên thu, lòng vô cùng hổ thẹn với tổ tiên. Hầu gia sáng suốt, anh minh, nhìn thấu sự vật, xin vẽ cho lão phu một con đường sống.

Người võ sĩ già này không sợ chết song lại sợ danh dự tông môn tiêu tán.

Những giọt lệ hiếm hoi đã tuôn rơi trên khuôn mặt già đầy nếp nhăn.

Ngân Diện Hầu cúi xuống đỡ lão già tội nghiệp ấy lên và nói:

- Ta hứa sẽ cứu vãn cơ nghiệp và thanh danh nhà họ Tần. Việc mà túc hạ cần làm bây giờ là tung quyền đánh chết Điền Sĩ Lệ. Văn án sẽ ghi nhận rằng túc hạ đã sớm phát hiện ra chân tướng gian tặc nên nhân dịp này cùng bọn ta hợp lực tiêu diệt Huyết Mai hội chủ. Đây là cách duy nhất diệt trừ hậu họa.

Tần Minh Viên vui mừng khôn xiết, vái Tiêu Hầu rồi ngồi xuống giáng một quyền cực mạnh vào lồng ngực đang thoi thóp của Âu Dương Mẫn. Kẻ độc ác ấy gãy xương, hộc máu chết ngay lập tức.

Chương 14: Cầu Nhiêm mạc đáo đa nhân khấp Bạch phát thăng thiên bất đắc kỳ

Giữa giờ Thìn ngày rằm tháng hai, hơn ba ngàn hào kiệt võ lâm hớn hở tụ tập ở chân núi Thiếu Thất, quanh ba mặt của một lôi đài bằng gỗ.

Tất cả mọi người đều có chung một đề tài nóng hổi là cái chết của Huyết Mai hội chủ Điền Sĩ Lệ, tức Minh chủ Võ Lâm Âu Dương Mẫn. Người có công lao lớn nhất trong vụ này lại chính là Thần Đao bảo chủ Tần Minh Viên.

Họ Tần cơ trí siêu phàm, lúc phát hiện ra chân tướng của Âu Dương Mẫn liền bày kế, dụ tên ác ma đi theo mình đến gây sự với Hoàng Phong bang. Khi cuộc chiến xảy ra, Tần lão bất ngờ vung quyền đả thương Âu Dương Mẫn rồi hợp lực cùng Hoàng Phong bang diệt ác. Trước khi chết, Âu Dương Mẫn đã thú nhận trong phút hồi dương, xưng mình là Điền Sĩ Lệ. Nhân chứng tai nghe mắt thấy có rất nhiều người, kể cả những bậc quyền quý như Ngân Diện Hầu Tiêu Mẫn Hiên, Hoàng Phong Hầu Trình Thiên Kim và Tổng binh thành Đăng Phong Trịnh Trường Hoài.

Ai cũng tin răm rắp và tán dương Thần Đao Bá. Nếu lão không ra tay ám toán thì chẳng đạo quân nào giết nổi một kẻ có võ công siêu quần bạt tụy như Âu Dương Mẫn.

Nhưng Thần Đao bảo chủ lại không có mặt mà đã trở về cố quận. Tuy lập công lớn với võ lâm song dẫu sao trước đây lão cũng từng có nối giáo cho giặc, chống lại đồng đạo. Vả lại, thủ đoạn ám toán chẳng có gì là vinh quang cả.

Thế là người ta dồn hết lời khen tặng cho Nữ Hầu tước Trình Thiên Kim, Bang chủ Hoàng Phong bang. Nghe nói chính nàng đã đâm thủng phổi Âu Dương Mẫn. Còn Ngân Diện Hầu thì chẳng được mến mộ lắm dù cũng nổi tiếng khi cứu Thiết Đảm Hồng Nhan và Hồ Đổ Thần Thương ở công viên Nam Hải. Lần này, gã chỉ góp công bằng một mũi phi đao vào lưng Âu Dương Mẫn, chẳng vẻ vang gì.

Khi đoàn người Hoàng Phong bang đến nơi, đích thân Hội đồng Võ lâm đã ra tiếp đón và mời hai vị Hầu gia vào ngồi ở hàng ghế danh dự. Nữ Hầu tước không hề giới thiệu Quách phu nhân là mẹ chồng, Dịch Tái Vân là chị em chung thuyền, Trình Kiếm các là biểu thúc, Tống Thụy là nghĩa muội, thế mà những người ấy cũng được ngồi ghế, không phải đứng như mấy người còn lại.

Thiếu Lâm tự chỉ có bồ đoàn để ngồi thiền, lấy đâu ra nhiều ghế?

Nếu ai tinh ý sẽ nhận ra việc sáu vị Chưởng môn bạch đạo cúi đầu chào Quách phu nhân rất kính cẩn. Họ đều đã biết bà là thân mẫu vị cứu tinh của võ lâm Quách Tử Khuê. Sau khi nhận thư của bà, báo rằng Tử Khuê không về nhà, Bang chủ Cái bang đã tiết lộ gốc gác của chàng với bốn vị Chưởng môn chưa biết.

Hàng ghế danh dự được xếp theo hình vòng cung, độ hơn trăm chiếc, cách lôi đài hơn hai trượng và đám đông phía sau ba trượng. Phía trước mỗi ghế có kỹ gỗ nhỏ để tách trà và sau hang ghế là chỗ đứng của bọn hộ vệ.

Bang chủ, long đầu mỗi phái hay những đại nhân vật danh tiếng đều có kẻ theo hầu và bảo vệ hậu tâm. Giang hồ là chốn cạnh tranh, hung hiểm khôn lường, ai cũng phải đề phòng ám toán, dẫu có là Thiên hạ Đệ nhất cao thủ thì cũng chết toi bởi một mũi ám khí đến từ phía sau.

Tuy đây chẳng phải Đại hội võ lâm nhưng vì thanh danh địa chủ mà phái Thiếu Lâm phải ra sức giữ gìn an ninh, trật tự. Hơn ngàn tăng lữ trang bị trường côn vây quanh vòng ngoài sẵn sàng can thiệp khi hữu sự, bất cứ kẻ nào gây rối sẽ bị khống chế ngay.

Theo quy củ bất thành văn, khi võ lâm tụ họp bởi một thịnh hội nào đó thì ai cũng phải tạm gác thù riêng lại. Do vậy mà Nam Bắc bang và Xoa Lạp cốc cũng có mặt ở đây, dù họ đã từng liên thủ chống lại phe bạch đạo.

Các tăng nhân phụ trách lễ tân cố nén long sầu hận, hướng dẫn Nam-Bắc Thiên Tôn lên hàng ghế dành cho họ. Lã Bất Thành vác kích theo hầu Phùng lão nhưng kẻ mang thương đi sau Từ Tôn Chiến lại chẳng phải gã ngốc Khổng Đam. Thay cho họ Khổng là một hán tử tam tuần vạm vỡ, da ngâm đen. Gã này tên Lưu Cân Phố, khá nổi tiếng ở đất Trường An với mỹ hiệu Đoạt Mệnh Thương. Chắc gã muốn học thêm nghề đánh thương nên mới bái Nam Thiên Tôn làm sư phụ?

Phái bộ Nam Bắc bang không hấp dẫn quần hào bằng đại biểu Xoa Lạp cốc. Ngoài việc Thiếu cốc chủ Nhạc Cuồng Loan là vai chính trong vở tuồng bữa nay, người ta đặc biệt chú ý đến Xoa Lạp cốc chủ Nhạc Tự Cường. Rất ít khi lão xuất hiện trên chốn giang hồ.

Nhạc cốc chủ tuổi độ quá lục thập, dáng người nho nhã, dong dỏng cao, ngũ quan thanh tú, sắc diện hiền hòa dễ mến. Với phong thái như thế, ai dám bảo Nhạc Tự Cường là kẻ gian ác?

Còn nửa khắc nữa mà vẫn chưa thấy bóng dáng Cầu Nhiêm đại hiệp Hàn Thiếu Lăng, quần hùng bắt đầu xôn xao bàn tán. Khống ít kẻ cho rằng họ Hàn sợ chết nên bội ước, gã đã phế bỏ thanh danh, đánh lén Nhạc Cuồng Loan, ở Lưu gia trang, thì muối mặt thêm lần nữa cũng chẳng khó khăn gì.

Hội đồng Võ lâm vô cùng rầu rĩ, hiểu rằng Vu Diệp chân nhân, tức Quách Tử Khuê đã gặp tai họa. Để trấn an quần hùng, Vân Thiên Tử thượng đài, nghiêm nghị nói:

- Kính cáo đồng đạo võ lâm. Thực ra, Hàn đại hiệp đã thất tung từ ngày sau trận Độc Nha sơn, không thể quay về núi La Sơn mà cũng chẳng được ai nhìn thấy ở bất cứ nơi nào. Có thể Hàn thí chủ vì sợ thua mà bội ước, cũng có thể chàng ta đã ngộ hại, chết không minh bạch. Chính Trung Thiên Tôn, bậc kỳ nhân tinh thông dịch số, thiên văn cũng đã ngậm ngùi khẳng định rằng nghĩa tử của mình đã vấn số.

“Sự thực thế nào thì bần đạo chẳng dám kết luận, chỉ xin chư vị rộng lòng tha thứ nếu cuộc phó ước này không thành. Tuy nhiên, để khỏi phụ công lao mọi người đã lặn lội đến đây, Hội đồng Võ lâm đã quyết định cử đại biểu ra tranh tài với Nhạc thí chủ. Xem như chúng ta cử hành sớm đại hội tranh danh hiệu Võ lâm Đệ nhất cao thủ”.

Chưởng môn nhân phái Võ Đương vừa nói đến đây thì cử tọa phấn khởi reo hò, hoan hô như sấm dậy. Và Bắc Thiên Tôn Phùng Thịnh Đoan đột ngột đứng lên, cao giọng hỏi:

- Bần đạo nghe đồn Minh chủ Võ lâm Âu Dương Mẫn chính là Huyết Mai hội chủ, và đã bị giết hồi trưa hôm qua. Việc này thực hư thế nào sao Hội đồng Võ lâm không công bố cho mọi người được tỏ tường?

Đây cũng là thắc mắc chung nên quần hào liền im lặng, dỏng tai lắng nghe. Vân Thiên Tử khẽ nhíu đôi mày điểm bạc, chậm rãi nói:

- Kính cáo đồng đạo! Huyết Mai hội chủ Điền Sĩ Lệ là trọng phạm của triều đình, chứ không là công địch của võ lâm. Vì vậy mà Hội đồng Võ lâm không dám tùy tiện thông báo rộng rãi, làm ảnh hưởng đến việc phá án của Nha môn. Ngoài chỉ huy, quan quân còn phải truy bắt cả những kẻ có liên quan.

Nhưng nay chư vị đều đã nắm rõ tình hình, bần đạo đành phải xác nhận tin đồn kia là đúng sự thực. Huyết Mai hội chủ Điền Sĩ Lệ đã thoát chết dưới vực thẳm Thái Hằng sơn, dùng thân phận Lư Châu đại hiệp Âu Dương Mẫn để mưu đồ bá nghiệp. Người phát hiện ra chân tướng của họ Điền chính là Thần Đao bảo chủ Tần Minh Viên. Tần lão thí chủ đã hợp lực cùng Hoàng Phong bang của Nữ Hầu tước Trình Thiên Kim tiêu diệt Sĩ Lệ tại Giác Duyên đại phạn điếm trong thành Đăng Phong này.

Quần hùng rất cao hứng, tấm tắc khen lão trời xanh kia sáng mắt. Song Bắc Thiên Tôn đã nói tiếp:

- Giang hồ chẳng thể thiếu Minh chủ, bần đạo đề nghị hội đồng chọn ngày tổ chức ngay Đại hội võ lâm bầu Minh chủ mới.

Nghe nói có đánh nhau là đám hào khách mừng hết lớn, hoan hô nhiệt liệt. và ai đó đã hét lên:

- Mẹ kiếp! Đinh mỗ phải hốt phân ngựa mấy tháng trời mới kiếm đủ lộ phí đến đây, tiền đâu mà đi lần nữa? Tốt nhất là kết hợp hai danh hiệu Minh chủ và Võ lâm Đệ nhất cao thủ lại làm một, khởi tranh từ bữa nay cho gọn.

Quần hùng phá lên cười song lại tán thành ý kiến ấy. Phần lớn các ngài đại hiệp, thiếu hiệp đều nghèo rớt mồng tơi, phải làm cả những nghề hèn kém thì mới nuôi nổi vợ con và giữ được khí tiết.

Vân Thiên Tử đã từng mang gươm hành hiệp suốt hai mươi mấy năm qua, nên quá rõ hoàn cảnh của giới võ sĩ. Ông không kề giận trước lời nói lỗ mãng của gã họ Đinh, vui vẻ giải thích:

- Cao kiến của Đinh thí chủ chẳng phải là dở. Tuy nhiên, do quy định về tuổi tác và đạo đức của Minh chủ Võ lâm mà việc kết hợp ấy không thực hiện được.

Nam Thiên Tôn bật cười khanh khách, mỉa mai rằng:

- Phải chăng Minh chủ Võ lâm phải có nhân phẩm cỡ như Huyết Mai hội chủ Điền Sĩ Lệ? Lão đạo ta e rằng bọn kém mắt các ngươi không còn đủ tư cách cầm cân nẩy mực nữa rồi.

Quả đúng là Hội đồng Võ lâm đã có lỗi trong việc để cho một tên ác ma qua mặt, trở thành Minh chủ. Vân Thiên Tử ung dung trả đũa:

- Điền Sĩ Lệ tiềm phục hai mươi năm mới xuất đầu lộ diện, nên lừa được cả thiên hạ chứ chẳng riêng gì Hội đồng Võ lâm. Còn như bọn bần đạo có kém mắt hay không thì chưa chắc. Trận Độc Nha sơn đã chứng minh điều ấy.

Ý Vân Thiên Tử ám chỉ việc Nam-Bắc Thiên Tôn có thể là tay sai của rợ Mông.

Từ Tôn Chiến chột dạ không dám mỉa mai nữa. Vân Thiên Tử nghiêm nghị tuyên bố:

- Kính cáo đồng đạo. đại hội bầu tân Minh chủ sẽ được tiến hành vào ngày rằm tháng mười một tới. địa điểm tổ chức đại hội cũng chính là nơi này. Kính mong chư vị loan báo rộng rãi giùm.

Quần hùng phấn khởi reo hò, song không ít kẻ thầm rầu rĩ, lo lắng đến việc ky cóp lộ phí. Lãnh thổ trung hoa rộng mênh mông, những cao thủ vùng biên ải, dù Nam hay Bắc thường phải lặn lội vài tháng mới đến được Đăng Phong.

Đã đúng đầu giờ Tỵ, dẫu Hàn Thiếu Lăng chưa có mặt, sáu vị Chưởng môn nhân trong Hội đồng Võ lâm vẫn thượng đài, ngồi vào bàn giám khảo. Sau đó, Vân Thiên Tử cao giọng gọi theo đúng quy định:

- Đã đến giờ phó ước. Hội đồng Võ lâm kính mời hai đối thủ là Thiếu cốc chủ Xoa Lạp cốc Nhạc Cuồng Loan và Cầu Nhiêm đại hiệp Hàn Thiếu Lăng lên đài.

Nhạc Cuồng Loan lập tức đứng dậy, khoan thai trèo lên thang gỗ trên lôi đài. Hôm nay họ Nhạc mặc võ phục gấm màu lam sẫm, làm nổi bật gương mặt anh tuấn, trắng như bạch ngọc. Phong thái ung dung, tiêu sái và đầy vẻ oai vũ của gã biểu hiện rõ tính cách một nhân tài kiệt xuất, một ngôi sao vừa tỏa sáng.

Tất nhiên, họ Nhạc được hầu hết các nàng nữ hiệp chưa chồng hoặc có chồng đang hiện diện chốn này mê tít. Đàn bà vốn có một tật xấu muôn thuở là thích so sánh chồng mình với nam nhân khác. Đấy là lý do vì sao gã đàn ông kém tài hoa, đẹp trai, đừng nên lấy vợ quá mỹ miều. Trường hợp của Võ Đại Lang và Phan Kim Liên là một minh chứng rất hùng hồn.

Song cũng tất nhiên rằng sự việc luôn có ngoại lệ, không thể vơ đũa cả nắm được. Sự chung thủy có vẻ như được bảo vệ bằng luân thường đạo lý, nhưng thực ra lại vững chắc bởi bản chất của tình yêu. Trong những mối tình đích thực, sâu sắc, kẻ đang yêu chỉ biết duy nhất có một người mà thôi.

Hôm nay, tại chốn này có ba nữ nhân như thế, đó là Trình Thiên Kim, Dịch Tái Vân và Tống Thụy. Họ hờ hững nhìn Nhạc Cuồng Loan mà thương nhớ Tử Khuê vô hạn. Dù cho chàng họ Quách không anh tuấn, không giỏi võ bằng họ Nhạc kia.

Nếu tính cả người mẹ tội nghiệp Kỹ Thanh Lam thì giờ đây có đến bốn đôi mắt đẹp buồn vời vợi và ươn ướt. Người họ yêu thương nhất trên đời đã không xuất hiện. Điều ấy có nghĩa là Tử Khuê hung đa cát thiểu. Thời gian chầm chậm trôi qua theo luồng khói nhạt của cây hương trên bàn giám khảo, và tiếng xì xầm chê trách Hàn Thiếu Lăng mỗi lúc một nhiều hơn. Hành vi của người hiệp khách quan hệ thanh danh sư môn nên vài hào kiệt đã xách mé cả Trung Thiên Tôn Trần Ninh Tĩnh, nghĩa phụ của họ Hàn. Thiên hạ nghĩ rằng Thiếu Lăng cũng đồng thời là học trò của Trần lão.

Nhưng đồ đệ thứ thiệt của núi La Sơn lại là Thiết Đảm Hồng Nhan Tống Thụy. Nàng đau lòng khôn xiết song không thể thay sư huynh mà thượng đài, bởi đang bi thương và cũng bởi kém tài Nhạc Cuồng Loan.

Tử Khuê tức Ngân Diện Hầu cũng hổ thẹn khôn cùng khi làm liên lụy đến thanh danh nghĩa phụ. Dầu trước đây, chính Trung Thiên Tôn đã gửi thư khuyên chàng nên hội ước. Tử Khuê chỉ còn cách nén lòng, giấu kín thân phận, vì ngay cả việc bí mật thổ lộ với người thân chàng cũng không dám. Trong cương vị hiện tại, chàng có nhiều điều kiện để giáng ma vệ đạo hơn. Sự xuất hiện bất ngờ của Xoa Lạp cốc chủ Nhạc Tự Chương đã khiến Tử Khuê có linh cảm rằng võ lâm sắp đến hồi đại loạn. Với lực lượng hùng mạnh của Hoạch Đầu hội và sự hậu thuẫn của Lôi Đình thần cung, chàng hy vọng có thể vãn hồi được kiếp nạn này. Đấy là chưa tính đến mầm tai họa khác: Long Vân Tú Sĩ Quảng Chiêu Phong.

Nhưng cuộc chiến ấy sẽ vô cùng khốc liệt, sinh tử khó lường. Kỹ nương mà biết chàng còn sống sẽ không cho tham dự. Tử Khuê tự nhủ với lòng rằng sẽ vì võ lâm tận lực song chẳng cưỡng cầu. Nếu thấy vận số giang hồ không còn xoay chuyền được nữa thì chàng sẽ thoái xuất mãi mãi, trở về với gia đình.

Trong cuộc sống nhân sinh, ai cũng muốn làm một điều gì đó để khẳng định chính mình, nhất là những kẻ có tài. Tử Khuê không háo danh song cũng chẳng muốn đời mình trôi đi một cách vô ích bởi cuộc sống an nhàn, bình lặng.

Chẳng thà chàng chỉ là một gã công tử yếu đuối, văn dốt võ nát, có muốn giúp đời cũng không xong. Nay thân hoài tuyệt học mấy nhà, sức lực chẳng kém gì Hạng Võ, lại đang tuổi thanh xuân khí huyết phương cương, Tử Khuê khó mà chấp nhận việc hưởng nhàn quá sớm, mai một tài năng.

Quan điểm trên của Tử Khuê vô tình ứng với tư tưởng Nho gia: “Tận nhân lực tri thiên mệnh”. Có lẽ sau này khi đã về già, Tử Khuê sẽ cười cợt hoài bão thuở thanh xuân và ngâm nga rằng:

Ngô cung hoa thảo mai u kính

Tấn đại y quan thành cổ nhân.

Hoa nở cung ngô vùi lối vằng. Áo xiêm dời tấn lấp gò xưa. Đạo trời xoay chuyển không ngừng, cuộc thế lúc thịnh lúc suy, hà tất bậc Chân nhân phải bận tâm?

