ANH HÙNG BẮC CƯƠNG

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Anh hùng bắc cương - Chương 16 - Chương 20

Chương 16: Tống Khu-mật Viện

Tống Khu-mật viện - -

Mỹ-Linh đưa mắt cho Thiếu-Mai. Thiếu-Mai tính đốt ngón tay:

- Dư đại nhân há quên rằng: Khi thời chưa đến, vua Cao-tổ nhà Hán vẫn chỉ là đình trưởng. Phàn Khoái bán thịt chó. Hàn Tín đi câu. Lúc thời đến Cao-tổ muốn gì đều như ý. Phàn đánh đâu thắng đấy. Hàn Tín chỉ có ba nghìn quân bố thủy lập trận mà thắng nước Tề.

Dư Tĩnh hiểu ra:

- Ý tiểu thư muốn nói trước đây chúa tôi cũng như Khai-Quốc vương chưa chính vị. Vì vậy hai bên không hiểu nhau. Nay cả hai đều ứng lòng trời, ắt xung đột tự nhiên hết.

- Dư đại nhân kiến giải thực sâu sa. Sau này sự nghiệp đâu thua gì Gia-Cát Vũ-hầu. Cho nên con người ta không thể nào thoát ra cái lý về chữ mệnh của Nho-gia.

Dư Tĩnh lầu thông Bách-gia, Chư-tử, Tứ-thư, Ngũ-kinh. Y đâu lạ gì cái mà Nho-gia gọi là mệnh. Có điều mấy hôm nay, những lời của Thiếu-Mai làm cho thầy trò y như đi vào một thế giới mới lạ. Tuy đã tin lời Thiếu-Mai, nhưng y vẫn còn nghi ngờ:

- Nếu nói rằng lời Thiếu-Mai do Khu-mật viện Đại-Việt bầy ra, thực vô lý. Nàng đang trên đường từ Thăng-long về Thanh-hoá, thì bị bắt cóc, rồi vương gia bị trúng độc. Vô tình nàng bắt mạch rồi nói ra những bí ẩn về tướng mệnh. Đó là một điều đáng tin. Bọn Mỹ-Linh, Thiệu-Thái từ Thăng-long lên Bắc-biên, tuân lệnh vua Bà đi đón chân mệnh Thiên-tử đó là hai điều tin được. Trên biển mênh mông, bọn Sử Anh, Tào Minh đang chém giết nhau chí chết, chỉ vì chân dung chân mệnh Thiên-tử. Thình lình vương gia xuất hiện. Đó là ba điều đáng tin. Bây giờ mình thử lại con nhỏ Mỹ-Linh một lần nữa xem sao?

Nghĩ vậy y hỏi Mỹ-Linh:

- Công chúa vừa nói về chữ mệnh của Nho-gia. Thưa công chúa, chữ mệnh đó khởi từ đâu? Căn bản ra thế nào? Xin công chúa đừng tiếc công chỉ dạy.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

- Tên này muốn thử xem giữa ta với Thiếu-Mai có thực do Khu-mật viện bố trí không đây. Thiếu-Mai mượn tướng mệnh khích động được bọn chúng. Nếu bây giờ ta đem học thuyết thiên mệnh của Nho ra bàn. Mà cả hai cùng khít với nhau chúng mới tin. Xét cho kỹ, chỉ có hai tên Dư Tĩnh, Vương Duy-Chính thực sự nắm vững hai thuyết này. Ta cần nịnh chúng mấy câu. Khi ăn bánh phỉnh, minh mẫn hai tên này bị mất đi, chúng mới tin ta.

Nàng đứng dậy rót rượu mời cử tọa một lượt. Tay bưng hai chung đến trước mặt Dư Tĩnh, Vương Duy-Chính:

- Dư đại nhân! Vương đại nhân! Chung rượu này kính xin hai vị đại nhân nhận cho, để đánh dấu ngày hôm nay, chúng ta cùng được ngồi cạnh một đấng minh quân. Tiểu nữ sẽ lạm bàn về chữ mệnh của Nho-gia. Nếu có chỗ nào sai lạc, xin hai đại nhân bổ khuyết.