Tiếng công bố trầm trầm buồn tẻ của Vân Thiên Tử đã vớt Tử Khuê khỏi dòng suy tưởng ngậm ngùi:

- Kính cáo đồng đạo võ lâm! Giờ Tỵ đã trôi hết hai khắc mà Cầu Nhiêm đại hiệp Hàn Thiếu Lăng không đến. Bần đạo theo quy củ mà tuyên bố rằng Hàn thí chủ đã bội ước và Nhạc thí chủ đương nhiên là người thắng trận.

Nhạc Cuồng Loan nãy giờ vẫn đứng im như pho tượng, lập tức bật cười ngạo nghễ, chấn động cả vùng núi Thiếu Thất. Rồi gã lạnh lùng mỉa mai:

- Hàn Thiếu Lăng vì sợ chết mà bội ước, đê hèn chẳng khác loài súc sinh.

Nhạc mỗ vô cùng thất vọng, không ngờ nghĩa tử của Trung Thiên Tôn lại đốn mạt như thế.

Câu thóa mạ ấy quá thậm tệ, chẳng khác gì đạp người ngã ngựa, không hợp với tính cách anh hùng của con nhà võ, nên đã gây ra phản ứng ngược lại.

Ngay cả những kẻ lúc nãy từng chê trách Hàn Thiếu Lăng cũng không mở miệng hùa theo Nhạc Cuống Loan. Nhiều người từng chứng kiến họ Hàn liều thân chiến đấu trong trận Kỳ gia trang. Và cũng có nhiều người khác thầm tri âm Cầu Nhiêm đại hiệp khi chàng giải thoát họ khỏi vùng tuyệt địa Độc Nha sơn.

Khách giang hồ thừa lão luyện để hiểu rõ ràng lần ấy, nếu Bắc Nam song tôn và Âu Dương Mẫn đàn áp được lục phái bạch đạo thì cũng chẳng tha cho bất cứ ai khác. Đấy chính là cơ hội ngàn vàng để khống chế toàn võ lâm, chẳng kẻ dã tâm nào chịu bỏ qua.

Nhưng dầu sao thì hôm nay Hàn Thiếu Lăng cũng là người bội ước, không ai dám lên tiếng bênh vực, chỉ xì xầm trong nghi hoặc, hỏi nhau rằng phải chăng họ Hàn đã thọ hại đúng như lời Vân Thiên Tử? Phần lớn đều tin một bậc anh hùng cái thế như Thiếu Lăng chẳng thể vì sợ chết mà phế bỏ thanh danh, chuốc nhục cho sư môn.

Không khí nặng nế của thịnh hội đã bị phá tan bởi tiếng thét phẫn uất của một nữ nhân nào đó, từ hàng ghế danh dự có một bóng người áo trắng bay vút lên lôi đài.

Quần hùng nhìn lên đầy lo lắng khi thấy Thiết Đảm Hồng Nhan Tống Thụy đã liều mạng thượng đài, vì không chịu nổi nổi nhục nhã to lớn của sư huynh mình. Nàng từng bị Nhạc Cuồng Loan bắt sống tất không thể nào là địch thủ của gã được.

Họ càng thêm lo sợ khi thấy Tống Thụy đặt chân xuống sàn lôi đài một cách nặng nề và máu đào loang ướt đùi tả. Họ biết nàng chưa bình phục trong trận vây đánh ở công viên Nam Hải.

Nhưng Thiết Đảm Hồng Nhan vẫn ung dung rút kiếm, chỉ vào mặt Nhạc Cuồng Loan mà rít lên:

- Nhạc tiểu cẩu! Ngươi mới đúng là thứ súc sanh, không chút chí khí trượng phu, nhân lúc người ta té giếng mà ném đá. Sư huynh ta thất tung đã bốn tháng nay, sinh tử chẳng rõ chứ không phải sợ ngươi bội ước. Bổn cô nương sẽ thay chàng đối phó.

Thất Bổng Cái, Bang chủ Cái bang sợ Tống Thụy chết oan, nên đứng lên can gián:

- Tống điệt nữ không được liều thân vô ích!

Thiết Đảm Hồng Nhan quay về hướng sáu vị Chưởng môn nhân, ứa nước mắt mà nói với giọng kiên quyết:

- Nếu chư vị hoặc bất cứ ai can thiệp thì tiểu nữ sẽ đâm cổ tự sát ngay.

Tính khí quật cường, bất khuất của Tống Thụy thì ai cũng rõ. Hội đồng Võ lâm chỉ còn cách thở dài, lắc đầu thương tiếc.

Nhạc Cuồng Loan bị chửi mắng như tát nước thì động lòng sát khí, chẳng còn thương hương tiếc ngọc nữa. Gã cười nhạt bảo:

- Ngươi đã muốn chết thay cho Hàn Thiếu Lăng thì bổn nhân sẽ thành toàn cho.

Bỗng ở dưới lại có tiếng nữ nhân thánh thót:

- Khoan đã, Tống hiền muội! Hãy chờ bọn ta!

Đấy là giọng nói của Trình Thiên Kim nên Tống Thụy ngỡ ngàng quay xuống nhìn. Nàng thấy Nữ Hầu tước và Đông Nhạc Tiên Hồ quỳ xuống lạy Quách phu nhân tức mẹ chồng chín lạy. Kỹ nương đưa tay xoa đầu bọn họ và gật gù, nói nhỏ vài câu. Sau đó, hai nữ nhân kia nhất tề phi thân lên lôi đài, đứng cạnh Tống Thụy.

Lúc này quần hùng mới nhận ra họ, xôn xao bàn tán, chẳng hiểu hai ả tố nga danh lừng tứ hải này liên quan gì đến Cầu Nhiêm đại hiệp Hàn Thiếu Lăng?

Trình Thiên Kim và Dịch Tái Văn thi lễ với Hội đồng Võ lâm rồi ôm quyền chào cử tọa. Mặt hoa cả ba đều diễm lệ.

Nữ hầu tước nghẹn ngào nói:

- Kính cáo chư vị đồng đạo võ lâm! Hai chị em chúng tôi chính là thê thiếp của Cầu Nhiêm đại hiệp Thiếu Lăng.

Quần hào chấn động, nhất tề “ồ” lên biểu lộ sự kinh ngạc. Có kẻ không kềm được, thốt lên:

- Con bà nó! Không ngờ gã họ Hàn lại có đến hai mụ vợ hoa nhường nguyệt thẹn đến thế này.

Nhưng Trình Thiên Kim đã nói tiếp:

- Bẩm chư vị! trong trận Độc Nha sơn hồi thượng tuần tháng mười, chuyết phu đuổi theo Quân Sơn chân nhân Đường Mai Giãn để đoạt lại bảo vật của sư môn, là mảnh “Chiếu Yêu Bát Quái Đồng kính”. Song sau đó chàng tuyệt tích, không hề trở lại nhà. Mặc dù người ta đã tìm thấy xác của Đường lão quỷ cùng bảo vật ở dưới vực thẳm.

Thiên Kim đưa tay gat lệ rồi nói tiếp:

- Chuyết phu là người chí hiếu, nếu không ngộ hại bất ngờ thì quyết chẳng để cho phụ mẫu lo âu trông đợi. Nay chàng không đến phó ước thì có nghĩa là tánh mạng đã lâm nguy.

Nói đến đây, Thiên Kim bật khóc nức nở khiến lòng người bất nhẫn. Đông Nhạc Tiên Hồ sụt sùi đỡ lời nàng:

- Kính cáo chư vị! Chuyết phu suốt đời giấu kín lai lịch mà hành hiệp, chẳng màng đến thanh danh. Nên hôm nay, bọn thiếp lên đây thay mặt trượng phu phó hội, không phải vì chữ danh mà vì muốn được chết theo chồng.

Bắc Thiên Tôn rất oán hận Hàn Thiếu Lăng nên lên tiếng khích bác, giễu cợt:

- Đúng là “mèo khen mèo dài đuôi”. Chẳng phải gã chết toi ấy đã nổi tiếng võ lâm nhờ thủ đoạn ám muội đấy sao? Ai không biết gã họ Hàn tên Thiếu Lăng, đệ tử núi La Sơn.

Không ít người đồng tình với lập luận của Phùng Thịnh Đoan. Nhưng một lão già thông minh hơn cả đã cao giọng hỏi:

- Này Dịch hiền điệt nữ! Phải chăng cái tên Hàn Thiếu Lăng chỉ là giả?

Tái Vân gật đầu, rầu rĩ đáp:

- Bẩm lão tiền bối quả đúng như vậy. đã không còn muốn sống nên tiện nữ chẳng giấu giếm làm gì nữa. Chuyết phu họ Quách tên Tử Khuê, người đất Hứa Xương.

Đến bây giờ mấy ngàn hào kiệt tứ hải mới thực lòng kính phục Cầu Nhiêm đại hiệp. Trong giới giang hồ, trừ bọn cường đạo, lục lâm, khi bị truy nã thì thay tên đổi họ, kỳ dư đều sống chết giữ lấy tính danh, dầu chính hay tà. Thế mà chàng trai trẻ Quách Tử Khuê kia lừng danh đại hiệp bằng cái tên chẳng phải của mình.

Nhưng những lời tán dương của họ càng làm cho bậc anh hùng thêm nẫu ruột. Chàng hiểu rằng sự trông đợi mỏi mòn đã đưa đến niềm tuyệt vọng, khiến cả mẫu thân chàng cũng quẫn trí, đồng ý cho Thiên Kim và Tái Vân Thượng Đài.

Khi họ đã lộ diện thì việc nói ra mình là dâu họ Quách hay không cũng chẳng còn quan trọng. Nếu bọn tà ma vẫn nuôi lòng thù hận thì trước sau gì cũng biết họ đang ở Quách gia trang.

Tử Khuê chỉ bối rối vì không tìm ra cách lưỡng toàn để cứu mạng ba ái thê mà không làm lộ thân phận Ngân Diện Hầu giả mạo.

Lúc này, ba nữ nhân đã quay lại, đứng đối diện Nhạc Cuồng Loan. Nữ hầu tước nghiêm nghị bảo ban giám khảo:

- Phiền các vị hạ đài cho. Trận tử đấu này không cần trọng tài.

Sáu Chưởng môn nhân lặng lẽ rời khỏi lôi đài. Ba nàng vừa rút kiếm thì Nhạc Cuồng Loan đưa tay ra dấu đình thủ và từ tốn nói:

- Nhạc mỗ dẫu có trái tim bằng đá cũng không nỡ giết hại ba nữ nhân tuyệt thế như các nàng. Vả lại, việc ấy chẳng có gì là vinh dự và còn bị võ lâm đàm tiếu. Do đó, Nhạc mỗ đề nghị bãi chiến.

Trình Thiên Kim quắc mắt cười nhạt:

- Chắc gì ngươi đã thắng được ba chị em bọn ta mà lớn lối? Nếu muốn bãi binh thì hãy quỳ xuống hướng về phương Nam lạy ba lạy mà tạ lỗi với gia nghĩa phụ và Quách tướng công.

Thiên Kim vốn mang bản chất của bậc cân quốc anh thư, hào sảng và cương liệt chẳng kém bọn mày râu. Tuy ngoài miệng nàng đã từng ngăn cản Tử Khuê đi phó ước song trong tâm lại tự hào vì biết trượng phu sẽ không lỗi hẹn với Nhạc Cuồng Loan. Nữ Hầu tước luôn tin tưởng mãnh liệt rằng Tử Khuê là tướng tinh giáng phàm, anh hùng cái thế và bất bại.

Nay dù mơ ước được cùng chàng sánh vai hành hiệp, trừ gian diệt bạo.

song vì tà ma quá mạnh mà lâu nay ý nguyện bình sinh ấy chưa được thỏa.

Đến khi Thiết Đảm Hồng Nhan dám vì tử khuê mà liều mạng thì ả Thiên Kim không còn ẩn thân được nữa, nàng đã quỳ xuống, khẩn cầu Kỹ nương cho phép mình thay chồng phó hội, dẫu chết cũng trong danh nghĩa con dâu họ Quách.

Nào ngờ Kỹ nương cũng cùng tâm trạng như Thiên Kim. Sự thất tung bí ẩn của đứa con trai yêu dấu nhất đời đã khiến Băng Tâm Ma Nữ tuyệt vọng, không còn màng đến an nguy của Quách gia nữa. Bà thề sẽ quyết tử với tà ma, với những kẻ đã là nguyên nhân khiến bà phải mất con. Kỹ nương chấp thuận cho hai nàng dâu lôi đấu không phải để chết, bà đã có kế sách.

Nhắc lại Nhạc Cuồng Loan vô cùng căm hận Hàn Thiếu Lăng, kẻ đã chơi gã một vố nhớ đời ở Lư gia trang, đất Dụ Châu. Cuồng Loan tự hào mình là người khôn ngoan, cơ trí võ nghệ siêu phàm nên cao ngạo đến mức không thể nuốt trôi mối nhục của ngày xuất đạo. Cách hành xử phi thường của Cầu Nhiêm đại hiệp đã biến gã thành một thằng ngốc.

Mặt khác, Cuồng Loan cũng rất khâm phục họ Hàn vì thầm hiểu rằng đấy mới là đại kình địch xứng tay của mình. Gã rất bực bội, hoang mang khi Hàn Thiếu Lăng không đến phó hội một lần nữa ngoài dự liệu. Giận dữ vì luôn đoán sai hành động của đối thủ, Cuồng Loan đã nặng lời thóa mạ.

Đến lúc phát hiện Hàn Thiếu Lăng tức quách tử khuê để lại đến hai quả phụ và một sư muội đẹp như tiên, Cuồng Loan càng bội phần đố kỵ. Gã quyết chiếm hữu họ để báo thù kẻ đã chết nên không muốn ba nàng bị tổn thương trong cuộc chiến vô lý này.

Nhưng không ngờ, bọn đàn bà mất chồng kia đã phát cuồng, chẳng còn biết sợ chết, đưa ra điều kiện quá ngặt nghèo. Tất nhiên, một kẻ tự cao tự đại như Cuồng Loan sẽ không chấp nhận được. Gã thầm tính toán rồi phúc đáp Thiên Kim:

- Suốt đời Nhạc mỗ chưa từng biết tạ lỗi với ai. Nay các nàng đã không sợ chết thì ta cũng chiều...

Gã chưa dứt lời, chưa đặt tay vào đốc gươm, thì phát hiện bàn tay tả của Thiết Đảm Hồng Nhan khẽ mấy động. nãy giờ, Tống Thụy đứng giữa và tựa vào vai hai nữ nhân kia, trống rất bạc nhược yếu đuối.

Không ngờ giờ đây chính con cọp cái bị thương ấy đã đột ngột ra tay ám toán Nhạc Cuồng Loan. Kinh nghiệm giang hồ là thứ chẳng thể có do sự thông tuệ. Hơn nữa, một kẻ kiêu ngạo tuyệt luân, mắt mọc trên trán thì làm sao đủ tinh tế để hiểu được sự hiểm độc của lòng dạ đàn bà?

Khoảng cách hơn trượng rất vừa vặn để mũi “Yến Vĩ châm” đạt hiệu quả tối đa. Tuyệt kỹ gia truyền này Tống Thụy ít khi dùng đến, vì nàng mang tính cách hào sảng, thẳng thắn, không thích sự ám muội. Bởi thế cho nên Nhạc Cuồng Loan bị bất ngờ.

Gã thừa nhãn lực để nhìn thấy mũi kim nhỏ bé, đen sì kia bay đến vùng đan điền, song chỉ đủ thời gian nghiêng mình qua một chút. Mũi ám khí độc hại ấy trật mục tiêu chính và cắm vào huyệt Bế Quan trên đùi phải của họ nhạc.

Huyệt Bế Quan thuộc Kinh Túc Dương Minh Vị nên chân hữu Cuồng Loan lập tức bị tê liệt.

Cùng lúc ấy, Thiên Kim và Tái Vân ập đến như cơn lốc, kiếm quang loang loáng tràn đầy sát khí. Thì ra, Tống Thụy đã rỉ tai họ hợp đồng tác chiến.

Tuy chân phải tê dại nhưng công lực Cuồng Loan vẫn còn nguyên vẹn. Gã điên tiết múa tít bảo kiếm chống trả, kiếm kình cuồn cuộn như vũ bão, đường gươm nhanh tựa chớp nguồn, đánh bật hai kẻ địch.

Song Thiết Đảm Hồng Nhan đứng ở ngoài trận đã phóng thêm một mũi ám khí nữa khiến Cuồng Loan phải vung kiếm chặn lại. Và đấy chính là cơ hội tốt để Thiên Kim và Tái Vân xông vào.

Nữ nhân thường giỏi khinh công vì thân hình họ nhẹ nhàng, ẻo lả và linh hoạt. Mấy tháng nay, để tạm quên đi mối lo âu mất trượng phu, Thiên Kim và Tái Vân vùi đầu khổ luyện võ nghệ, bản lãnh tăng tiến thấy rõ. Họ không dám lười biếng vì người dạy chính là mẹ chồng nghiêm khắc. Ngay một ả không sợ chết như Tống Thụy mà cũng khép nép tựa rắn mồng năm khi đối diện Băng Tâm Ma Nữ Kỹ Thanh Lam.

Giờ đây, hai nàng thi triển “Thao Quang thân pháp”, lượn lờ quanh đối thủ mà tấn công, dáng điệu và tư thế cực kỳ đẹp mắt.

Quần hùng ngây ngất chiêm ngưỡng, reo hò cổ vũ ba người đẹp. Họ chẳng thèm để ý đến việc các nàng đã dùng thủ đoạn đen tối là ám toán Nhạc Cuồng Loan.

Đàn ông luôn khoan dung, rộng lượng đối với những người đàn bà xinh đẹp. Nhất là khi họ đang góa bụa, cô đơn, đáng thương biêt mấy. Bọn hào khách còn chê Nhạc Cuồng Loan tuy đẹp trai mặt sáng sủa mà dốt đặc, không biết câu:

“Tối độc phụ nhân tâm”. Đáng lẽ gã phải hiểu rằng, khi đánh nhau, nữ nhân có thể làm bất cứ điều gì, bách vô cấm kỵ.

Song chỉ gần khắc sau, những tiếng hoan hô đã trở thành tiếng than thở, lo âu, vì Nhạc Cuồng Loan đã sử dụng đến “Lôi Đình chưởng pháp”. Gã bỏ kiếm, múa tít song thủ, đẩy ra hàng loạt những đạo chưởng phong mãnh liệt và độc ác, chưởng kình nổ vang như sấm dậy, đánh cho hai ả quả phụ kia phải tơi bời hoa lá. Thiên Kim và Tái Vân không chống nổi những lực đạo kình kinh thế ấy, chỉ còn cách né tránh, chạy quanh. Nhưng Nhạc Cuồng Loan không đắc ý được lâu. Từ dưới lôi đài, một đàn ong vàng đen đông hàng nửa vạn con đã bay vù lên, tựa đám mây hắc ám chụp lấy gã.

Nhạc Cuồng Loan bở vía, khoa nhanh song chưởng, giáng những đạo kình phong mạnh mẽ vào đàn ong độc. Loài côn trùng chăm chỉ này rất nhẹ nên một số bị thổi văng đi song không chết. Và có vài con đã bám được vào lưng họ Nhạc.

Cuồng Loan bị tê liệt chân hữu nên không thể xoay tít thân hình, dệt lưới chưởng theo tư thế “Bát Phương Phong Vũ”. Đàn ong thì đông, bao vây mọi hướng, nên tiếp cận mục tiêu từ phía sau, nơi sơ hở nhất.

Vũ khí của ong là chứa những chiếc kim có chứa nọc độc nằm ở đít. Nếu phân loại theo hướng này thì ong có hai loài. Loài thứ nhất được trang bị những chiếc kim nọc khá mỏng manh, gãy ngay sau lần chích đầu tiên. Loài thứ hai sở hữu những mũi kim nọc rất bền chắc, có thế sử dụng nhiều lần.

Lũ ong độc của Hoàng Phong bang thuộc loài thứ hai. Chúng có ít mật ong song lại có những cú chích hiểm ác, trâu bò cũng phải rống lên mà chạy thục mạng.

Giờ đây, năm con ong dữ dằn ấy cong đuôi cắm kim độc vào lớp da lưng mịn màng của Nhạc Cuồng Loan. Gã đang dồn phần lớn công lực vào song thủ nên lớp cương khí hộ thân rất mỏng, da thịt không chống nổi những mũi kim nhọn hoắt. tác động của nọc ong lên hệ thần kinh rất nhanh nhạy, hơn cả nọc rắn, nên họ Nhạc lập tức cảm thấy đau thấu trời, tay chân bủn rủn.

Đúng lúc ấy, Trình Thiên Kim và Dịch Tái Vân tràn đến như hổ dữ, mỗi nàng mang theo chín đạo kiếm ảnh, chia tả hữu mà chụp lấy cuồng loan. Hai nàng đã cùng thi triển chiêu “Thanh Long Lộng Nguyệt”, dùng mười tám chiêu vuốt rồng vây chặt con mồi lại.

Không đủ chân khí để thi thố “Lôi Đình chưởng pháp”, họ Nhạc đành rút gươm chống cự. Trong chớp mắt, trước mặt Cuồng Loan hiện ra một màn kiếm quang rực rỡ, liền lạc, kín đáo và không kém phần độc ác.

Trong kiếm thuật, yếu quyết “dĩ công vi thủ” rất phổ biến. Dù ở thế phòng ngự, các kiếm thủ luôn có những nhát kiếm phản công trong chớp nhoáng và hiểm ác, bắt buộc đối phương phải đỡ gạt hoặc né tránh.

Bản lĩnh người kiếm sĩ càng cao thì những chiêu phòng thủ càng nhiều những thức kiếm phản kích ảo diệu. Nhạc cuồng loan lại là một tay kiếm xuất sắc, tuy nhất thời ở thế hạ phong song vẫn cực kỳ lợi hại. Tâm ý của bậc kiếm khách thượng thừa thường tính toán nhanh nhẹn tuyệt luân, thời gian chỉ có thể đo bằng khái niệm sát na của nhà Phật.

Cuồng Loan chọn ngay Đông Nhạc Tiên Hồ Dịch Tái Vân để thi thố phép “Dĩ công vi thủ”. Gã tin rằng ả hồ ly xinh đẹp kia sẽ phải thoái bộ chứ không để da thịt ngọc ngà bị tổn thương. Gã từng nghe đồn rằng Dịch Tái Vân rất nhút nhát, chưa bao giờ dám liều mạng chiến đấu vì sợ cho nhan sắc.

Cuồng Loan lập tức sang qua mé tả, điểm một nhát gươm thần tốc vào ngực trái Tái Vân, đúng cái bộ phận mà nữ nhân nào cũng quý hơn vàng.

Lúc này mũi kiếm của Tiên Hồ cũng đang nhắm vào huyệt trung quản trên bụng Cuồng Loan. Huyệt này thuộc mạch Nhâm, là huyệt mộ của vị, huyệt nội của phủ, huyệt nội với các kinh Tiểu Tường, Tam Tiêu và Vị. khi châm cứu, các thầy thuốc cũng không dám châm sâu, nên nếu trúng kiếm vào huyệt trung quản thì nạn nhân vô phương cứu chữa.

Cuồng Loan cũng biết điều ấy, song không lo ngại lắm. Gã tin rằng Tái Vân chẳng dám đổi mạng. Hai là, tay gã dài hơn tất sẽ kiếm mục tiêu trước đối thủ.

Khổ thay, lòng dạ đàn bà như biển khôn dò, đến bậc thánh nhân cũng phải lắc đầu chịu thua. Nữ nhân rất giàu cảm tính, nhẹ phần lý luận thị phi, ít phân biệt đúng sai như bọn mày râu. Nhất là những người đàn bà xinh đẹp, cảm xúc của họ quá mãnh liệt nên những chân lý, nguyên tắc thông thường không còn giá trị nữa.

Cho nên, Nhạc Cuồng Loan lại thêm một lần nữa đoán sai. Đông Nhạc Tiên Hồ đã yêu Tử Khuê bằng mối tình sâu thẳm, miên trường và bát ngát lời tri ân. Chàng là nam nhân duy nhất trên đời có thể đem lại cho nàng hạnh phúc của một người đàn bà thực thụ. Chàng lại nhân hậu và đại lượng biết mấy khi đã yêu nàng, một nữ nhân đầy tai tiếng. Việc nàng vẫn còn trinh bạch không xóa nhòa được những mối giao du nhăng nhít, đầy vụ lợi trong dĩ vãng. Thái độ rộng lượng của những người trong Quách gia trang đã giúp Tái Vân an tâm yên phận làm dâu. Nhung giờ đây Tử Khuê không còn và quá khứ tủi nhọc nhằn bị Âu Dương Mẫn khơi lại trong Giác Duyên đại phạn điếm. Tái Vân vô cùng chua xót, tự nhủ rằng cõi đời ô trọc này chẳng còn đáng luyến tiếc nữa và nàng sẽ sớm xuống hoàng tuyền, hội ngộ cùng người mình yêu dấu.

Do đó, Dịch Tái Vân thản nhiên đón nhận mũi gươm oan nghiệt của Nhạc Cuồng Loan và tiếp tục đâm vào bụng gã.

Chỉ có họ Nhạc và những đại cao thủ mới cảm nhận được xu hướng đổi mạng của Tái Vân, vì đường gươm của hai đối thủ rất thần tốc.

Tử Khuê là đại kiếm thủ, tất nhiên bằng trực giác thấy ngay rằng ái thê của mình sẽ không tránh né. Nỗi kinh hoàng, lo sợ chỉ kịp biểu hiện qua đôi mắt trợn tròn. Chàng không còn thời gian để can thiệp vì chính Trình Thiên Kim ở sát đấy mà cũng phải bất lực. Cuồng Loan đã đảo người về mé tả, tạm tránh đường gươm của Nữ Hầu tước mà đối phó với Tái Vân trước. Thiết Đảm Hồng Nhan thì ở xa hơn trượng và dầu có phóng “Yến Vĩ châm” cũng không cứu vãng nổi tình hình.

Nhưng trong lúc ngàn cân treo sợi tóc ấy, chân trái đang trụ tấn của Nhạc Cuồng Loan bỗng gập lại, như bị ai đó đá mạnh vào phía sau đầu gối. Và thân hình gã ngã ngửa xuống sàn lôi đài, khiến cả hai thanh kiếm đều hụt mục tiêu.

Dĩ nhiên đàn ong độc mau mắn sà xuống, phủ kín con mồi.

Dù chẳng hiểu việc gì đã xảy ra với cái chân trái lành lặn, vững chắc của mình. Cuồng Loan vẫn phải lo đào tẩu trước đã. Gã lăn tròn trên sàn đài, cố tránh khỏi tầm kiếm của hai kẻ địch, đồng thời nghiền nát bọn ong chết tiệt.

Nhưng hai nữ nhân kia không hề có ý định truy sát họ Nhạc. Tái Vân thì đứng lặng người, ngơ ngác vì vừa trở về từ “Quỷ Môn Quan”. Nước mắt tuôn như suối trên gương mặt kiều diễm.

Trình Thiên Kim thì quá vui mừng ôm lấy Tái Vân, cười ra nước mắt:

- Ôi, Vân muội! Ngu thư đã sợ đến chết đi được.

Nhạc Cuồng Loan cũng đã được phụ thân là Xoa Lạp cốc chủ Nhạc Tự Chương cứu giúp ngay khi rơi xuống đất. Tự Chương mặt lạnh như tiến, song thủ khoa nhanh tựa chớp giật, vỗ ra hàng chục đạo chưởng phong xua đuổi lũ ong. Cũng đúng lúc đó có tiếng còi tre ré lên khiến đàn ong độc bay trở lại những chiếc lồng trong tay của các thuộc hạ Hoàng Phong bang.

Cuộc chiến kết thúc khiến quần hùng thở phào nhẹ nhỏm, nói cười như vỡ chợ. Họ hết lời khen ngợi ba người đẹp đã đánh cho gã kiêu ngạo kia một trận thất điên bát đảo. Họ chẳng ưa gì cái kẻ đã dám thách thức cả võ lâm. Sau trận thảm bại trước bọn đàn bà này, liệu gã còn dám đứng ra tranh danh hiệu Võ lâm Đệ nhất cao thủ nữa hay không?

Thiên Kim và Tái Vân dìu Tống Thụy hạ đài. Kỹ Thanh Lam nhìn họ bằng ánh mắt đẫm lệ, hiền hòa nói:

- Các con giỏi lắm.

Ba nàng vái tạ rồi ngồi xuống ghế. Thiên Kim vui vẻ sai tỳ nữ mang thuốc giải độc ong sang cho Xoa Lạp cốc chủ. Lão ta thản nhiên nhận lấy và còn mỉm cười nói lời cảm tạ.

Mới gần cuối giờ Tỵ nên Hội đồng Võ lâm trở lên lôi đài, tiếp tục chủ trì thịnh hội Văn Thiên Tử cố giấu vẻ hân hoan, sang sảng nói với cử tọa:

- Kính cáo đồng đạo võ lâm. Nay vị tướng thủ đài là Thiếu cốc chủ Xoa Lạp cốc Nhạc Cuồng Loan đã thọ thương, không thể chiến đấu, bần đạo cho rằng chúng ta chẳng có lý do gì để tiến hành việc tranh danh hiệu Đệ nhất cao thủ nữa...

Nhưng Xoa Lạp cốc chủ Nhạc Tự Chương đã đứng lên cướp lời Chưởng môn phái Võ Đương:

- Khoan đã! Lão phu có vài lời muốn nói!

Rồi lão nhón chân bay thẳng lên lôi đài, hạ thân nhẹ nhàng đến mức chẳng làm xôn xao những hạt bụi trên sàn gỗ. trong tấm đại bào tay rộng màu tía, phong thái của Nhạc cốc chủ rất uy nghi, đường bệ. Nhưng Tự Chương cũng chẳng kém phần văn nhã, nhờ vầng trán rộng và bộ râu ba chòm đen nhánh.

Nhạc cốc chủ ôm quyền thi lễ với Hội đồng Võ lâm và cử tọa rồi hòa nhã nói:

- Kính cáo Hội đồng Võ lâm cùng toàn thể chư vị anh hùng. Lão phu vốn là người đạm bạc với đời, bao năm qua ẩn mình nơi sơn dã, thô lậu, không hề nghĩ đến chuyện tranh danh đoạt lợi. Nhưng “cha sinh con, trời sinh tính”, nên khuyển tử Cuồng Loan lại có ý hướng khác hẳn lão phu. Loan nhi trẻ người non dạ, ỷ vào chút võ nghệ mà tự tung tự tác, xem thường thiên hạ đến mức đòi chiếm lấy danh hiệu Võ lâm Đệ nhất cao thủ.

Nhạc Tự Chương dừng lại, hắng giọng vài cái rồi nói tiếp:

- Lão phu nghe được tin ấy thì vô cùng lo lắng cho đứa ngịch tử cuồng ngạo và dại dột, đàng phải xuất Cốc vào Trung Nguyên để cứu vãn tình hình.

May thay Loan nhi vừa xuất trận lần đầu đã thảm bại dưới tay ba nữ nhân nhà họ Quách, tất sẽ tỉnh ngộ chẳng còn dám mục hạ vô nhân nữa.

Lão mỉm cười rất tươi, nhìn xuống vị trí của bọn Thiên Kim mà bái tạ:

- Lão phu rất cảm ơn tam vị.

Thái độ đại phương, đại lượng thấu tình đạt lý này của Nhạc cốc chủ đã thu phục được sự ngưỡng mộ của quần hùng. Lão ta mà hẹp hòi, cố chấp thì Quách gia trang khó yên thân.

Nhưng Dịch Quan San lại nghĩ khác. Gã hạ giọng nói nhỏ với những người thân:

- Lão họ Nhạc này còn xảo trá, hiểm độc còn hơn cả Âu Dương Mẫn.

Băng Tâm Ma Nữ Kỹ Thanh Lam lập tức gật đầu tán thành:

- San nhi quả là tinh ý! Lão ta đang dọn đường để trở thành Minh chủ Võ lâm.

Lúc này, Nhạc Tự Chương đã trình bày tiếp. Lão quay sang nói với Hội đồng Võ lâm:

- Chắc lục vị đang thắc mắc, không hiểu lão phu lên đây nói dông dài như thế để làm gì. Xin thưa rằng trước hết, lão phu tán thành cao kiến của Chưởng môn nhân phái Võ Đương, hủy bỏ việc tổ chức đại hội tranh giành danh hiệu Võ lâm Đệ nhất cao thủ.

Tự Chương vừa nói đến đây thì bị quần hùng phản đối kịch liệt:

- Không được! Chẳng lẽ bọn ta uổng công lặn lội hàng ngàn dặm đến đây mà chỉ được xem có một trận đấu ngắn ngủi, tẻ nhạt như lúc nãy hay sao?

Một người nói, ngàn người khen phải khiến Hội đồng Võ lâm do dự bất quyết. Nhưng Cốc chủ Xoa Lạp cốc đã tươi cười khoa tay:

- Chư vị khoan vội thất vọng, lão phu chưa hết lời! Tuy việc tranh đoạt hư vị không còn nhưng lão phu sẽ khiêu chiến với Nam Thiên Tôn và Bắc Thiên Tôn hôm nay, tại chốn này.

Chẳng khác gì sấm sét giữa trời quang, toàn trường lặng đi vì kinh ngạc rồi sau đó hoan hô vang dậy. Dù chỉ có hai trận song sẽ ly kỳ, hấp dẫn bằng trăm những trận khác vì đấu thủ toàn là bậc cao nhân, tuyệt thế. Hơn nữa, việc Nhạc Tự Chương dám khiêu chiến với hai tượng đài sừng sững của võ lâm càng khiến mọi người thích thú.

Nam-Bắc Song Tôn cũng sững sờ song không phát tác am còn thầm lo ngại. Nam Thiên Tôn Từ Tôn Chiến từng so tài với Nhạc Cuồng Loan, chỉ chiếm chút thượng phong. Thế thì bản lãnh của Nhạc Tự Chương chắc chắn còn cao siêu hơn con trai lão mấy bậc. Nếu không phải là thế thì Tự Chương đâu dại gì mà thách thức!

Bắc Thiên Tôn Phùng Thịnh Đoan cố tỏ ra bình thản, đứng dậy từ tốn hỏi:

- Chúng ta như nước sông, nước giếng chẳng phạm nhau, sao Nhạc thí chủ lại muốn so tài cùng bọn bần đạo? Phải chăng thí chủ muốn dương danh thiên hạ bằng cách ấy?

Không ít người thầm đồng ý với lập luận của Bắc Thiên Tôn. Muốn nổi tiếng thật nhanh thì không phương thức nào tốt hơn là hạ bệ các tượng đài của võ lâm. Khổ thay, việc này đã trở thành điều lệ bất thành văn trong chốn giang hồ, và cũng chính là một trong những mối phiền toái mà những kẻ thành danh trước phải chịu đựng. Trừ phi đã làm lễ rửa tay gác kiếm, không một cao thủ đương đại nào có quyền từ chối nếu họ còn vương vấn với hư danh.

Nay Nhạc Tự Chương thách đấu trước mặt ba ngàn hào kiệt từ bốn phưong đến, dù chẳng với lý do gì thì hai lão Thiên Tôn cũng không thể lắc đầu.

Nhưng về mặt tâm lý, ai cũng muốn tìm ra nguyên nhân của sự việc. Và cả người hành động cũng muốn có cái cớ xác đáng để chính danh.

Nhạc Tự Chương bình thản phúc đáp Bắc Thiên Tôn:

- Lão phu chẳng cần phải dương danh vì tiếng tăm của Xoa Lạp cốc đã lẫy lừng gần trăm năm nay. Nguyên do khiến lão phu muốn diệt trừ nhị vị chính là sự vững bền của xã tắc Đại Minh. Lão phu biết rõ Phùng tôn giá đã gã em gái cho một Vương tử Mông Cổ, tên Cổn Ba Đặc Mục Nhĩ, nhưng không có bằng chứng để cáo giác với triều đình, đành phải dùng hạ sách là khiêu chiến và giết chết hai kẻ phản loạn.

Luận điệu của Nhạc cốc chủ rất phù hợp với những lời tố cáo của Hàn Thiếu Lăng trong trận Độc Nha sơn, song còn rõ ràng hơn vì có cả tên họ của gã Vương tử người Mông. Điều này đã lầm cho quần hùng bội phần tin tưởng, nhìn thiên tôn với ánh mắt khinh bỉ, phẫn nộ.

Bắc Thiên Tôn Phùng Thịnh Đoan đề khí tung mình lên lôi đài. Lão chắp tay trước ngực, cúi chào quần hùng, sắc diện nghiêm trang và thanh thản. Lão điềm đạm trình bày, giọng nói có chút bi ai:

- Anh em bần đạo năm nay tuổi gần cửu thập, vì nặng lòng với giang sơn mà phế bỏ công lao tu hành, dấn thân vào chốn hồng trần, không ngờ lại bị hiểu lầm đến mức chết chẳng nhắm mắt được. thực ra, bẩn đạo gả tiểu nữ cho cổn ba đặc mục nhĩ là có sự chuẩn tấu của Thánh Hoàng. Và chính vậy mà quân đội của bộ tộc A Sát Hãn không hề quấy nhiễu biên thùy nước ta, ở đoạn ranh giới Cam Châu, Túc Châu.

Quần hùng liền thay đổi thái độ và cho rằng Bắc Thiên Tôn tuyệt đối chẳng dám đem thiên tử mà bịp mọi người.

Phùng lão tư lự nói tiếp:

- Việc có rể là người địch quốc chẳng vinh dự gì nên bần đạo luôn giấu kín. Không ngờ, Hàn thí chủ và Nhạc thí chủ đây loáng thoáng biết được, sinh lòng chán ghét, xem như kẻ phản quốc. Bởi vậy, bần đạo đành phải nói rõ ẩn tình chứ chẳng phải là kể lể công lao.

Nhạc Tự Chưong bình thản gật gù, nhếch mép cười bảo:

- Lòng dạ Tư Mã Chiêu thế nào thì sau này hậu thế cũng rõ. Tôn giá đã biện bạch như vậy thì lão phu cũng không tiện nói nhiều. Nay Nhạc mỗ chẳng cần lý do, theo quy củ võ lâm mà yêu cầu được ấn chứng võ học với Nam Thiên Tôn, Bắc Thiên Tôn.

Quần hùng đang lo sợ song phương bãi bình, nào ngờ Xoa Lạp cốc chủ vẫn kiên quyết thách đấu, khiến họ hân hoan vỗ tay cổ vũ ỏm tỏi.

Nam Thiên Tôn Từ Tôn Chiến liền đứng bật dậy, lao vút lên mộc đài, dáng điệu thì như nóng nảy song lời nói cực kỳ khôn ngoan:

- Nếu Nhạc thí chủ dùng tuyệt học gia truyền của Xoa Lạp cốc thì bần đạo rất vui vẻ nhận lời. Còn như thí chủ thi thố những ngón nghề vay mượn của Lôi Đình thần cung thì xin miễn. năm xưa, bọn ta đã được lãnh giáo qua.

Dù không thích thú sự thoái thác khéo léo này của Từ lão, song cử tọa cũng phải thầm công nhận Nam Thiên Tôn nói rất hữu lý.

Nhưng Nhạc Tự Chương chẳng chút bối rối, cười ruồi đáp:

- Nhị vị cứ yên tâm. Tuy khuyển tử Cuồng Loan là đồ đệ Trác Đế Quân song lão phu chẳng hề muối mặt học lõm, dù chỉ nửa chiêu tuyệt kỹ Lôi Đình.

Nếu Trác Ngạn Chi không hiểu rõ nhân phẩm của lão phu thì đã chẳng nhận Cuồng Loan làm học trò. Thực ra Trác Đế Quân chính là bái huynh của Nhạc mỗ. Ông ta rất yêu thương Cuồng Loan nên muốn y trở thành cao thủ duy nhất kiêm thông cả hai tuyệt học dương cương và âm nhu. Hôm nay, lão phu sẽ để cho nhị vị được thưởng thức “Phong Đô kiếm pháp” và “Phong Đô thần chưởng”.
Lần này người võ lâm mới biết tên sở học Xoa Lạp cốc. Phong Đô Đại Đế là một danh hiệu khác của Diêm Vương nên chắc chắn võ nghệ nhà họ Nhạc thuộc loại chí âm.

Song Tôn chỉ ngán có “Lôi Đình thần chưởng”, uy mãnh tuyệt luân, kỳ dư đều coi khinh. Nhất là khi cả trăm năm nay “Phong Đô chưởng pháp” của Xoa Lạp cốc chưa hề được ai biết đến. nếu nó thực sự lợi hại thì chắc đã được đem ra tranh danh với “Lôi Đình thần chưởng”.

Nam Thiên Tôn đắc ý cười mát:

- Té ra sở học tổ truyền của quý cốc xuất xứ từ chốn âm ty, địa ngục. Bần đạo cũng sắp xuống đấy nên hiếu kỳ muốn thưởng thức trước những ngón nghề của bọn ngưu đầu mã diện xem sao.

Ý lão muốn chửi xỏ Nhạc Tự Chưong thuộc dòng dõi đầu trâu mặt ngựa, quỷ sứ chứ chẳng phải người. Đám đệ tử Nam Bắc bang khoái trá cười vang, giễu cợt Nhạc Tự Chương. Có kẻ còn khôi hài:

- Ái chà! Đến bây giờ kẻ hèn này mới biết dưới âm phủ ngày nào cũng có mưa to và bọn quỷ vô thường luôn phải mặc áo tơi, đội nón tre.

Hình tượng ấy do gã vẽ ra đã khiến mấy ngàn người bật cười nghiêng ngã. Thế mà Xoa Lạp cốc chủ vẫn bình thản, mặt chẳng chút sắc giận, biểu lộ một định lực vững như núi thái.

Nhạc Tự Chương điềm đạm hỏi:

- Trong hai vị ai là người muốn thành tiên trước?

Câu hỏi ngạo mạn, khinh thị này đã khiến Nam-Bắc Song Tôn bừng lửa giận. Nhưng đồng thời, họ cũng thầm run sợ trước oai phong của đối phương.