Dư Tĩnh, Vương Duy-Chính bưng chung rượu uống cạn. Mỹ-Linh lại bưng một chung rượu đến trước Đông-Sơn lão nhân:

- Lão tiên sinh! Lão tiên sinh theo Lão. Trong Lão cũng bàn về lẽ thiên mệnh. Xin lão tiên sinh cạn chung này, rồi nghe tiểu nữ trình bầy cái dở ra. Tiên sinh dạy cho những lẽ huyền vi hơn.

Đông-Sơn lão nhân tiếp chung rượu uống cạn:

- Công chúa dạy quá lời.

Mỹ-Linh đứng dậy hướng vào Triệu Thành:

- Vương gia! Xét chung thì Nho, Mặc, Lão, Trang đều nói về thiên mệnh. Tiểu nữ xin trình bầy về Nho trước. Đầu tiên là Không-tử. Ngài ít bàn thẳng về mệnh trời. Nhưng xét kỹ, trong Luận-ngữ, cũng có đôi chỗ ngài nói tới:

"Ngô thập ngũ nhi chí ư học. Tam thập nhi lập. Tứ thập nhi bất hoặc. Ngũ thập nhi tri thiên mệnh".

Nghĩa là: Ta hồi mười lăm tuổi, chăm chú việc học. Ba chục tuổi biết vững chí. Bốn chục tuổi không còn nghi hoặc, biết lẽ phải trái. Năm chục tuổi biết mệnh trời.

Từ hôm theo Triệu Thành sang Đại-Việt. Bọn Dư, Vương tuy văn võ kiêm toàn, mà chưa một lần được trổ cái kho văn chương trong người, hầu tỏ cho Thành biết, chúng có thể giúp Thành trong đạo tu, tề, trị, bình, an định quốc gia. Bây giờ gặp Mỹ-Linh khui cái kho Nho-học ra, lại nói nhờ hai người bổ khuyết. Hai người sướng không thể tưởng tượng được. Mỗi câu Mỹ-Linh nói, hai người đều gật đầu.

Mỹ-Linh muốn cho Dư hoàn toàn cảm tình với mình. Nàng ngừng lại:

- Dư đại nhân, không biết câu trên ở thiên nào trong Luận-ngữ. Tiểu nữ quên mất rồi.

- Câu đó trong thiên Vi-chính.

Mỹ-Linh mỉm cười:

- Đa tạ đại nhân. Cứ như ý tứ mà suy, chữ thiên mệnh trong câu trên có nghĩa: Mệnh trời thuộc lẽ vô hình, linh diệu của tạo hoá. Con người có khi hiểu được, có khi không hiểu được. Theo nghiã đó thì mệnh trời gần như luật tự nhiên của hoá công. Song chúng ta vẫn hiểu được bằng tướng mệnh của Lê sư tỷ.

Nàng nhìn Địch Thanh:

- Cũng Luận-ngữ thiên Nghiêu-viết, Không-tử lại nói:

" Bất tri mạng, vô dĩ vi quân tử dã".

Nghiã là : không biết mạng trời, không thể là người quân tử được.

Câu này, ngài định rõ mệnh trời chính là thiên ý chứ không phải định mệnh.

Dư Tĩnh hoàn toàn bị Mỹ-Linh chinh phục. Y nhắc nhở nàng:

- Thánh Khổng còn tin rằng trời làm chủ tể cả vũ trụ. Trời có ý chí rất mạnh khiến sự biến hoá trong thế gian hợp với lẽ điều hoà. Con người không thể, và không nên trái với ý chí đó. Công chúa cần nhắc rõ điều này hơn.

Mỹ-Linh xá Dư Tĩnh:

- Đa tạ đại nhân nhắc nhở. Chính vì lẽ như Dư đại nhân nói, nên thánh Khổng khuyên đệ tử phải sợ thiên mệnh, như trong thiên Quý-thị, Luận-ngữ nói:

" Người quân tử có ba điều sợ. Sợ trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời thánh nhân".

Vương Duy-Chính nhắc lại nguyên văn:

- Quân tử hữu tam úy. Úy thiên mệnh. Úy đại nhân. Úy thánh nhân chi ngôn.