Nếu không nắm chắc phần thắng trong tay chẳng bao giờ họ Nhạc dám sinh cường như thế.

Song không còn đường thoái thác, Bắc Thiên Tôn Phùng Thịnh Đoan cười nhạt đáp:

- Chính là bần đạo đây. Nhưng chưa chắc ta với ngươi ai dứt nợ trần trước ai.

Tuy dung mạo thô lậu nhưng Nam Thiên Tôn là kẻ học lõi, khôn ngoan, lẳng lặng hạ đài, bảo Lã Bất Thành mang kích lên cho Phùng lão.

Sau khi trở thành Bang chủ Nam Bắc bang, hai lão thiên tôn không còn mặc đạo bào nữa, dù vẫn quen miệng xưng bần đạo. Hôm nay, Phùng Thịnh Đoan uy nghi trong tấm trường bào tay nẹp bằng gấm trắng, đai lưng màu đen có thêu hạc. bao lấy búi tóc trắng như mây là một chiếc ngân quan đạo sĩ, tinh xào và đẹp mắt.

Bắc Thiên Tôn nhận lấy trường kích từ tay học trò, trụ tấn thủ thế chờ đợi tự chương ra tay trước. Quy cũ võ lâm là vậy, dẫu chẳng hợp lý chút nào khi trẻ khỏe hơn lại được quyền ưu tiên trước một lão già lọm khọm.

Binh pháp có câu: “tiên phát chế nhân”, hoặc “tiên hạ thủ vi cường”, nên việc được phép xuất thủ trước có lợi thế rất lớn. Nhạc Tự Chương chẳng bỏ lỡ cơ hội tốt, lao vút đến như cơn lốc, kiếm quang loang loáng dưới nắng xuân, làm hoa mắt người xem. Chiêu kiếm oai mãnh tuyệt luân này đã chứng tỏ được bản lĩnh kiếm thuật và công lực thâm hậu phi thường của Cốc chủ Xoa Lạp cốc.

Nhưng Bắc Thiên Tôn nào phải kẻ dễ bị khuất phục, sớm dồn hết hơn hoa giáp tu vi vào ngân kích, xuất chiêu “Phụng Tiên Phún Tửu”. Cây kích thép mạ bạc vươn hết chiều dài, điểm hàng trăm thức nhanh tựa mưa rào, khống chế toàn bộ thân trước đối phương.

Sau trận so tài với Âu Dương Mẫn ở Độc Nha sơn, Phùng lão mới thấm thía câu “Tre già măng mọc”, chẳng còn dám cao ngạo nữa. Bắc thiên tôn liền giới sắc, giới tửu, chuyên cần rèn luyện khí công và kích pháp. Nam Thiên Tôn cũng đồng cảnh ngộ nên cùng tham gia. Hai người đem hết tài nghệ ra song luyện học hỏi lẫn nhau nên thu được nhiều bổ ích.

Nhờ vậy mà giờ đây chiêu “Phụng Tiên Phún Tửu” đạt đến oai lực tận cùng, như lúc bắc thiên tôn còn sung mãn, khi chạm vào lưỡi kiếm mỏng manh đã ở thế thượng phong. Vả lại chiến thuật “dĩ công vi thủ” vốn rất hợp với vũ khí dài.

Thép chạm thép liên hổi, khi chát chúa lúc ngân nga, đầy ý sát phạt. Và cuối cùng Xoa Lạp cốc chủ cũng bị chặn đứng, phải đảo bộ sang mé tả rồi từ đó tìm cách nhập nội.

Tất nhiên, Bắc Thiên Tôn chẳng chịu để mất lợi thế về chiều dài vũ khí, thả tấn xoay theo, ngân kích quét một đường sấm sét. Khác với thương và giáo, ngoài mũi nhọn, kích còn có cả lưỡi ở đầu. phần lưỡi kích nằm ngay dưới đoạn mũi. Tuy chỉ dài độ hơn gang, rộng gần nửa gang, song cực kỳ chắc chắn, sắc bén. Cạnh trên và cạnh dưới lưỡi kích đều lõm, hợp cùng mũi kích, thân kích thành hai góc khuyết. hai góc ấy co diệu dụng là khóa chặt vũ khí của đối phương.

Do vậy, Nhạc Tự Chương gặp khá nhiều khó khăn khi phải đối phó với lưỡi kích vừa sắc vừa nhọn, vừa có bẫy rập. Nhưng dù cho trường kích có nhiều đặc tính lợi hại như thế thì vẫn không thể sánh với kiếm, vua của mọi loại vũ khí. Trường kiếm thường được rèn bằng thứ thép tốt, cứng rắn và dẻo dai. Trừ phi bị đánh vào giữa bản hoặc trúng những đòn áp đỉnh, nặng tựa ngàn cân, kiếm rất khó gãy. Và kiếm chỉ nặng vài cân nên người kiếm thủ tha hồ thi triển khinh công, không bị vướng víu, nặng nề như kẻ sử dụng trường binh.

Nhạc Tự Chương ung dung tránh né những đòn vũ bão của Bắc Thiên Tôn bằng một thứ thân pháp vô cùng ảo diệu. Lão chập chờn tựa bóng u linh phiêu dật, bềnh bồng, phong thái tiêu sái, khinh linh. Và rồi lão ập vào, bảo kiếm bay nhanh như gió, tấn công hàng trăm thức kiếm thần tốc và hiểm ác, khi va chạm tạo nên những tràng âm thanh rền rĩ. Quần hùng say mê theo dõi, ngây ngất trước kiếm thuật thượng thừa của Tự Chương, hoan hô ầm ĩ.

Nhưng họ đồng thời tán thưởng cả bản lĩnh sử dụng trường kích xuất thần nhập hóa của Phùng Thịnh Đoan. Bắc Thiên Tôn điều khiển cây kích nặng ba mươi cân rất nhẹ nhàng linh hoạt. Tuy chỉ đảo bộ, thả tấn di chuyển những bước ngắn song tư thế cực kỳ uyển chuyển, đẹp mắt và oai vệ. trong tay lão, ngân kích hóa thành con rồng bạc uốn mình, hung hãn bay lượn quanh đối thủ, kình lực xé gió vù vù.

Sau hơn khắc giao tranh, Nhạc cốc chủ không sao tiếp cận được đối phương và còn bị đẩy lùi dài. Trình độ kiếm thuật của Tự Chương hơn Âu Dương Mẫn một bậc, song lão lại chẳng có được sự hỗ trợ của công phu “Thiết Sa Chưởng” nên vẫn kém bắc thiên tôn, y như kẻ đã chết vậy.

Cho nên, cuối cùng thì Xoa Lạp cốc chủ cũng phải thi triển “Phong Đô thần chưởng” để vãn hồi cục diện. Lão bất ngờ đề khí bốc thẳng lên cao, vượt qua tầm với của ngân kích, rồi xòe bàn tay tả giáng liền một chưởng.

Đạo chưởng phong ấy có vẻ mềm mại, hiền hòa, không phát ra âm thanh oai vệ như “Lôi Đình chưởng pháp”, song lạnh lẽo, âm u, tựa gió từ địa ngục thổi về.

Bắc Thỉên Tôn chẳng hề ngần ngại, vươn tả thủ đón lấy phát chưởng Phong Đô nọ. Như đã nói ở hồi trên, tuy không luyện công phu “Phách Không chưởng lực” nhưng những cao thủ công lực thâm hậu đều có đôi bàn tay bao bọc đầy chân khí. Riêng phía lòng bàn tay thì lớp khí ấy rất dày, có thể vỡ nát sọ người dù còn cách cả lóng tay. Dẫu chỉ là thụ động song thừa sức đối phó với “Phách Không chưởng”, tựa như cái cách người ta dùng khiên, thuẩn để đón mũi gươm vậy.

Quả nhiên, đạo chưởng kình của Xoa Lạp cốc chủ bị chặng đứng, chỉ còn chút dư phong làm phất phơ chòm râu dài bạc trắng của Phùng Thịnh Đoan.

Lúc này, khi tấn công không hiệu quả và thân hình thì lơ lửng trên không trung, Nhạc Tự Chương rơi vào thế bất lợi. Bắc Thiên Tôn đã lập tức vươn kích đâm mau hàng trăm thức như chớp giật quyết chẳng để kẻ thù sống sót.

Quần hùng rợn tóc gáy, mắt trợn tròn vì hiểu rằng Nhạc Tự Chương khó toàn mạng. Thanh kiếm mỏng manh trong tay lão không thể nào phá hủy được chông sắc nhọn và kiên cố dưới chân. Còn như lão muốn vỗ thêm một chưởng nữa thì chân khí tập trung đủ.

Song Nhạc Tự Chương lại làm cái điều bất khả ấy. Lão vung tả thủ quạt chưởng thứ hai và lộn người cho đầu lao xuống lưới kích, trường kiếm loang nhanh.

Thép chạm thép chát tai, trong chớp mắt nhạc tự chương đã sa xuống đất, ngay trước mặt Bắc Thiên Tôn. Sau đó, một tiếng rú thất thanh, thê thảm đã vang lên, làm não lòng cử tọa.

Ai cũng đinh ninh kẻ lìa đời là Cốc chủ Xoa Lạp cốc. Chỉ riêng Hội đồng Võ lâm ngồi ở ngay gần đấy mới thấy rõ Nhạc Tự Chương đã đánh bạt được ngân kích, lao xuống đâm nát ngực Bắc Thiên Tôn.

Khi Xoa Lạp cốc chủ lùi tránh sang một bên, quần hùng mới thấy rõ sáu vòi máu nóng đang phun ra từ ngực Bắc Thiên Tôn, nhuộm đỏ tấm trường bào gấm trắng. Mặt lão nhăn nhó vì đau đớn song đôi mắt vẫn nhắm nghiền, tựa như đang ngủ. Sau đó, Bắc Thiên Tôn ngã ngửa, tay phải còn nắm chặt cây ngân kích.

Quần hùng náo động và bất ngờ trước cái chết thảm thiết của Bắc Thiên Tôn, lòng đầy nghi hoặc nên không ai vỗ tay mừng thắng lợi của Xoa Lạp cốc chủ.

Nam Thiên Tôn Từ Tôn Chiến và Lã Bất Thành đã nhảy lên lôi đài, mang theo cả vũ khí. Họ Lã ngồi xuống xem xét tình trạng của sư phụ, còn Nam Thiên Tôn thì quắc mắt, chỉ tay vào mặt Nhạc Tự Chương mà quát:

- Ngươi dám dùng chất độc hại chết Phùng đạo huynh thì đừng mong sống sót mà rời khỏi nơi này.

Xoa Lạp cốc chủ thàn nhiên khoa tay, dịu giọng đáp:

- Nhạc mỗ mà sử dụng chất độc thì trời tru đất diệt. Từ tôn giá cứ việc kiểm tra thi thể của nạn nhân.

Nghe đối phương thề độc, Nam Thiên Tôn bỗng hoang mang. Lão quay xuống dưới, cao giọng gọi:

- Mời Tư Mã lão đệ lên đây giúp bần đạo một tay.

Trong đám đông thủ hạ Nam Bắc bang, một người thâm thấp và to béo bước ra, theo thang gỗ mà thượng đài. Gương mặt tròn đầy thịt mỡ và những bộ phận xấu xí như mũi tẹt, mắt hí, môi dày, chính là chiêu bài của Diện Thủ Thần Cơ Tư Mã Vy. Trước kia, lão thầy lang dâm đãng và thất đức này theo phò Âu Dương Mẫn, tức Huyết Mai hội chủ. Nhưng giờ đây chẳng hiểu sao lão ta lại theo phe Nam Bắc bang?

Con chồn béo này cực kỳ giảo hoạt, ăn vụng khéo chùi mép nên chưa bao giờ để võ lâm chụp được đuôi. Không ai có chứng cớ để buộc tội lão là đồng đảng của Điền Sĩ Lệ cả, dù cách đây hơn hai chục năm hoặc hiện tại.

Vẫn áo đạo bào màu xanh mũ đạo sĩ màu đen, Tư Mã Vy nhơn nhơn bộ mặt dày vái chào Hội đồng Võ lâm rồi mở tay nải, lấy dụng cụ ra trổ tài thần y.

Ngoài động tác nếm máu nạn nhân, Tư Mã Vy còn rắc hàng chục loại bột thuốc vào miệng cùng những vết thương đang rỉ máu. Lã Bất Thành vẫn quỳ cạnh xác ân sư, không khóc lóc song nét mặt cực kỳ thống khổ. Gã được Bắc Thiên Tôn nuôi dạy gần bốn chục năm nên vẫn thầm xem Phùng lão là cha mình.

Cuối cùng, Tư Mã Vy đứng lên, chắp tay trước ngực nói với Nam Thiên Tôn:

- Bẩm Từ đạo huynh. Tiểu đệ đoán rằng Phùng đạo huynh không hề bị trúng độc.

Nam Thiên Tôn cau mày, quay sang hỏi Xoa Lạp cốc chủ:

- Nhạc thí chủ có thế cho biết đã thắng Bắc Thiên Tôn bằng công phu gì không?

Nhạc Tự Chương nghiêm nghị đáp:

- Lão phu cũng chẳng giấu giếm làm gì, “Phong Đô thần chưởng” là công phu chí âm, tuy không mãnh liệt nhưng có thể thấm qua da thịt làm chân khí đối phương lập tức bế tắc.

Xoa Lạp cốc chủ dừng lời, mỉm cười lạnh lẽo rồi nói tiếp:

- Nếu Từ tôn giá muốn chứng thực thì lão phu xin phụng hầu ngay bây giờ.

Nam Thiên Tôn rợn cả người, biết rằng Nhạc Tự Chương muốn giết luôn mình. Bản lãnh Từ Tôn Chiến chỉ ngang ngửa với Bắc Thiên Tôn, tất không thể toàn mạng.

Ai bảo người già không sợ chết, theo kiểu “Trâu già chẳng nệ dao phay”?

tuy tuổi đã gần cửu thập song từ lão vẫn còn rất khang kiện, thừa sức hưởng thụ mọi lạc thú nhân gian, nên không hề chán sống.

Bởi thế cho nên Nam Thiên Tôn chẳng hề dại gì đâm đầu vào lửa. Lão liền tìm cách rút lui trong danh dự, cười nhạt đáp:

- Trong vòng trăm năm nay, võ lâm chưa hề có công phu nào quái dị như vậy, tiền nhiệm Cốc chủ tức lệnh tôn cững chưa bao giờ thi triển “Phong Đô chưởng pháp”. Vì vậy, bần đạo vẫn quả quyết rằng thí chủ đã sử dụng độc, một loại độc kỳ tuyệt đã khiến cả Diện Thủ Thần Cơ cũng không phát hiện ra. Trước khi rõ trắng đen, bần đạo quyết chẳng chịu sa vào độc kế của thí chủ. Bần đạo sẽ mang xác Phùng đạo huynh về nhờ những cao thủ Độc môn lão thành thẩm định lại. Đến ngày rằm tháng chín, nhân đại hội võ lâm, bần đạo sẽ công bố kết quả và đòi thí chủ phải trả món nợ máu này.

Nam Thiên Tôn nói rất hữu lý nên quần hùng chẳng thể chê trách lão sợ chết.

Vả lại, người trung hoa vốn có câu “quân tử ba năm báo thù cũng chẳng muộn”.

Dứt lời, Nam Thiên Tôn cúi xuống bồng cái thân thể đẫm máu của người anh kết nghĩa và cùng Lã Bất Thành hạ đài.

Nhạc cốc chủ mỉm cười bảo quần hùng:

- Để chứng tò sự thanh bạch của mình, lão phu sẽ đấu thêm vài trận nữa.

Mong chư vị anh hùng chỉ giáo cho.

Những kẻ thích xem người khác chết mừng rỡ hoan hô ỏm tỏi và đề nghị Nhạc Tự Chương thay Cuồng Loan mà tranh danh hiệu Võ lâm Đệ nhất cao thủ.

Lúc áy đã là đầu giờ Ngọ, Văn Thiên Tử đứng lên miễn cưỡng tuyên bố:

- Kinh cáo đồng đạo! Đã đến giờ cơm trưa, đại hội tạm dừng ở đây. Chiều nay, đại hội sẽ tiếp tục vào đúng giữa giờ Mùi.

Cử tọa tán thành ngay, kẻ thì hối hả đi lấy ngựa để vào thành Đăng Phong ăn uống cho sướng miệng, kẻ thì ngậm ngùi giở gói lương khô ra gặm cho đỡ đói vì hầu bao lép kẹp.

Đại Giác thiền sư, Phương trượng Thiếu Lâm tự đích thân mời mọc gia quyến của Tử Khuê lên chùa dùng bữa và nghỉ ngơi:

- A di đà phật! Lão nạp kính thỉnh Quách nữ thí chủ và chư vị thượng sơn để bổn tự được dịp tỏ lòng tôn kính.

Quách phu nhân ngần ngại đáp:

- Đệ tử rất cảm kích trước hảo ý của Phương trượng, song nhân thủ bổn trang khá đông e sẽ quấy nhiễu đất Phật trang nghiêm.

Vô Tướng Quỷ Hồ Dịch Quan San nghe bà nói vậy liền bước lại, ồm quyền thưa rằng:

- Xin can nương và các vị cứ yên tâm lên núi. Hài nhi sẽ đưa bọn gia đinh đến thành đăng phong. Họ là lũ tửu quỷ, ăn chay không được và cũng chẳng thể thiếu rượu.

Băng Tâm Ma Nữ Kỹ Thanh Lam gật gù tán thành ý kiến của nghĩa tử, rồi đưa những người còn lại đi theo Hội đồng Võ lâm.

Dĩ nhiên Ngân Diện Hầu Tiêu Mẫn Hiên cũng được lời mời tượng tự và thực ra, dù Đại Giác thiền sư không nói gì thì Tử Khuê cũng sẽ làm mặt dày lên chùa ăn chực. Chàng chẳng muốn rời xa thân mẫu và thê thiếp chút nào cả.

Trong lòng tử khuê đã xem Thiết Đảm Hồng Nhan là vợ mình. Chẳng phải chàng háo sắc mà để không thể phụ bạc tấm chân tình son sắt của Tống Thụy.

Hơn nữa, chàng thật lòng yêu thương ả sư muội liều mạng ấy.

Cơm chay cũng có nhiều hạng, và những món để Phương trượng đãi khách thì phải cực kỳ thơm ngon. Sau bữa cơm, chủ khách quay quần thưởng thức chén trà Long Tĩnh thượng hạng. Huyền Thiên Chân Quân Trương Sách, tức Trương Thiên Sư, bùi ngùi hỏi Kỹ nương:

- Dám hỏi phu nhân có định tổ chức tang lễ cho lệnh lang hay không? Bần đạo sẽ lập đạo tràng để cầu cho vong linh lệnh lang sớm siêu thoát, đầu thai vào chốn vinh hiển.

Đạo tràng là nghi thức cúng tế, tụng niệm và làm phép có quy mô lớn nhất của Đạo giáo, tập trung cả ngàn đạo sĩ và kéo dài nhiều ngày. Trương Thiên Sư vì quá yêu mến Tử Khuê nên mới dành cho chàng nghi lễ sang trọng, thiêng liêng ấy.

Kỹ nương vô cùng cảm kích, buồn rầu đáp rằng:

- Quách gia xin đội ơn tấm lòng ưu ái của Trương Thiên sư. Nhưng với linh cảm của người mẹ, đệ tử vẫn tin rằng Khuê nhi còn sống. nếu đến ngày đại hội bầu Minh chủ Võ lâm mà Khuê nhi vẫn biệt vô âm tín thì đệ tử mới chịu phát tang.

Dường như bà đau đớn vì viễn cảnh tuyệt vọng ấy, nước mắt chảy dài trên gương mặt xanh xao. Thiên Kim, Tái Vân và Tống Thụy cũng không thể cầm lòng, bật khóc thút thít.

Đại Giác thiền sư lên tiếng:

- Lão nạp dù chỉ học được vỏ ngoài của phép xem tướng nhưng cũng không tin Quách tiểu thí chủ là người yểu mạng. song nếu chẳng may người tốt bị trời già đố kỵ, phải sớm lìa trần thì lão nạp xin phép được đến quý trang lập đàn cầu siêu.

Việc được Phương trượng Thiếu Lâm đích thân lập trai đàn giải siêu cũng là một vinh dự cực kỳ lớn lao. Kỹ nương vội đứng dậy nói lời cảm tạ. Sau đó, Hội đồng Võ lâm bàn đến chuyện công. Tùng Xuân Tử, Chưởng môn phái Toàn Chân bâng khuâng nói:

- Chư vị nghĩ sao về Xoa Lạp cốc chủ Nhạc Tự Chương? Bần đạo thì cho rằng lão ta còn đáng sợ hơn Huyết Mai hội chủ bội phần.

Có lửa mới có khói, nên đôi lúc tin đồn cũng phản ánh đúng sự thực. Lần này, hai phái Toàn Chân và Hoa Sơn đều mang theo cao thủ hàng trưởng lão.

Ngồi cạnh Tùng Xuân Tử là Kỳ Phong chân nhân, tám mươi tuổi, mình hạc sương mai, tóc râu bạc phếch. Còn đô vật của Hoa Sơn là Lạc Mạo chân nhân, bát thập nhất tuế, người thâm thấp, tròn trịa, miệng hay cười, mắt láo liên. Lão ta suốt đời không đội mũ nên mới mang đạo hiệu ấy. và có lẽ vì cháy nắng nên râu tóc lão hoe vàng, không bạc mà cũng chẳng đen nổi.

Nghe Tùng Xuân Tử nói vậy, Lạc Mạo chân nhân lập tức nhăn nhó, chửi đổng:

- Tổ bà nó! Cái gã chết bằm họ Nhạc ấy chắc chắn sẽ làm cho sáu phái chúng ta cháy túi, chẳng còn một xu để mua nhang. Bần đạo ghét nhất là những kẻ cờ gian bạc lận. trên đời này làm quái gì có cái thứ “Phong Đô thần chưởng”, chỉ đánh như phủi bụi mà giết người nhanh đến thế.

Lạc Mạo chân nhân tính tình phóng dật, làm đạo sĩ du phương suốt năm mươi năm, già khú đế mới chịu về núi tu hành. Chẳng biết lão ta đã giáo hóa, khai sáng đạo tâm được bao nhiêu chúng sinh, trong khi bản thân nhiễm đủ mọi thứ xấu trần tục. lạc mạo luôn miệng chửi thế, uống rượu, ăn thịt cầy và mê cờ bạc hết chỗ nói. Nếu lão không quá già thì chắc đã phạm luôn giới sắc.

Tuy nhiên, vị đạo sĩ già chẳng nên giết ấy lại có võ nghệ rất siêu phàm, uyên thâm và rộng rãi. Ngoài việc thâu nhập tinh túy sở học hoa sơn, lạc mạo còn biết rất nhiều công phu, chiêu thức ngoại lai đặc dị và lợi hại. Chính vì lẽ đó mà Trúc Lâm Tử, Chưởng môn nhân phái Hoa Sơn, chọn lão sư thúc bất trị ấy làm ứng viên tranh chức Võ lâm Đệ nhất cao thủ. Cũng có thể vì danh dự môn phái, song biết đâu Trúc Lâm Tử muốn Lạc Mạo chết quách cho xong.

Trúc Lâm Tử tính cách nghiêm trang, đạo mạo, thủ lễ kiểu đám quân tử của Khổng gia, nên chẳng thể hài lòng với tư cách phóng đãng của Lạc Mạo.

Như hôm nay chẳng hạn, ngay trước mắt các Chưởng môn nhân và bốn nữ nhân cao quý, Lạc Mạo lại chửi thề, nói năng như đang trong đổ trường thế kia thì còn gì thanh danh Hoa Sơn nữa.

Trúc Lâm Tử giận lắm, vừa định nhắc nhở sư thúc mình cẩn ngôn thì thấy Ngân Diện Hầu Tiêu Mẫn Thiên phì cười và ranh mãnh hỏi Lạc Mạo:

- Phải chăng Chân nhân định ra tay tiêu diệt lão cờ bạc bịp ấy để tạo phúc cho võ lâm.

Chẳng phải Tử Khuê muốn hỏi xỏ đối phương, mà vì Lạc Mạo là bằng hữu thâm giao của sư phụ chàng, Vu Mộc chân nhân. Trong bảy năm Tử Khuê học võ ở Vũ Lương sơn, Lạc Mạo đã mấy lần đến chơi, ở lại cả tháng. Chàng rất mến lão đạo sĩ vui tính và bạt mạng này. Nay gặp lại, Tử Khuê rất mừng, liền tìm cách trêu ghẹo cố nhân.

Nghe chàng hỏi cắc cớ, Lạc Mạo chân nhân giật nảy mình, mặt tái nhợt, tròng mắt đảo lia lịa và miệng thì ấp úng:

- Phải! Phải! Tất nhiên... là... bần đạo... cóc sợ cái gã tơi non ấy. nhưng...

Kỳ Phong chân nhân liền cướp lời, chơi trò dậu đổ bìm leo, đứng lên cười khà khà và vái dài:

- Bần đạo vô cùng khâm phục dũng khí và lòng hiệp nghĩa của Lạc Mạo đạo huynh. Chiều nay nếu đạo huynh đả bại được Nhạc Tự Chương thì sẽ lưu danh sử sách, được người người ca ngợi. và tất nhiên Lạc Mạo chân nhân sẽ giành được danh hiệu Võ lâm Đệ nhất cao thủ.

Thất Bổng Cái, Bang chủ Cái bang cũng hùa vào, tủm tỉm bảo:

- May thực! Hội đồng Võ lâm đang lo lắng, không biết nhờ ai trừng trị ác ma. Nay Chân nhân hào khí ngất trời, võ công cái thế chính là chỗ dựa của giang hồ vậy.

Thạch bang chủ tằng hắng một cái rồi nghiêm nghị nói tiếp:

- Lão phu chẳng dám xem thường bản lãnh của Chân nhân. Nhưng để phòng trong muôn một, phiền Chân nhân cho biết tục danh để sau này khắc vào bia mộ.

Lạc Mạo chân nhân hồn phi phách tán, mặt xám ngoét như gà bị cắt tiết, rùng mình nói lẩm bẩm:

- Mộ nào? Bần đạo mà đấu với Nhạc Tự Chương thì sẽ chết ư? Biết chết mà vẫn làm chẳng ngốc lắm sao?

Vẻ mặt sợ hãi, ngơ ngác của lạc mạo có nét gì đó rât khôi hài khiến bọn tiểu tăng hầu trà không nín nổi, ôm bụng cười sặc sụa. Rồi Đến Kỳ Phong chân nhân, Thất Bổng Cái và Tử Khuê, ba kẻ đã tiếp tay nhau chơi trác vị trưởng lão núi Hoa Sơn. Những người còn lại cũng tủm ta tủm tỉm, trừ Trúc Lâm Tử. Lạc Mạo chân nhân đã hoàn hồn vì hiểu rằng đây chỉ là chuyện đùa bỡn. Lão không hề tự ái, tức giận, vui vẻ nói:

- Sinh diệt là đạo của tự nhiên, kẻ học thì an nhiên thụ mệnh, chẳng nên sợ chết. Nhưng bần đạo mang nặng trọng trách đối với sự tái xuất của minh vương, theo lời dạy của tiên sư, nên không thể chết lúc này.

Mọi người bán tín bán nghi, chẳng hiểu lão ta nói thực hay nói láo? Nhưng câu nói ấy đã khiến Văn Thiên Tử, Chưởng môn nhân phái Võ Đương nhớ tới một việc. ông nghiêm trang hỏi Kỹ nương:

- Quách nữ thí chủ! Hôm ấy, trong trận Độc Nha sơn, lệnh lang đã đồng hành với một thiếu nữ lạ mặt. Sau đó, nữ nhân nọ đã đoạt cán cờ Diêm Vương từ Âu Dương Mẫn và chạy mất. Bần đạo muốn hỏi vị tiểu cô nương ấy là ai và có quan hệ gì với lệnh lang?

Thực ra, Vân Thiên Tử hỏi khéo để biết hạ lạc của Diêm Vương quỷ kỳ.

Đấy cũng là thắc mắc của Tử Khuê. Chàng không biết Trác Thanh Chân đã về đến Quách gia trang hay chưa song chẳng dám hỏi.

Kỹ nương buồn rầu đáp:

- Theo lời kể của Thúy Nhi và San Nhi thì con bé ấy tên Trác Thanh Chân, người của Lôi Đình Thần Quân. Ả ta cứ khăng khăng bảo rằng mình có duyên tiền định với Khuê nhi, dầu chết cũng chẳng buông. Khuê nhi vì lòng nhân mà chấp nhận mối lương duyên kỳ quái ấy. Nhưng khi được giao việc cướp đoạt lệnh kỳ thì Thanh Chân đã biệt tăm, không mang cờ báu về Quách gia trang như đã hứa. Chính vì thế mà tiện phụ phỏng đoán rằng sự thất tung của Khuê nhi có liên quan đến Trác Thanh Chân.

Tử Khuê bàng hoàng kinh ngạc trước sự việc này, song lại thầm lo lắng cho Thanh Chân chứ chẳng chút nghi ngờ. tâm hồn nàng trong suốt như thủy tinh khiến tử khuê nhìn rõ tấm chân tình tha thiết. chính vì thế mà chàng đã thực lòng yêu mến chứ không còn bị gượng ép. Hơn nữa những chi tiết huyền ảo trong quá trình hội ngộ đã lộ rõ sự hiện diện của Lỗ phán quan, kẻ luôn có mặt đúng lúc để giúp đỡ chàng.

Chương 15: Xoa Lạp lao tâm chung bất toại Hầu gia tam tiếu đắc khôi nguyên

Giữa giờ Mùi, đại hội tranh danh hiệu võ lâm đệ nhất cao thủ lại tiếp diễn. Người xem đã vắng đi vài trăm vì Nam Bắc bang phải hộ tống di hài Bắc Thiên Tôn về Lĩnh Sơn mai táng.

Bổ sung những thiếu sót về thủ tục trong buổi sáng, Vân Thiên Tử công bố đài qui và kêu gọi hào kiệt tứ hải đăng ký vào danh sách ứng viên. Nhưng cái chết của Bắc Thiên Tôn đã khiến cho mọi người trở nên vô cùng khiêm tốn, chẳng màng đến chút hư danh kia. Khi một con cáo không sao với tới chùm nho thì bèn tự nhủ rằng nho vẫn còn xanh và thanh thản bỏ đi.

Bốn phái Võ Đương, Hoa Sơn, Thiếu Lâm, Toàn Chân cũng rơi vào cảnh ngộ ấy. Lúc đầu khi ngỡ rằng đối thủ là Nhạc Cuồng Loan, họ đã tuyên bố sẽ cử đại biểu ra ứng thí. Nay kẻ thủ đài lại là Xoa Lạp cốc chủ Nhạc Tự Chương, võ công thần sầu quỷ khốc, giết Bắc Thiên Tôn dễ như giết gà, khiến bốn phái phải chịu nhục nếu như rút lời.

Nhưng may thay, hiện giờ chưa ai lên tiếng khích bác, nhắc nhở đại phái bạch đạo tham chiến cả.

Phần Xoa Lạp cốc chủ vẫn thản nhiên đứng trơ trơ trên lôi đài mà chờ đợi.

Mặc dù lão bảo rằng mình chỉ đến để chứng minh “Phong Đô thần chưởng” không có độc, song thâm ý lại bắt buộc Hội đồng Võ lâm phải tiếp diễn việc tranh danh hiệu vô địch. Nhạc Tự Chương thừa xảo quyệt để chờ đợi kế sách “Bất chiến tự nhiên thành”, “Sát nhất nhân vạn nhân cụ”. Lão giết Bắc thiên tôn để dọa khắp thiên hạ và hiển nhiên trở thành võ lâm đệ nhất cao thủ. Cho nên lão chẳng dại gì khiêu khích sáu phái bạch đạo để phải tốn sức vô ích.

Không có cảnh tỷ võ để giải khuây, cử tọa bắt đầu chán nản và bứt rứt vì ánh nắng chiều xuân. Họ lẩm bẩm chửi rủa, thở than vì tiếc công tới đây.

Trên lôi đài, các Chưởng môn nhân cũng bất an chẳng kém, dù được che mát bằng mái lá. Tuy đã quyết định không đưa người của mình vào chỗ chết, song nếu quần hùng mở lời dị nghị, gièm pha thì họ khó mà thoái thác. Cây cao bóng cả, thành danh càng lớn thì số người chết vì nó càng nhiều. Khó xử nhất là hai phái Toàn Chân và Hoa Sơn. Chính họ đã nhiệt thành hưởng ứng ý kiến của nhạc cuồng loan, đưa danh hiệu võ lâm đệ nhất cao thủ ra tranh đoạt.

Tùng Xuân Tử và Trúc Lâm Tử vô cùng nuối tiếc cái giây phút háo danh đáng xấu hổ ấy, dù ngoài vẫn tỏ ra bình thản.

Nhưng cuối cùng họ cũng phải nhận lấy hậu quả xấu vì đã có người đứng ra, cao giọng nhắc lại chuyện cũ ở Lư gia trang, đòi hai phái này phải tham chiến. Cử tọa phấn khởi reo hò ần ĩ, không những thúc giục mà còn mỉa mai, châm biếm đệ tử của Vương Trùng Dương và Hách Đại Thông sợ chết.

Tùng Xuân Tử buồn rầu đứng lên chấp tay nói lớn với Kỳ Phong chân nhân ở dưới lôi đài:

- Lỗi lầm này do đệ tử gây ra quyết chẳng để sư thúc phải vạ lây, nếu đệ tử chẳng may thiệt mạng mong sư thúc mang tín phù, về Chung nam sơn và lập Tử sư đệ lên làm Chưởng môn nhân.

Kỳ Phong xua tay cười khà khà:

- Bần đạo tuổi đã bốn mươi, lòng trần, có thăng thiên cũng chẳng phải là sớm. Hơn nữa chắc gì “Phong Đô thần chưởng” hơn được tuyệt học của phái Toàn Chân chúng ta?

Dứt lời lão tung mình bay thẳng lên mộc đài, vui vẻ bảo Nhạc Tự Chương:

- Này nhạc thí chủ, bần đạo vốn ở họ Diêm cháu chắt của phong Đô Đại Đế, mong thí chủ nghĩ tình quyến thuộc mà nhẹ tay cho.

Câu nói pha trò của lão già phái Toàn Chân khiến lòng người bớt nặng nề, nhoẻn miệng cười vang. Và họ sinh hảo cảm với kẻ an nhiên đón nhận cái chết.

Nhạc Tự Chương mỉm cười, ôm kiếm thi lễ rồi tấn công trước bằng một chiêu hòa nhã. Kỳ Phong chân nhân cũng ung dung chống đỡ, không lợi dụng cơ hội ấy mà ra tay quyết liệt. Nhưng rồi đường gươm mỗi lúc một mau lẹ, kiếm ảnh mỗi lúc một mịt mờ, tiếng thép ngân dài. Song phương xoắn lấy nhau mà đổi đòn, hai thân hình cùng di chuyển nhịp nhàng, tiếng thoái lên xuống cực kỳ đẹp mắt.

Cử tọa tròn mắt say mê chiêm ngưỡng cuộc thư hùng của hai kiếm thủ bậc thầy, miệng xuýt xoa tán thưởng. Họ tràn trề hi vọng khi thấy Kỳ Phong chân nhân hoàn toàn chiếm ưu thế bằng tài khoái kiếm thượng thừa. Ông ra đòn như chớp giật, thế thức nối nhau liên miên bất tuyệt tựa sóng xô.

Không những áp đảo trường kiếm, Chân nhân còn phong tỏa cả bàn tay tả của Xoa Lạp cốc chủ. Lão ta mà đưa tay ra giáng trưởng thì lòng bàn tay lủng ngay. Đấu pháp ấy của Kỳ Phong quả là tuyệt diệu. Kỳ Phong luyện kiếm đã sáu bảy chục năm nên Nhạc Tự Chương chẳng thể nào sánh nỗi. Nhưng ông bị phân tâm bởi bàn tay trái của họ nhạc, khó mà kết liễu lão ta một cách an toàn ngay được. Vì danh dự phái Toàn Chân ông phải chiến thắng và còn sống mà nhận danh hiệu võ lâm đệ nhất cao thủ.

Bản thân Chân nhân không cần đến chút hư danh ấy. Nhưng ông lại muốn lập chút công lao để báo đáp ân nghĩa sư môn.

Tuy xuất thủ như bão táp mưa sa nhưng Kỳ Phong rất thận trọng, nhẫn nại chờ cơ hội ăn chắc mười mươi mới hạ thủ. Chân nhân đã năm lần đâm rách áo Tự Chương rồi rút về ngay. Toàn trường reo hò như sấm dậy, hoan hô những chiến tích ấy, tưởng Chân nhân đã rộng lượng nhẹ tay. Họ không hiểu rằng Kỳ Phong chỉ có thể làm được đến đấy, và những vị trí kia, không hề ngăn trở Tự Chương thi triển “Phong Đô thần chưởng”.

Tử Khuê thì thừa bản lĩnh để hiểu rõ sự tình và thầm lo cho vị đạo sĩ già phái Toàn Chân. Kỳ Phong chân nhân như loài ong khó tính, suốt đời chỉ hút phấn của một loại hoa duy nhất, nên hương vị mật ong phong phú đậm đà.

Đạo của tự nhiên là phổ biến, vô biên, vậy mà Kỳ Phong tự đóng khung trong kiếm pháp Toàn Chân thì thật khó mà lãnh ngộ được phép biến hóa của kiếm đạo.

Hơn nữa, Chân nhân lại nặng lòng cầu sinh, toàn thắng nên đã quá thận trọng, khiến kiếm ý gò bó chẳng được thênh thang tự tại. Nhạc cốc chủ mà nắm được tâm lý ấy chắc sẽ tìm được cơ hội mà thoát ra xa và thi thố “Phong Đô chưởng pháp”.

Quả đúng như sự phỏng đoán của Tử Khuê, lát sau, Nhạc Tự Chương lộ sơ hở ở phía sườn trái, lập tức bị kiếm của Kỳ Phong chân nhân thọc vào. Xoa Lạp cốc chủ không né tránh mà đưa ngay tả thủ ra, tựa như muốn đổi mạng vậy, Kỳ Phong chân nhân vội bỏ mục tiêu cũ, vội hất kiếm lên để chặn đứng bàn tay trái đối phương.

Nhưng đấy chỉ là trá chiêu và Xoa Lạp cốc chủ bất ngờ búng mạnh song cước, thoái hậu hơn gần trượng, Kỳ Phong chân nhân lập tức bám theo song đã muộn. Ở ngoài tầm kiếm, Nhạc Tự Chương vung tả thủ vỗ liền hai đạo chưởng phong mà chào đón đối phương.

Kỳ Phong kinh hãi, né sang mé hữu, và múa tít gươm thiêng, cố tạo ra một màng kiếm phong kín đáo, để đánh bạt đám dư kình độc hại.

Ông thầm hài lòng với phản ứng thần tốc của mình, vì đã hoàn toàn tránh khỏi hai phát ma chưởng kia. Chúng không thể chạm y phục ông và cũng không lọt vào phổi, bởi ông đã sớm bế khí.

Cử tọa ở dưới lội đài cũng cho là Kỳ Phong chân nhân đã thoát nạn, và sẽ tiếp cận Nhạc Tự Chương mà chiếm thượng phong bằng kiếm thuật.

Trong nghề võ kẻ tấn công hụt mục tiêu thường chậm mất một hai nhịp.

Thời gian ấy cực kỳ ngắn song cũng đủ để các đại cao thủ khai thác mà thủ lợi.

Kỳ Phong chân nhân đã từ vị trí mới ập vào nhanh tựa cơn gió, kiếm quay lòng lộng lấp lánh như sương, kiếm kình rít vo vo, khí thế vô cùng hung hãn.

Trước chiêu tuyệt kiếm hung hãn ấy, Xoa Lạp cốc chủ chỉ còn cách cử gương chống đỡ chứ không thể dùng “Phách Không chưởng” đối phương có tránh đòn thì thân thể lão cũng nát như tương.

Nhạc Tự Chương liền múa tít song kiếm và thân ảnh biến mất trong màng hào quang rực rỡ. Hai thanh trường kiếm chạm nhau chan chát, ghê người và rồi ai đó rú lên thảm khốc.

Quần hùng chết lặng khi thấy Xoa Lạp cốc chủ tung mình rời xa đối thù, bình thản tra gươm vào vỏ. Còn Kỳ Phong chân nhân từ từ ngã quỵ, mắt nhắm nghiền và hai tay ôm lấy vết thương, đẫm máu nơi ngực trái, kiếm của ông đã văng ra tận mép lôi đài.

Hội đồng Võ lâm, đau lòng khôn siết và càng thêm khiếp sợ “Phong Đô thần chưởng”. Tùng Xuân Tử Chưởng môn nhân phái Toàn Chân đã rời bàn giám khảo đến quỳ bên xác sư thúc, lâm râm khấn khứa mà lệ nhỏ hai hàng.

Năm vị tôn sư còn lại rì rầm bàn bạc cố tìm hiểu xem, Kỳ Phong chân nhân vì sao đột nhiên lại mất hết công lực, trong khi trước đó chưa hề trạm phải dư phong của độc chưởng? Họ ngồi ngay trên lôi đài nên thấy rất rõ.

Thiên Sư giáo chủ, Huyền Thiên Chân Quân Trương Sách bỗng rùng mình nói nhỏ:

- Bần đạo cảm nhận được mùi vị ma quỷ ở quanh đây. Chẳng lẻ Xoa Lạp cốc chủ lại có thể thi triểm ma pháp giữa bang ngày?