Mỹ-Linh hướng Duy-Chính gật đầu tỏ ý biết ơn. Nàng tiếp:

- Khổng-tử chỉ cho chúng ta biết một đường đi theo lý của trời toàn thiện. Ngài gắng hành động sao cho hợp với thiên lý, thiên đạo, hễ còn sức, còn hành đạo. Nên ngài bị người đương thời chê: biết rằng không thể làm được mà cứ làm. Khi trở về già ngài than trong thiên Hiến-vấn của sách Luận-ngữ:

Đạo ta sắp thi hành được ư? Do mệnh trời. Đạo ta sắp bị bỏ ư? Do mệnh trời.

Duy-Chính nhắc lại nguyên văn:

- Đạo chi tương hành dã dư? Mệnh dã. Đạo chi tương phế dã dư? Mệnh dã.

Mỹ-Linh hướng Duy-Chính mỉm cười tỏ ý biết ơn:

- Khi sắp mất, ngài buồn rằng đạo mình không được dùng, mà không oán trời, trách người, cứ thản nhiên mà đợi mệnh:

Thượng bất oán thiên, hạ bất vưu nhân, cư dị dĩ sĩ mệnh.

Nàng chắp tay hướng Triệu Thành:

- Đối với vương gia, mệnh trời an bài rồi. Vương gia không thể nào tránh nổi.

Triệu Thành gật đầu:

- Đa tạ công chúa! Thế sau Khổng-tử. Mạnh-tử nói về mệnh có khác không?

- Mạnh á-thánh cho mệnh là những nguyên do nào đó, người nhân thế không rõ. Mà nguyên do đó ảnh hưởng bất ngờ tới hoạt động của ta, khiến ta tận lực, cũng không thành, lại cũng có người không làm mà thành. Vương gia hãy trở lại với Trung quốc sử. Hạng-Võ anh hùng biết bao! Gia-cát Vũ-hầu tài năng biết bao, nhưng cuối cùng đành ôm hận. Hán Cao-tổ tài không có, đức cũng không. Thế mà lại dành được thiên hạ.

Thiếu-Mai gật đầu:

- Ngay như vương gia. Vì có mệnh, nên mới được đại sư Minh-Thiên, đạo sư Đông-Sơn, Vương, Dư đại nhân theo về. Lại như Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, trước kia khư khư chống vương gia. Khi mệnh tới, hai người không hẹn, mà theo về vương gia dễ dàng. Rồi trên biển này, hai bang lớn nhất, đang chém giết nhau, gặp vương gia, lập tức thân thiện cùng ngồi đối ẩm.

Dư Tĩnh gật đầu:

- Đúng như Lê tiểu thư bàn. Bây giờ xin công chúa luận tiếp về chữ mệnh của Mạnh á-thánh.

- Trong sách Mạnh-tử, thiên Vạn-chương, người nói:

" Việc mình không có ý làm, mà thành, do ý trời vậy. Việc gì mình không mong cầu mà tự nhiên tới, mệnh trời vậy".

Địch Thanh ngơ ngác không hiểu. Dư Tĩnh đọc nguyên văn cho y nghe:

- Mạc chi vi, nhi vi giả, thiên dã. Mạc chi tri nhi chí giả, mệnh giã.

- Người cho rằng sống, chết, thành bại đều có trời. Cho nên ta phải thuận mệnh. Thuận mệnh theo Mạnh, không phải mặc cho sự việc xẩy ra sao thì xảy. Trái lại phải biết tránh cái nguy, phải làm tròn cái đạo của mình. Ngài nói:

" Thị cố tri mệnh giả, bất lập hồ nham tường chi hạ. Tận kì đạo nhi tử giả, chính mệnh dã".

Nghĩa là: chẳng nên đứng dưới chân tường sắp đổ. Phải biết làm tròn cái đạo của mình.

Đến đó Mỹ-Linh nhìn Đông-Sơn lão nhân:

- Tóm lại Khổng, Mạnh đều tin có số mệnh, nhưng vẫn chú trọng về nhân sự. Trong khi đó Trang-tử kiến giải hơi khác một chút. Ông nói: Biết không thể nào làm khác