Thi hài của Kỳ Phong chân nhân đã được bọn đạo sĩ phái Toàn Chân đưa xuống dưới, chờ khâm liệm. Tùng Xuân Tử cũng nén lòng trở lại bàn, nét mặt u sầu và ánh mắt tràn đầy nỗi ân hận. Chính ông đã đẩy vị sư thúc thân yêu của mình vào chỗ chết.

Vân Thiên Tử Chưởng môn nhân phái Võ Đương đứng lên tuyên bố Nhạc Tự Chương là người chiến thắng trận thứ hai. Ông nghiêm nghị bảo Xoa Lạp cốc chủ:

- Theo đài quy thì Nhạc cốc chủ phải toàn thắng ít nhất là ba trận. Và trong bảy ngày sau đó, nếu không có cao thủ phương xa nào xuất hiện thượng đài thì thí chủ sẽ được trao danh hiệu đệ nhất cao thủ võ lâm. Hôm nay thí chủ còn một trận nữa hãy điều tức nghỉ ngơi mà chờ đợi.

Nhạc Tự Chương mỉm cười vái tạ rồi ngồi xuống lôi đài, vận khí hành công hồi phục lại chân khí bị hao tổn. Hai luồn khí trắng đục, thập thò nơi lỗ mũi, đã thể hiện một tu vi hơn hoa giáp khiến quần hào thêm ngao ngán.

Mọi người điều cảm nhận rằng “Phong Đô thần chưởng” là vô địch và việc chờ đợi đến bảy ngày thật là vô ích. Tuy thịnh hội thay đổi mục đích khá bất ngờ và toàn võ lâm không được loan tin rộng rãi. Nhưng sự hiện diện của Nam Bắc thiên tôn và Chưởng môn các phái là quá đủ. Và trong số những quần hùng cũng có hàng trăm nhân vật uy danh lừng lẫy, song họ vẫn nín khe chẳng dám thượng đài. vậy thì Nhạc Tự Chương chỉ cần thắng ba trận thì đã xứng đáng đoạt cờ. Nhưng chắc gì đã có kẻ thí mạng cho trận đấu thứ ba?

Giang hồ có chính đạo, thiện ác song song tồn tại và đối lập. Hôm nay phe hắc đạo hiện diện chẳng ít và họ quyết dồn những kẻ mang danh chính phái vào thế kẹt. Họ khôn khéo đẩy đưa, tạo sự đồng tình của dư luận, rồi công khai châm chích năm phái bạch đạo còn lại. Họ tán dương Xoa Lạp cốc chủ cả chê bai võ công tuyệt học Thiếu Lâm, Võ Đương, Hoa Sơn. Thiên Sư giáo và Cái bang chưa hề tỏa sáng về mặt võ học nên không hề bị đụng chạm đến.

Nhưng trong thâm tâm, Trương Thiên Sư và Thất Bổng cũng thầm chua xót chứ chẳng vui gì.

Trước lúc Nhạc Tự Chương xả công, một lão nhân râu ngắn, mặt mày âm hiểm, miệng lưởi sắc bén đã cao giọng hỏi thẳng Trúc Lâm Tử:

- Năm ngoái chính hai phái Toàn Chân và Hoa Sơn đã khởi xướng đại hội này, giờ đây, dám hỏi phái Hoa Sơn đánh hay chuồn? Mong Trúc Lâm đ*o trưởng cho biết cao kiến?

Đám tiểu nhân lập tức hùa theo, cười rộ và buôn lời sỉ nhục:

- Chắc là phái Hoa Sơn đành phải muối mặt co giò, rụt cổ, hát bài tử mã và tự an ủi “tiên bảo kỳ thân”.

Đã lỡ xe dây tự trói Trúc Lâm Tử đành phải cắn răng lãnh lấy hậu quả.

Ông đứng thẳng lên khẳng khái đáp:

- Chư vị đồng đạo cứ yên tâm. Bần đạo sẽ đích thân thượng đài, không để ô danh phái Hoa Sơn.

Ông hối hận vì thói háo danh nông nổi của mình, nên quyết liều chết, chứ không muốn ai liên luỵ.

Quần hùng xôn xao, kẻ thích thú, người lo lắng cho Trúc Lâm Tử.

Lạc Mao chân nhân thì cuốn quýt lên, mặt nhăn như khỉ, miệng lẩm bẩm thành lời:

- Chết thực! chết thực! Gã Trúc Lâm sư điệt này đã quá lậm vì hư danh, không màng đến sinh tử nữa rồi. Con bà nó! Bần đạo đành phải thăng thiên sớm vài năm thôi.

Lão ta đang ngồi ở hàng ghế danh dự rất gần với Tử Khuê. Lạc Mạo liền rời ghế, đi qua trước mặt họ và nhìn chăm chú, như tìm kiếm kẻ để giao phó hậu sự vậy.

Khi ánh mắt chạm phải nụ cười của Ngân Diệu Hầu, Chân nhân thoáng cau mày, song chẳng nói gì và đờ đẫn tiếp tục dấn bước. Lão vừa đi vừa lén bấm tay, dùng phép nhâm độn để giải quyết mối nghi ngờ. Được vài trượng, bỗng lão quay mặt, dừng trước mặt Ngân Diện Hầu, chắp một tay lên ngực rất kính cẩn mà nói:

- Bẩm Hầu gia! Bần đạo đang định thượng đài chết thay cho tên sư điệt ngu ngốc là Trúc Lâm Tử. Nhưng thật lòng thì bần đạo còn rất yêu đời, chưa muốn rời chỗ hồng trần đầy cám dỗ này. Bần đạo chợt phát hiện Hầu nhân gia bản chất phi phàm, võ công quán thế lại có tướng địa thọ, tất sẽ thừa sức đã bại Xoa Lạp cốc chủ. Mong Hầu gia thương xót thân già này mà ra tay kết liễu lão ác ôn kia. Bần đạo không thể chết sớm một cách vô ích vì còn trọng trách do tiên sư giao phó.

Gương mặt mở màng của lão đầy vẻ bi ai, khẩn thiết song đôi mắt lại đảo lộn sùng sục và nháy nhó liên hồi.

Từ phong giận dữ và chữi lớn một tiếng:

- Con bà nó! Lão có chết thì mặc xác, sao lại xúi người khác chết thay?

Những người ngồi gần ấy cũng sững sờ trước lời đề nghị lố bịch và kỳ quái của Lạc Mạo chân nhân. Thiết Đảm Hồng Nhan thọ ơn cứu mạng của Mẫn Hiên nên hốt hoảng lên tiếng can ngăn:

- Xin Hầu gia chớ nghe lời xúi dại của lão ta!

Quách Phu nhân, tức Kỹ nương, cũng nghiêm nghị trách móc Lạc Mạo:

- Sao lão đạo trưởng lại nỡ đẩy chàng trai trẻ này vào chỗ chết như thế?

Phá Sơn Quyền Trần Kiếm Các can gián Ngân Diệu Hầu bằng một lời ngắn gọn:

- Bắc Thiên Chân và trưởng lão Toàn Chân còn chết thảm, liệu Hầu gia chịu được mấy chiêu.

Nào ngờ Ngân Diện Hầu gác ngoài tai những lời can ngăn, diệu giọng hỏi lại Lạc Mạo:

- Chân nhân có chắc rằng, bổn Hầu gia không bị bại bởi “Phong đô chi thần chưởng” chứ?

Lão đạo sĩ béo nhoẻn miệng cười tươi và khẳng định:

- Tất nhiên là thế! “Phong Đô thần chưởng” không hề có độc mà chỉ là tà pháp chẳng thể hại nỗi bậc các nhân thiên tướng như Hầu gia. Mũi tiểu đao trong tay trái của Hầu gia sẽ khống chế được đối phương.

Ngân Diện Hầu an tâm nở nụ cười và hào hứng nói:

- Hay lắm! Thế thì bổn đại gia sẽ đoạt lấy lá cờ võ lâm đại soái để làm rạng danh dòng họ Tiêu.

Anh em họ Từ thất kinh hồn vía, nhất tề quỳ xuống. Từ Vũ khẳng khái nói:

- Nếu Hầu gia liều lĩnh thượng đài thì bọn nô tài sẽ đâm cổ tự tử ngay.

Dứt lời họ rút kiếm kề vào cổ mình, ánh mắt rất kiên quyết. Tử Khuê hiểu rằng hai gã này đã nói là làm. Chàng bối rối bảo Lạc Mạo chân nhân:

- Tại hạ không thể vì đạo trưởng mà hi sinh hai thuộc hạ chân thành. Hay là đạo trưởng cứ bất ngờ điểm huyệt Trúc Lâm Tử, khiến lão ta chẳng thể loạn động mà chết oan.

Lạc Mạo chân nhân ngớ người vì ý kiến tuyệt dịêu này. Ông mừng rỡ phát mạnh vào vai Tiêu Mẫn Hiên và cười ho hố:

- Con bà nó! Tiểu tử ngươi ngày càng thông tuệ, có thế mà bần đạo nghĩ không ra.

Đông nhạc Tiền Đồ Dịch Thái Vân tâm cơ sắc sảo linh mẫn phi thường.

Nàng phát hiện ngay ẩn tìng trong câu nói của Lạc Mạo, bèn hỏi lại Mẫn Hiên:

- Phải chăng trước đây thiếu gia từng quen biết qua lão đạo sĩ ấy?

Tử Khuê ngại nhất ả vợ hai nhãn lực sắc bén này, chẳng dám nhìn thẳng vào mặt Tái Vân hoặc cười cợt, chàng giã vờ lạnh lùng đáp:

- Bổn nhân thân phận cao quý, sao lại có thể hạ mình kết giao với một lão già rách như sơ mướp?

Nữ Hầu tước Trần Thiên Kim nghe giọng khinh bạc của Ngân Diện Hầu thì lòng không vui, hùa vào bắt nọn gã:

- Nếu chưa từng quen biết sao Tiêu gia lại dễ dàng nghe lời phỉnh nịnh của Lạc Mạo mà lao đầu vào chỗ chết như thế?

Tử Khuê không sợ đối mặt với cô nàng một ngựa nên quay sang nhìn Thiên Kim đắm đuối và nói bỡn:

- Bổn nhân không hề bị ai dụ dỗ, chẳng qua Tiêu mỗ chỉ muốn trổ chút tài mọn để Hoàng Phong Hầu thưởng lãm đấy thôi.

Ánh mắt tình tứ, nồng nàng và đầy quyến rũ, đã làm Trình Thiên Kim phải thẹn đỏ mặt. Nhưng Ngân Diện Hầu là người ơn, nàng không tiện phát tác, bèn ngượng ngùng ngồi im.

Tử Khuê khoan khoái, đỡ hai gã Từ lên rồi nói nhỏ:

- Lát nữa nếu ta có thượng đài thì nhị vị đừng ngăn cản mà hai vị hãy theo lên, đứng ở bàn giám khảo, chờ lúc ta ra hiệu thì phóng đao ám toán lão chết toi họ Nhạc. Giả như thành công, hai vị cứ đào tẩu vào khu tùng dưới chân núi, trở về Hầu phủ, mọi việc ở đây đã có ta cáng đáng.

Nghe chủ nhân bàn kế hoạch rất táo bạo và chu đáo, hai gã sát thủ chuyên nghiệp phấn khởi đáp:

- Hầu gia cứ yên tâm, ám giát là nghề của hai bọn thuộc hạ.

Từ phong thì nói vậy, nhưng Từ Vũ thì cẩn thận hỏi lại:

- Nhưng vì sao Hầu gia lại muốn dính vào vụ này? Giết Xoa Lạp cốc chủ thì có lợi lộc gì?

Tử Khuê cười xoà.

- Ta không ưa cái bản mặt lão ấy nên quyết phá đám một phen, chẳng nghĩ đến danh lợi gì cả.

Anh em họ Từ ngán ngẩm nhìn nhau, cho rằng Mẫn Hiên vẫn còn điên hết chỗ nói. Nhưng chàng đã muốn thế thì họ sẽ chiều ý, không màng đến hậu quả. Dẫu phải đương đầu với Xoa Lạp cốc họ cũng cốc sợ. Bao năm qua, họ phải hàng động lén lút, giờ có dịp công khai tung hoàng, hai gã bỗng thấy trong lòng sục sôi hào khí.

Lúc này Lạc Mạo chân nhân đã hạ thủ xong Trúc Lâm Tử và cười hì hì bảo cử tọa:

- Chư vị dạy rất phải, phương châm của đạo gia là “Tiên bảo kỳ trân” và xem danh lợi tựa phù vân. Do đó, phái Hoa Sơn tự lượng sức mà rút lui, không tỷ thí với Nhạc cốc chủ nữa.

Quần hùng ngỡ ngàng, kẻ thông cảm người bực bội, giận dữ chửi rủa Hoa Sơn tơi bời. Lạc Mạo chân nhân chịu hết nỗi phùng mang nói lớn:

- Câm ngay!

Tiếng hết của lão vang rền, tựa như sấm sét, khiến cử tọa đinh tai nhứt óc, giật bắn cả mình.

Lạc Mạo trợn mắt hăm dọa:

- Con bà nó! Kẻ nào còn mở miệng thóa mạ phái Hoa Sơn thì lão phu bẻ răng ngay.

Công lực của Chân nhân đã cứu vãn được thanh danh phái Hoa Sơn. Nhất là khi Chân nhân quay sang nói với Xoa Lạp cốc chủ:

- Này Nhạc thí chủ, nếu ông hứa không dùng đến “Phong Đô thần chưởng”, bần đạo cam đoan có thể thắng trong vòng trăm chiêu, thí chủ có dám cá không.?

Quần hùng phấn khởi, đốc thúc Nhạc Tự Chương nhận lời. Nhưng họ Nhạc chẳng dại gì mạo hiểm khi đã gần như nắm chắc danh hiệu đệ nhất võ lâm cao thủ. Lão thản nhiên đáp:

- Lão phu không thể bỏ sở trường dùng sở đoản được. Mong Chân nhân lượng thứ cho.

Lạc Mạo cười khà khà gật gù bảo:

- Nhạc thí chủ quả là người thức thời, biết lẽ tiến thoái.

Rồi ông chậm rãi rút kiếm tự múa may một mình, càng lúc càng nhanh.

Cuối cùng xung quanh Chân nhân xuất hiện một màng kiếm quang sang lóng lánh, cực kỳ đẹp mắt. Và bất ngờ trái cầu thép bằng bạc ấy bốc lên, bay về phía cột gỗ góc Đông Nam của lội đài. Bụi và dậm gỗ bay mù mịt khi luồng kiếm quang bay lượng quanh cột gỗ tùng.

Lác sau, kiếm ảnh tắt liện, Lạc Mạo hạ thân xuống sàn lôi đài trong tiếng hoan hô, ca tụng của cử toạ. Thì ra giờ đây, đoạn lưng chừng thân cột tròn bị gọt thành bốn cạnh vuông vức, phẳng phiu. Thuật ngự kiếm của Lạc Mạo chân nhân đã đến mức thượng thừa.

Lạc Mạo quay sang bảo Xoa Lạp cốc chủ:

- Bần đạo có thể dùng chiêu kiếm ấy để đổi mạng với thí chủ. Nhưng bần đạo phải để dành tấm thân còm cõi này cho cái gã Ma Vương xắp xuất đầu lộ diện.

Ông dừng lời cười nhạt rồi tủm tỉm nói tiếp:

- Không chừng chính thí chủ sẽ là nạn nhân đầu tiên của Ma Vương ấy đấy.

Nói xong Lạc Mạo chân nhân tới bàn giám khảo, vác thân xác bất động của Trúc Lâm Tử, phi thân lên núi Thiếu Thất.

Ở đây Mạc Tự Chương lộ nét đăm chiêu, cho rằng lão đạo sĩ bản lãnh thông thần kia chẳng dối gạt mình. Ông tự hỏi rằng, ngoài Lôi Đình cung chủ Tác Ngạn Chi thì còn cao thủ kỳ tài nào xứng với hai chữ “Ma Vương” nữa?

Nhưng Nhạc cốc chủ chợt nhớ tới oai lực vô song của “Phong Đô thần chưởng”, dẫu phải đối phó với Lôi Đình Đế Quân vẫn không ngần ngại.

Lão vui mừng mơ tưởng đến ngày đăng ngôi Minh chủ võ lâm. Đấy mới là mục tiêu cuối cùng của Nhạc Tự Chương. Với lão danh vị võ lâm đệ nhất cao thủ chỉ là hư ảo, thuận tay thì đoạt lấy, nhân tiện vương danh cho thỏa chí bình sinh.

Lúc này, Nhạc Tự Chương hơi mất mặt so với lão đạo sĩ quái dị phái Hoa Sơn, giờ cũng muốn gỡ lại chút oai danh nên cao giọng hỏi Hội đồng Võ lâm:

- Dám hỏi ngũ vị! Đến chiều mà không có ứng viên lên để lão phu đáng trận thứ ba thì thế nào?

Chắc đã chán cảnh ngồi trơ như phổng mà chịu nhục Hội đồng Võ lâm đã có chủ ý. Vân Thiên Tử đại diện phúc đáp:

- Nhạc thí chủ cứ nhẫn nại thêm ít phút nữa. Nếu đến hết giờ thân mà vẫn không ai thượng đài thì xem như thí chủ vẫn thắng hết ba trận.

Nhạc Tự Chương hài lòng, vái tạ. Rồi ung dung đứng chấp tay sau đít, thần thái an nhiên tự tại. Dung mạo Tự Chương rất thanh tú, đoan chính, đáng mặt tôn sư. Nhưng lão cũng có một khuyết điểm nho nhỏ. Bị đôi nhãn thần của Thiết Đảm Hồng Nhan xoi mói. Phát hiện.

Tống Thụy câu mày nói với Trình Thiên Kim:

- Đại sư tẩu! Sao cái miệng họ Nhạc kia cứ nhóp nhép chẳng thôi, tựa như đang tụng kinh hay nhai kẹo vậy? Thực là khó coi.

Nữ Hầu tước gật đầu táng thành:

- Lúc giao đấu lão ta cũng không bỏ được tật xấu ấy. Có lẽ đấy là nét phá cách trong tướng mạo của Nhạc Tự Chương.

Dịch Tái Vân ứng tiếng:

- Theo thiển ý của tiểu mụi thì Xoa Lạp cốc chủ niệm bùa chú. Vì “Phong Đô chưởng lực” là tà pháp đúng như lời Lạc Mạo chân nhân nói.

Tử Khuê nghe xong câu nhận xét của Tái Vân thì bất giác rùng mình, liên tưởng đến “Diêm Vương quỷ kỳ’. Chỉ có cây cờ khủng khiếp ấy mới có thể làm mê man lập tức hai đại cao thủ có tu vi thâm hậu như Bắc Thiên Tôn và Kỳ Phong chân nhân. Còn việc Tự Chương hay máy môi, nhép miệng là để che giấu hành vi niện chú khi hạ thủ.

Hơn nữa dường như tay áo rộng của Xoa Lạp cốc chủ kém mềm mại, dù may bằng loại gấm quý. Thường thì khi người ta giơ cao cánh tay, lớp gấm lùng thùng ấy sẽ tụt xuống để lộ một cẳng tay. Đằng này, mép cánh tay áo lúc nào cũng bám chặt cổ tay, không hề di chuyển. Vậy phải chăng cán cờ được rút ngắn, buộc chặc vào cẳng tay trái còn lá cờ khâu trải bên trong tay áo? Nên khi Nhạc Tự Chương xuất chưởng thì cũng đồng nghĩa với việc phất cờ trong lúc miệng đọc câu thần chú?
Và nếu đúng thế thì chính Xoa Lạp cốc chủ đã hại mạng Trác Thanh Chân mà đoạt linh kỳ.

Nhưng đấy chỉ là điều phỏng đoán, không bằng cớ sát thực nên Tử Khuê cứ phân vân mãi. Chàng bồi hồi thương nhớ Trác Thanh Chân, lòng nặng trĩu ưu tư.

Thời gian chờ đợi là thời gian chết và cũng là nỗi khổ mà chẳng ai muốn gánh chịu. Cử tọa bứt rứt không yên, luôn miệng nguyền rủa cái đại hội chết tiệt, nhạt nhẻo, vô vị này. Bọn ác tâm bắt đầu ló mòi, hướng sự bực bội của quần hùng vào hai phái Thiếu Lâm và Võ Đương.

Khi dư luận đã chín mùi, lão già râu ngắn, áo đen lúc nãy đứng lên khiêu khích:

- Mấy trăm năm nay, Thiếu Lâm và Võ Đương được ca tụng là thái sơn bắc đẩu, oai trấn võ lâm. Đạt Ma tổ sư cũng đượt đời tôn xưng là võ lâm đệ nhất cao thủ. Vậy mà hôm nay, tăng đạo, lưởng đạo phái tỏ vẻ khiếp nhược trước “Phong Đô thần chưởng”, khiến đồng đạo giang hồ rất thất vọng. Nếu chư vị không có dũng khí để chiến đấu và hi sinh như phái Toàn Chân thì sau này đừng mở trường dạy võ nữa.

Lập luận của hắc y lão nhân rất hữu lý và sắc bénnên được cử tọa tán đồng. Người giang hồ rất coi trọng dũng khí và thanh danh. Khi một kẻ đã tận lực chiến đấu mà thua hoặc tử trận thì vẫn bảo vệ được danh dự. Nay Thiếu Lâm và Võ Đương không dám đương đầu với cường địch thì còn mặt mũi nào mà dạy dỗ ai được nữa.

Vân Thiên Tử và Đại Giác thiền sư đều biến sắc vì hổ thẹn, đệ tử hai phái cũng cúi đầu.

Phương trượng chùa Thiếu Lâm quyền lực cao siêu, thức ngộ ngay đây là quả báo của môn phái. Tu hành mà nổi tiếng trong làng võ là tự tạo nghiệp chướng.

Đại Giác thiền sư thanh thản đứng lên, hiền hòa phát biểu:

- A di đà phật, tôn chỉ truyền tông của bổn tự là dùng việc dạy võ để hoằng dương phật pháp. Nào ngờ cách làm ấy lại vô tình tạo nên thanh danh và gắn chặt Thiếu Lâm tự với giang hồ, có muốn thoát ra cũng chẳng được. Đã gieo nhân thì phải gặp quả. Lão nạp hoan hỉ xin thỉnh giáo Nhạc thí chủ vài chiêu.

Pháp tướng trang nghiêm và lời giãi bày chứa đựng thiền cơ của Đại giác đã khiến mọi người tôn kính. Họ bỗng cảm thấy đẩy vị cao tăng đạo hạnh này vào chỗ chết là điều tội lỗi.

Còn hơn ngàn tăng lữ Thiếu Lâm đang làm nhiệm vụ tuần phòng thì ứa nước mắt niệm phật hiệu, vì biết Phương trượng của mình sắp nhập Niết bàn một cách bất đắc dĩ.

May thay đúng lúc ấy, Lạc Mạo chân nhân quay lại lôi đài, cười khanh khách bảo:

- Thiền sư khoan hãy xuất thủ, bần đạo đã bấm độn, biết rằng một đại cao thủ, võ công tuyệt thế đang ở quanh đây. Bản lãng người này thứa sức khắc chế “Phong Đô thần chưởng”.

Rồi ông hạ giọng thì thầm với Hội đồng Võ lâm. Vân Thiên Tử đứng lên nói với Nhạc Tự Chương:

- Nhạc thí chủ hãy cùng thét lên ba lần câu “ta ở đây”. Sau đó dẫu bậc kỳ nhân kia không xuất hiện thí chủ vẫn được trao danh hiệu võ lâm đệ nhất cao thủ, không phải chờ bảy ngày nữa.

Diễn biến bất ngờ và kỳ lạ ấy đã làm cho Xoa Lạp cốc chủ và quần hào kinh ngạc, hoang man. Chuyện này sao mà giống tích khổng minh lưu diệu kế chém Ngụy Diên thế nhỉ?

Toàn trường hào hứng đoán mò xem ai sẽ là đối thủ xứng tay với Nhạc Tự Chương? Và tại sao người ấy lại chờ câu mời gọi của họ nhạc thì mới đến.

Sự tò mò tột độ bao trùm khắp toàn trường, và mọi người nóng ruột đốc thúc Xoa Lạp cốc chủ.

Nhạc Tự Chương thầm cân nhắc:

- Chắc lão mũi trâu Lạc Mạo bày trò rung cây nhác khỉ? Nay sau lưng ta chẳng có ai thì sao sợ hãi bị ám toán? Còn gã cao thủ chết tiệt nào đó thì dẫu là ai thì cũng không đáng ngại.

Nghĩ thế nên Xoa Lạp cốc chủ yên tâm, ra vẻ tự nhiên, chấp thuận đề nghị của ban giám đài. Cũng muốn ra oai thị chấn như Lạc Mạo chân nhân, nên Nhạc Tự Chương dồn hết công lực mà gọi thật lớn, âm thanh vang rền, vọng xa hàng dậm:

- Lão phu ở đấy Xoa Lạp cốc chủ, liền gọi ba lần như thế rồi đứng yên chờ đợi, quần hào thì dáo dác quan sát bốn hướng, xem có ai chạy đến không?

Kỳ diệu thay chỉ lát sau, từ bìa cánh rừng tùng, phía đông chân núi thiếu Thất có một bóng người lao vút đi như gió thoảng, hướng về nơi quần hùng tụ họp. Ai nấy tròn mắt kinh ngạc trước tốc độ phi thân nhanh tựa tên bay của người ấy. Họ thầm cao hứng đoán rằng đó là một bậc kỳ nhân cái thế cỡ Trung Thiên Tôn chẳng hạn.

Để tiện việc tuần tra, giữ gìn cho thịnh hội, phái Thiếu Lâm đã chia mảnh đất rộng phía trước và hai bên, thành những khoảnh nhỏ mà dài. Những khoảng ấy tựa những cánh hoa đồng qui về nhị là lôi đài. Được phân cách bằng những con đường rộng một trượng. Các tăng lữ sẽ liên tục qua lại giữa các nhóm người để tuần phòng.

Cho nên giờ đây, nhân vật lạ mặt kia có thể vượt qua đám đông, nhảy thẳng lên lôi đài.

Ai đó bật cười rồi tất cả cười theo, cười ngặt nghẽo, cười lăn cười lóc. Té ra bậc kỳ nhân cái thế nọ, là một con bé mặt còn non choẹt, tuổi tác chắc chỉ độ mười bốn, mười lăm. Mái tóc bù xù, buông xoã, y phục cũ kỹ, rách thủng tứ tung, lòi cả da thịt, nhưng mặt nàng ta trắng trẻo, thanh tú và xinh đẹp. Tiếc thay, góc chéo nàng lại có một vết thẹo khá lớn. Nó có màu đỏ hồng và lõm vào, chứng tỏ thương thế rất nặng và bị chừng vài tháng.

Kẻ bị đâm thủng trán thì khó mà tỉnh táo, nên trên đầu và quanh cổ nạn nhân có hai tràng hoa rừng sặc sỡ. Bằng chứng hiển nhiên nhất cho sự điên loạn là ả ta ôm bụng cười rũ rượi.

Thực ra cũng có người không cười nổi. Đó là Hội đồng Võ lâm và bọn Tử Khuê.

Thiết Đảm Hồng Nhan đã khẽ rú lên:

- Trác Thanh Chân!

Vô Tướng Quỷ Hồ Dịch Quan San cũng xác nhận:

- Đúng là nàng ấy rồi. Nhưng xem bộ dạng thì Chân muội phát cuồng, thật sự chứ không giả vờ như lần trước.

Quách phu nhân, Băng Tâm Ma Nữ Kỹ Thanh Lam thì nghĩ đến việc khác. Bà chết cả cỗi lòng khi thấy Thanh Chân xuất hiện một mình không có Tử Khuê. Vết thương trên trán Thanh Chân chứng tỏ rằng nàng đã từng bị ngộ nạng và không chừng khi ấy có cả Tử Khuê đồng hành.

Tiếng cười đã tắt lịm vì Vân Tiên Tử đã lên tiếng bảo Thanh Chân:

- Phiền nữ thí chủ hạ đài. Đây là nơi tỷ thí võ tranh tài dành danh hiệu đệ nhất võ lâm cao thủ.

Thanh Chân ngơ ngác hỏi lại:

- Ủa! thế lúc nãy ta đang tắm dưới suối thì ai đã gọi?

Vân Tiên Tử rầu rĩ liếc Lạc Mạo chân nhân với vẽ trách móc rồi đáp lời Thanh Chân:

- Câu ấy do Nhạc thí chủ kia phát ra, song không phải là gọi cô nương.

Nhìn theo hướng tay chỉ của Vân Thiên Tử, Thanh Chân mới thấy Xoa Lạp cốc chủ. Nãy giờ, nàng bận cười tít mắt, chẳng quan sát được hết lôi đài.

Thanh Chân mừng rỡ, hoán vị nhanh như chớp, vượt qua Vân Tiên Tử mà đến đối diện với Nhạc Tự Chương.

- Lão mắc toi kia, bảo vật của chồng ta đâu, trả lại đây ngay!

Nhạc Tự Chương bình thản đáp:

- Lão phu chưa hế gặp cô nương và cũng không hề đoạt vật gì cả.

Hội đồng Võ lâm đã nhận ra Trác Thanh Chân, hiểu rằng có thể chính Nhạc Tự Chương đả thương nàng để đoạt cán cờ Diêm vương. Vân Tiên Tử cố nén cơn giận từ tốn dọ hỏi Thanh Chân, tìm bằng cớ vạch mặt họ Nhạc:

- Này nữ thí chủ! Chẳng hay bảo vật ấy là chi, hình dáng thế nào?

Trác Thanh Chân ngẩn người suy nghĩ và ấp úng đáp:

- Ta không thể nhớ nổi nó tên gì? Còn về hình dáng, thì nó dài cỡ gang tay, thân tròn tròn, đầu nhọn nhọn.

Nàng vừa nói, vừa dùng hay bàn tay, diễn tả trông rất sinh động, khổ thay một gã chết tiệt nào đó đã rú lên:

- Phải rồi! cái của quý ấy đang nằm trong đũng quần của lão họ Nhạc Câu nói đùa chết người ấy đã làm cho bọn đàn ông thô lỗ cười hô hố khoái chí. Tiếng cười càng lớn thì Trác Thanh Chân tưởng thật quát tháo Nhạc Tự Chương:

- Té ra lão dấu trong đũng quần, mau lấy ra trả lại cho ta.

Lần này ập đến vỗ liền hai chưởng lôi đình. Đương nhiên Nhạc cốc chủ cũng cử song thủ, chống đỡ bằng “Phong Đô thần chưởng”.

Bốn đạo chưởng kình chạm nhau nổ van rền, trong sự kinh hãi của mọi người. Họ đinh ninh rằng Thanh Chân khó sống sót. Sự việc diễn biến quá nhanh và bất ngờ nên không ai kịp can thiệp. Tử Khuê là kẻ đau sót nhất, chết điếng cả người.

Chàng định nhảy lên lôi đài, liều mạng với Nhạc Tự Chương để báo thù cho Thanh Chân thì nghe Lạc Mạo chân nhân cao giọng nhắc nhở bâng quơ:

- Chớ can thiệp vào ả không sao đâu!

Tử Khuê rất tin tưởng vào LẠc Mạo. Bằng hữu chí thân của ân sư, nên cố nén lòng không vọng động. Việc lão nhận ra chàng đã chứng tỏ bản lĩnh thông thần của bậc địa tiên.

Quả nhiên Trác Thanh Chân đã bình an, tiếp tục tấn công như vũ bão, công lực nàng không bằng đối phương nhưng thân pháp thì linh diệu hơn hẳn.

Pho kinh công “Tiên Nữ Tùy Phong” xứng với hai chữ vô song, nhanh nhẹn và huyền ảo tuyệt luân. Xem ra Hoành Sơn Tiên Nữ đúng là bậc kỳ nhân trăm năm mới có một.

Thân hình Thanh Chân bay lượn nhẹ nhàn như cánh én, đẹp mắt vô song, khiến quần hùng ngưỡng mộ vỗ tay khen mãi. Họ còn phục sát đất khi ả điên kia không hề sợ “Phong Đô thần chưởng” và đồng thời cũng thắc mắc vì sao.

Chỉ có đàn bà mới hiểu được nhau, Dịch Tái Vân tủm tỉm cười nói nhỏ với mẹ chồng:

- Mẫu thân! Té ra Chân muội đang thời kỳ kinh nguyệt nên không sợ tà pháp.

Chẳng thể sai được vì trong suốt mấy ngàn năm qua, người Trung Hoa cho rằng ma quỷ ngán nhất mấy cái thứ ô uế ấy.

Dẫu đang nẩu ruột, Kỹ nương cũng phải bậc cười:

- Vân nhi quả là tinh ranh, quỷ quyệt. Việc ấy mà ngươi cũng đoán ra.

Trên lôi đài, Thanh Chân ra sức tấn công, chiếm được chút thượng phong vì chiêu thức của “Lôi Đình chưởng pháp” ảo diệu hơn “Phong Đô thần chưởng”. Nàng đã đẩy Nhạc Tự Chương vào thế thủ, chứ không phản kích được.

Tử Khuê rất vui khi thấy thê thiếp có bản lãnh cao siêu như vậy. Nhưng chàn cũng hiểu rằng Thanh Chân kém tu vi hơn, cuộc đấu kéo dài, nàng sẽ thảm bại dưới tay Xoa Lạp cốc chủ.

Hiện giờ, tuy bị lép vế nhưng Nhạc Tự Chương vẫn an nhiên phòng thủ, thực hiện đấu pháp dĩ tịnh chế động. Lão ung dung vũ lộng đôi tay, xạ ra nhưng chưởng phong mãnh liệt, đánh bật mọi đòn tấn công của đối phương.

Nhạc cốc chủ cũng đã đoán ra lý do, khiến “Phong Đô thần chưởng” mất đi tà lực. Lão càng yên tâm phòng ngự vì biết ả điên đang giai đoạn khó ở, rất mau kiệt sức.

Nhưng lão lại phát hiện Ngân Diện Hầu đã thượng đài, đứng cạnh bàn giám khảo mà trò chuyện với Vân Thiên Tử, trong tay lăm lăm mũi tiểu đao bằng bạc sáng loáng đầy vẻ hăm dọa, sau lưng lão còn có hai gã thị vệ, mặt mũi lầm lì, lạnh lẽo.

Nhạc Tự Chương đã biết việc Tiểu Hầu gia Tiêu Mẫn Hiên phóng phi tiêu ám toán Âu Dương Mẫn ở Đăng Phong, nên lòng không khỏi run sợ. Gã này tuổi trẻ lại thêm có tước hầu hộ mạng, hành động nóng nảy khó mà đoán trước. Biết đâu Mẫn Hiên ám hại lão rồi khép tội với đồng đãng Huyết Mai hội chủ Điền Sĩ Lệ? Quả đúng là Nhạc Cuồng Loan con trai lão đã có một thời gian liên kết với trọng phạm.

Sự sợ hãi đã làm Nhạc Tự Chương phân tâm. Lão cứ phải liếc chừng Ngân Diện Hầu nên lộ sơ hở, trúng một chưởng của Trác Thanh Chân vào ngực phải. Quần hùng mừng rỡ reo hò khi thấy họ Nhạc bị ăn đòn, thân hình lảo đảo.

Nhưng thực ra Nhạc cốc chủ chỉ bị thương nhẹ, nhờ lớp cương khí hộ thân dày đặc. Hơn hoa giáp công lực là kết quả của vài chục năm rèn luyện và kỳ trân dị dược đất Liêu Đông. Nếu lão không chia sẽ phần lớn dược lực cho con trai yêu là Nhạc Cuồng Loan thì tu vi còn thâm hậu hơn nhiều.

Nhạc Tự Chương cắn răng chịu đựng nỗi đau đớn, vỗ liền tám chưởng liên hoàng vây khốn kẻ địch. Song Thanh Chân xoay trở cực kỳ mau lẹ thoát khỏi lưới chưởng trong gang tất, hoán vị sang mé tả và xạ hai chưởng vào thân đối phương.

Nhạc Tự Chương bắt buộc phải xoay theo để đối phó, rơi vào thế, đưa lưng làm bia cho Ngân Diện Hầu. Lão lại thấy thấp thỏm lo sợ, mắt láo liên liếc ngược, lập tức bị Thanh Chân quạt xéo một chưởng vào đùi tả đau thấu trời.

Biết không thể chiến đấu trong hoàn cảnh hị đe dọa sau lưng, Nhạc Tự Chương quát vang như sấm:

- Dừng tay!

Thanh Chân dễ dãi đình thủ, hớn hở bảo:

- Ta không đánh nữa đâu, lão cứ tùy tiện, cởi quần lấy của quý ấy ra hoàn trả.

Đám lục lâm thảo khấu lại được dịp cười vang. Nhạc Tự Chương thì chẳng cười nổi nói mau với Hội đồng Võ lâm:

- Sao chư vị lại để cho Ngân Diện Hầu cầm ám khí uy hiếp tinh thần của lão phu?
Tử Khuê bật cười khanh khách, cướp lời của các Chưởng môn nhân:

- Thì ra nãy giờ các hạ sợ ta ám toán. Lão lầm rồi, bổn Hầu gia chỉ dùng tiểu đao để sửa sang mấy chiếc móng tay thôi. Giờ đã xong ta sẽ cất đao đi.

Chàng bình thản cất mũi “Thất Hưu đao” vào đai da. Nhưng Xoa Lạp cốc chủ, vẫn chưa yên lòng, lạnh lùng bảo:

- Phiền ban giám khảo yêu cầu Ngân Diện Hầu rời khỏi lôi đài ngay.

Lão nói rất hữu lý nên Vân Thiên Tử chẳng thể làm ngơ, bảo Tiêu Mẫn Hiên hạ đài.

Tử Khuê không để Thanh Chân Gặp nguy hiểm nên quyết định tham chiến. Chàng gật đầu với Vân Thiên Tử sau đó vẫy gọi Thanh Chân:

- Mời cô nương dời gót lại đấy Thanh Chân nhanh nhẩu đến ngay, sắc diện rạng rỡ, tỏ vẻ vui thích trước chiếc mặt nạ của Ngân Diện Hầu.

Tử Khuê cố nén xúc động, hiền hòa nói:

- Mong cô nương cho phép tại hạ thay mặt đấu với lão họ Nhạc và đòi lại vật báu.

Thanh Chân vui vẻ đồng ý ngay:

- Thế thì hay lắm, ta đang mệt muốn đứt hơi, có đánh nữa cũng chẳng thể thắng lão ta.

Nàng đưa tay sờ chuôi kiếm đeo nơi hông Tử Khuê rồi cười khúc khích:

- Ngươi cứ rạch nát quần của lão ấy tất vật ấy sẽ rơi ra ngay.

Lúc này Thiết Đảm Hồng Nhan đã nhảy lên lôi đài, đến bên Thanh Chân và ngẹn ngào hỏi:

- Sư tẩu có nhớ tiểu muội là ai không?

Thanh Chân lắc đầu:

- Trông cô nương cũng nét quen quen, song ta không thể nào nhớ ra.

Tống Thụy cười buồn nắm tay Thanh Chân lôi đi.

Ở đây Ngân Diện Hầu dõng dạc nói với bang giám khảo:

- Này lục vị, bổn nhân muốn so tài với Nhạc cốc chủ, xem ai xứng với danh hiệu võ lâm đệ nhất cao thủ.

Lạc Mạo chân nhân thế chỗ Trúc Lâm Tử, ban giám đài vẫn đủ sáu người. Vân Thiên Tử đả gặp được ám hiệu của Lạc Mạo chân nhân nên chấp thuận liền.

Ông còn nghiên nghị bảo Nhạc Tự Chương:

- Theo lời tố cáo của vị tiểu cô nương họ Trác. Hội đồng Võ lâm nghi ngờ thí chủ giấu “Diên vương Quỷ kỳ” trong tay áo. Cho nên trước khi đấu với Ngân Diện Hầu, phiền thí chủ vén ống tay áo lên để kiểm tra.

Quần hào giật mình, chú mục nhìn lên lội đài, chú mục theo dõi sự tình.

Xoa Lạp cốc chủ chẳng chút bối rối, cười nhạt đáp:

- Chư vị chớ tin lời ả điên khùng ấy, lão phu hoàn toàn trong sạch.

Dứt lời lão lần lượt giơ cao hai cánh tay, kéo ống tay áo xuống. Đúng là chẳng có lá cờ hay cán cờ nào trong ấy cả. Mặt trong của ống tay áo chỉ là lớp lụa trắng tinh, không chữ lẫn nét bùa chú.

Tử Khuê hổ thẹn vì chính chàng đã yêu cầu Hội đồng Võ lâm tra xét Nhạc Tự Chương. Nay không tìm thấy “Diêm Vương quỷ kỳ”, chứng tỏ Nhạc Tự Chương chẳng hề hãm hại Thanh Chân, Tử Khuê bất tất phải liều mạng nữa.

Trong lúc Vân Thiên Tử nói lời tạ lỗi Xoa Lạp cốc chủ, Tử Khuê nhìn Lạc Mạo chân nhân để hỏi ý. Và lão đạo sĩ thần thông quảng đại ấy cũng lắc đầu, bảo chàng bãi chiến. Tử Khuê suy nghĩ rất nhanh, cố tìm ra cách rút lui ổn thỏa.

Chàng ngạo nghễ nói với Nhạc Tự Chương:

- Bổn Hầu gia thân phận cao cả, chẳng tiện xuất thủ nhiều. Cho nên ta sẽ thi triển tuyệt học “Thiểm Điện thiên đao” để so tài cao hạ. Nếu lão tránh được mũi “Thất Hưu đao” này thì bổn Hầu gia nhận bại.

Tuy không thực sự hài lòng vì trận đấu sẽ diễn ra rất ngắn, song quần hùng cũng tò mò muốn thưởng thức tuyệt học tổ truyền của nhà họ Tiêu. Chắc là nó rất lợi hại nên mới giết được Bang chủ cao thủ như Huyết Mai hội chủ Điền Sĩ Lệ.

Trong lịch sử võ lâm chưa cao thủ nào dùng ám khí mà trở thành võ lâm cao thủ cả. Trừ phi ám toán sau lưng, còn lúc giao đấu trực diện thì ám khí mất hẳn tác dụng, bởi người ta sẽ dễ dàng né tránh hoặc ngăn cản bằng vũ khí.

Xoa Lạp cốc chủ không muốn bị khép tội giết bậc quý nhân của triều đình nên đồng ý ngay. Lão cũng hiểu rằng Ngân Diện Hầu, đầu voi đuôi chuột, đang tìm cách rút lui trong danh dự.

Vân Thiên Tử ngầm khen Tiêu Mẫn Hiên, vui vẻ tuyên bố:

- Trận thứ ba bắt đầu, nếu Nhạc thí chủ tránh được mũi đao của Ngân Diện Hầu sẽ lập tức trở thành võ lâm cao thủ đệ nhất.

Để kết thúc một đại hội, và miễn cho Thiếu Lâm tự một trận đến mười phần chết đủ mười, Bang chủ Cái bang mau mắn mở hộp gỗ trên bàn, lấy ra lá cờ danh dự.

Trên nền tấm lụa đỏ hình vuông bằng nửa tấm chiếu, thêu bốn chữ “Võ lâm đại soái” bằng chỉ vàng tinh sảo và đẹp mắt, mặt kia là hai câu đối chỉ đen:

“Kiếm trấn tam sơn xưng đệ nhất Quyền danh tứ hải thị vô song”.

Hai gã tiểu tăng hầu trà đã căng rộng lá soái kỳ, diễu một vòng lôi đài để cử tọa chiêm ngưỡng.

Danh là hư nhưng vật thì rất thực. Ai có được lá cờ ấy mà cắm trước sân, hoặc trên càng xe ngựa thì bội phần vinh hiển, rạng rỡ tông môn.

Tuy chủ ý không phải nhắm vào lá cờ này, song lúc nhìn thấy nó, lòng Xoa Lạp cốc chủ cũng hồi hộp, ngây ngất.

Lão có thể tự hào vì những bậc hiền nhân như Vương Tùng Dương, Trương Tam Phong cũng chỉ được mấy lời ca tụng xuông chứ không có cờ xí làm bằng chứng.

Nhạc Tự Chương cố nén nỗi hân hoan, rút kiếm thủ thế rồi bảo đối thủ:

- Lão phu nóng lòng muốn được thỉnh giáo tuyệt kỹ “Thiểm Điện phi đao” của Hấu gia.

Tử Khuê gật gù, đưa tay phải rút một mũi Thất Hưu đao. Chàng giả đò nghiêm trang đứng yên như tượng gỗ, mắt nhắm hờ, tay tả bắt kiếm ấn, tiểu đao dựng trước ngực.

Phi đao luôn có cán nặn hơn lưỡi, khi phóng người ta cầm ngược, bàn tay giữ lấy phần lưỡi. Chính những ngón tay sẽ điều chỉnh đường bay của tiểu đao, tùy theo mục tiêu xa hay gần. Nhưng những đại cao thủ như Tử Khuê thì có thể cầm đao, theo cách nào cũng được Giờ đây việc ấy chẳng quan trọng vì chàng biết chắc mũi đao này sẽ vô dụng khi khoản cách giữa đôi bàn tay là hai trượng. Trừ phi Nhạc Tự Chương bị mù mới không đỡ nỗi.

Tử Khuê bất động quá lâu, khiến cử tọa sốt ruột chửi bới um xùm.

- Con bà nó!

Gã kia chưa chửi hết câu thì Tử Khuê đã xuất thủ. Mũi Thất Hưu đao hóa thành chớp bạc, bay đi nhắm vào người Xoa Lạp cốc chủ.

Nhạc Tự Chương nhếch mép mỉm cười và vung kiếm chém thẳng vào mũi ám khí, lão là tay kiếm thượng thừa, đường gươm rất nhanh và chuẩn xác, có thể đâm chết bốn năm con ruồi đang bay cùng một lúc.

Nhưng đột nhiên Xoa Lạp cốc chủ bỗng nghe bên huyệt khúc trì, trên khủy tay hữu nhói mạnh. Huyệt này thuộc Kinh Thử Dương Minh Đại Trường, nên cánh tay của lão lập tức bị co rút tê dại. Dĩ nhiên đường gươm lệch đi không trúng mục tiêu, và ngọn Thất Hưu đao cắm thẳng vào huyệt Vân Môn ở bờ dưới đầu ngoài xương đòn vai trái hắn.

Mũi Thất Hưu đao nhọn tựa đầu kim nên đã xuyên thấu cơ thể và đâm thủng cả xương bả vai sau lưng nạn nhân. Xoa Lạp cốc chủ nghe đau khủng khiếp, rú lên thất thanh trong sự bàng hoàng kinh ngạc.

Ba ngàn hào khách reo hò như sấm dậy trước chiến thắng bất ngờ của Ngân Diện Hầu và họ phục lăn tài phóng phi đao thần sầu quỷ khóc ấy, cho rằng trong thiên hạ không có người tránh khỏi, bất giác có người reo to:

- Ngân Diện Hầu chính là võ lâm cao thủ!

Rất nhiều người nghĩ thế nên đã đồng thanh hô to:

- Võ lâm đệ nhất, võ lâm đệ nhất...

Vết thương trần trọng đã làm Nhạc Tự Chương mất gần hết khí lực, có muốn đánh nữa cũng không thể, miếng mồi đã đến cửa miệng mà còn bị giật mất, lão nhìn gã mang mặt nạ bạc họ Tiêu với ánh mắt căm hờn và nghiến răng nói:

- Tiểu tử giỏi lắm, lão phu hẹn lại ngươi trong đại hội Võ lâm Minh chủ sắp tới.

Ngân Diện Hầu bình thản đáp:

- Tất nhiên là thế nhưng giờ đây lão phải trả lại mũi phi đao cho ta cái đã Nhạc cốc chủ, tận lực rút phăng mũi Thất Hưu đao ra khỏi vết thương quăng xuống sàn lôi đài. Máu phun thành vòi, hai lão hộ pháp của Xoa Lạp cốc chủ đã nhảy lên, dìu hắm xuống đài. Lát sau, phe Xoa Lạp cốc chủ rút sạch.

Trên này Vân Thiên Tử hân hoan bảo quần hào:

- Nếu không vị anh hùng nào thượng đài nữa thì Hội đồng Võ lâm sẽ trao soái kỳ cho Tiêu Hầu gia Tiêu Mẫn Hiên.

Đúng là tỷ thí với Ngân Diện Hầu thì dễ chịu hơn với “Phong Đô thần chưởng”, một thứ công phu, kỳ dị, tà khí. Nhưng không ai dám mạo hiểm đứng trước mũi phi đao. Mẫn Hiên vì sợ ma chưởng nên đứng xa hơn hai trượng. Nếu giờ đây, chúng ta thu ngắn khoảng cách ấy lại thì đối phương tuyệt đối không thể né tránh kịp và cũng chẳng ngăn chặn nổi. Đường gươm của Nhạc Tự Chương đã nhanh tột độ mà vẫn còn thất bại.

Thế là ai nấy điều trở nên thất thời, vui vẻ ủng hộ việc trao danh hiệu đệ nhất cao thủ cho Mẫn Hiên.

Sau khi nhận cờ danh hiệu, Ngân Diện Hầu sang sảng nói:

- Kính cáo chư vị anh hùng! Thật ra không chỉ mình Tiêu mỗ mà mấy trăm gia đinh Hầu phủ cũng đã luyện thành tuyệt kỹ “Thiểm điện phi đao”.

Nay lực lượng đã đủ, Tiêu mỗ quyết định cùng võ lâm giáo ma vệ đạo, phù trì bách tính. Tiêu mổ tuyên bố thành lập Phi Đao Bảo An hội, sẵn sàng bảo vệ tài sản tính mạng của bất cứ người lương thiện nào, trong và ngoài giang hồ. Tuy nhiên bổn hội sẽ lấy một giá phải chăng. Giờ đây Tiêu mỗ xin giới thiệu cùng võ lâm nhưng thủ hạ kiêu dũng của mình.

Anh em họ Từ ngơ ngác như kẻ rơi từ cung trăng xuống, nhưng cũng phải thực thi mệnh lệnh cậu chủ trẻ dở hơi. Từ Phong đưa tay vào miệng huýt một tiếng sáo lanh lảnh ra hiệu cho đồng đảng thượng đài.

Từ trong đám đông cử tọa hai trăm cao thủ Hoạch Đầu hội lũ lượt kéo lên lôi đài, đứng thành hàng ngũ chỉnh tề. Trên môi ai cũng điểm nụ cười ngượng ngập và ánh mắt thì rất kỳ quái. Họ không ngờ rằng có ngày, những kẻ giết thuê, lại trở thành người bảo vệ! Nhưng đẫu sao lòng họ cũng ngây ngất nỗi hân hoan, tự hào khi được quần hùng hoan hô kịch liệt.

Người đã thống lĩnh bọn thần phong kiếm lĩnh đến đây chính là Đường chủ Nội đường Du Vinh kiêm Tổng quản Hầu phủ. Mẫn Hiên liền kéo lão ra và giới thiệu cùng quần hào:

- Kính cáo chư vị! Còn đây là Phó hội chủ của bổn hội, danh tánh Du Vinh.

Chàng mỉm cười rồi nói tiếp:

- Thực ra, bản lĩnh của Du Phó hội chủ còn cao hơn của tại hạ một bậc đấy!

Nghe chàng nói thế quần hùng ồ lên thán phục, nhìn Du lão với ánh mắt ngưỡng mộ. Gương mặt lạnh lùng khó coi của Du Vinh giãn ra, rạng rỡ hẳn lên bởi niềm tự hào. Lão vô cùng khoan khoái, tự nhủ sẽ hết lòng giúp đỡ Mẫn Hiên thay đổi sự nghiệp của Hoạch Đầu hội. Làm anh hùng, hiệp sĩ, bảo vệ lương dân, chắc chắn là vinh quang hơn kiếp đâm thuê chém mướn. Dẫu Lôi Đình Đế Quân không thích cũng không được vì Tiêu Mẫn Hiên vốn là kẻ ngang tàng, tưng tửng, muốn làm gì thì làm ngay, chẳng ai cản nổi.

Du lão trịnh trọng thông báo:

- Kính cao chư vị anh hùng! trong vòng một tháng nữa cơ sở của Phi Đao Bảo An hội sẽ khai trương khắp các địa phương. Những ai cần giao dịch với bổn hội cứ liên lạc với các cơ sở ấy.

Trừ Lạc Mạo chân nhân, không ai biết Mẫn Hiên là Tử Khuê. Nhưng Hội đồng Võ lâm có cảm giác rằng Ngân Diện Hầu chính là chỗ dựa của giang hồ, hơn nữa, Lạc Mạo chân nhân đã hết lời tám dương khiến họ thêm tin tưởng yêu mến chàng.

Các Chưởng môn nhân lần lượt đến nói lời chúc mừng sự ra đời của Phi Đao Bảo An hội. Vinh dự này đã làm cho Du lão và bọn sát thủ rất hãnh diện.

Thất Bổng Cái Thạch Kính Tường còn hứa rằng sẽ hết lòng bảo trợ trong việc cung cấp thông tin, liên lạc cũng như loan báo khắp nơi. Du Vinh tự nhủ rằng sinh ý của mình sẽ rất thịnh vượng, nhờ thế lực của Hầu phủ và uy danh võ lâm cao thủ của Mẫn Hiên. Nay có thêm sự quảng cáo rộng rãi của hàng chục vạn đệ tử cái bang thì công việc sẽ nhiều vô số kể.

Du lão rất có tài kinh doanh, nghĩ ngay đến kế hoạch lâu dài, nhũn nhặn nói với cử toạ:

- Bổn hội quyết chẳng dám ôm đồm làm một mình, nên sau này sẽ mời các anh hùng hảo hán ở địa phương sở tại cùng tham gia. Mong rằng lúc ấy chư vị giúp đỡ cho.

Quần hào phấn khởi, hoan hô hết cỡ và cho rằng Bảo An hội rất biết điều, hiểu câu rừng nào cọp nấy.

Nhưng phe hắc đạo thì chẳng chút hài lòng, vì sự tồn tại của Bảo An hội, đối kháng với những hành vi cướp bóc, tống tiền, sát nhân của họ. Tuy chẳng dám công khai nhận mình là ăn cướp, đám lục lâm cũng cố tìm cách chơi xỏ Bảo An hội.

Một lần nữa lão hắc y râu ngắn, có miệng lưỡi sắc bén lại lên tiếng, lão cười lớn bảo:

- Chẳng lẽ Hầu phủ lại keo kiệt, bủn xỉn chẳng dám bỏ ra vài lượng bạc chiêu đãi đồng đảo võ lâm, mừng ngày khai môn lập hội, và cũng là việc khánh hỉ, Tiểu Hầu gia đoạt cờ đại soái.

Đề nghị ấy rất hợp lý nên được toàn trường ủng hô. Vả lại chiếu đã buông, ai nấy điều đói bụng nếu được no say miễn phí một bữa thì còn gì sướng bằng!

Dẫu thực đơn giản dị cấp mấy thì tổng chi phí chiêu đãi hơn ba ngàn tay bợm nhậu này cũng sẽ lên đến mấy vạn lượng bạch ngân. Tổng quản Du Vinh thầm tính toán mà tiếc đứt ruột, vội dặn dò Mẫn Hiên vì sợ gã nhận lời.

Ngân Diện Hầu gật gù hỏi lại:

- Này Du Tổng quản, cái lão chết tiệt ấy là cao thủ phường nào thế?

Du lão hạ giọng đáp nhanh:

- Lão ấy là Bang chủ Hắc đạo của hai tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến, tên gọi Phó Thái Xung, biệt hiệu Giang Nam Nhất Kiếm, giàu có nhất thành Phúc châu.

Ký ức mẫn tiệp, tuyệt luân của Tử Khuê lập tức cung cấp ngay những dữ kiện liên quan đến đối phương. Hơn hai mươi năm qua, Hoạch Đầu hội đã nhận được hàng ngàn hợp đồng, liên quan đến số người đông gấp đôi, và ít nhất cũng phải có kẻ thuê giết và người bị giết. Có những hợp đồng đã không thực hiện được, song vẫn ghi chép đầy đủ trong quyển Án Lục. Dường như đó là thói quen hoặc thú vui của Tiêu Lạp Dung vậy.

May thay tên của Phó Thái Xung cũng nằm trong ấy. Sáu năm trước có người họ Vương đã mướn Hoạch Đầu hội ám sát Thái Xung đoạt lại bảo vật gia truyền là pho tượng Phật Ngọc Bát Tú Như Lai. Trong vòng trăm năm nay, giang hồ vẫn đồn đại rằng trong pho tượng ấy có giấu tấm tàng bảo dẫn đến kho tàng khổng lồ.

Nhưng trong lúc giá cả chưa thỏa thuận xong thì họ Vương đột quỵ chết toi, hợp đồng không thành. Tiêu Lạp Dân liền hỏi ý kiến Lôi Đình Đế Quân, biết lời đồn là vô căn cứ nên bỏ qua không thèm cướp đoạt nữa.

Nhưng thiên hạ thì vẫn tin tưởng mãnh liệt và sẵn sàng xé xác Giang Nam Nhất Kiếm ra mà tìm pho tượng ngọc. Tử Khuê nắm được thóp Phó Thái Xung, cười ha hả bảo:

- Này Phó lão đầu! ông chính là khách hàng khai trương sanh ý của bổn hội đấy. Hiện giờ trong người tôn giá có một bảo vật liên thành. Bổn Hầu gia mà nói ra tên của vật ấy thì cái mạng nhỏ nhoi của Giang Nam Nhất Kiếm khó mà bảo toàn. Bằng như ông về đến Phúc Châu thì cũng không được một ngày yên ổn và Phó gia trang sớm muộn gì cũng chẳng còn mảng ngói lành.

Vừa nghe nói đến đây thì Phó Thái Xung sợ đến xanh mặt, giả vờ giận dữ quát:

- Sao Hầu gia lại nỡ gắp lửa bỏ tay người, dùng lời giả dối mà đẩy lão phu vào chỗ chết. Phó mỗ chẳng sở hữu bảo vật nào cả!

Lão sợ là phải vì có rất nhiều lão ma đầu lợi hại đang hiện diện chốn này.

Họ không đủ sức so tài với Xoa Lạp cốc chủ, song thứa bản lãnh để lấy mạng Thái Xung. Bất kể việt họ Phó mang theo đến mười thủ hạ.

Tử Khuê biết rằng đòn phủ đầu đã công hiệu, chàng nghiêm nghị nói tiếp:

- Đừng đóng kịch nữa! Bổn nhân biết rõ vật báu ấy trước nay thuộc về họ Vương, bị lão cướp đoạt. Thế đã đủ chưa hay là để ta phải tiết lộ thêm vài điểm hay ho khác nữa.

Phó Thái Xung chết cả cõi lòng, hiểu rằng mình sẽ phải trút sạch hấu bao cho Phi Đao Bảo An hội thì mới mong sống sót đến nhà. Còn sau đó lão hi vọng quan binh thành Phúc Châu sẽ bảo vệ mình.

Giang Nam Nhất Kiếm, cố nén cơn giận, lạnh lùng hỏi Ngân Diện Hầu:

- Được! thế lão gia đòi giá bao nhiêu?

Toàn trường chấn động trước sự thú nhận của phó lão. Họ càng tò mò đến cháy cả ruột gan, muốn biết bảo vật ấy là cái chi chi?

Du Vinh cũng vậy, nóng nảy hỏi nhỏ Tử Khuê:

- Sao Hiên nhi lại biết được bí mật tày đình ấy? Ngươi phải nói ra lai lịch bảo vật thì lão phu mới có cơ sở mà cứa cổ Phó Thái Xung chứ!

Vì vội vã nên lão xưng hô như lúc còn ở Hầu phủ. Tử Khuê cười hì hì khẽ đáp:

- Gia phụ đã để lại một quyển Án Lục, trong đó ghi chép rất nhiều điều thú vị, kể cả việc Phó Thái Xung sở hữu pho tượng ngọc Bát Tú Như Lai.

Thấy Mẫn Hiên rất thành thật với mình, Du lão hài lòng cười bảo:

- Hay lắm, với pho tượng ấy thì chúng ta có thể đòi giá năm ngàn lượng vàng ròng. Lão mắt dịch họ phó này nhân phẩm thấp kém, rất đáng để bị bổn hội lột da.

Tử Khuê gật đầu tán thành, tươi cười phúc đáp nạn nhân:

- Này Phó lão nhi! Do lão chiếm đoạt bảo vật của người khác nên bổn hội bắt buộc phải tính giá cao. Lão không đồng ý cũng không được, vì mạng của lão cộng với bảo vật kia nặng hơn năm ngàn lượng hoàng kim.

Cái giá cắt cổ này đã khiến Giang Nam Nhất Kiếm rụng rời chân tay, tiếc của đến đau cả bụng. Quần hùng cũng phì cười chữi đổng:

- Con bà nó! Phen này lão Phó có mà sạt nghiệp, gia nhập Cái bang.

Nhưng cũng có người tán thưởng:

- Thực đáng đời Phó Thái Xung! Bao năm nay lão bóc lột xương máu của anh em thảo khấu Giang Nam, giờ bị cú này mới biết trời cao có mắt.

Phó Thái Xung cố gắng tự an ủi rằng mình đã giải mã được tám phần của pho tượng ngọc, sắp trở thành người giàu nhất thiên hạ, lão nghiến răng chấp nhận:

- Lão phu đồng ý cái giá năm ngàn lượng vàng, lão phu sẽ đưa trước một ngàn lượng, số còn lại giao nốt ở Phó gia trang Nói xong Giang Nam Nhất Kiếm kéo thủ hạ về phía lôi đài, chính thứ nhờ sự bảo hộ của Bảo An hội. Du Vinh cũng nhảy xuống để tiếp nhận số ngân phiếu ngàn lượng. Xem ra, Phó Thái Xung rất giàu nên mới mang sẵn trong người một số vàng lớn như thế. Thực ra, lão ta định sẽ đi Bắc Kinh hưởng lạc một chuyến, sau khi xem trận đấu giữa Nhạc Cuồng Loan và Hàn Thiếu Lăng.

Trên này Ngân Diện Hầu phấn khởi cao giọng:

- Mời toàn thể đồng đạo võ lâm đang hiện diện chốn này vào thành Đăng Phong dự tiệc chiêu đãi của Hầu phủ!

Rồi chàng thét lớn!

- Không say không phải là hảo hớn!

Câu khẩu hiệu mộc mạc hào sản này rất được khách giang hồ ưa chuộng, nó đã khiến Ngân Diện Hầu trở nên đáng yêu và thân cận. Quần hào cao hứng la theo, rung chuyển cả núi rừng.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau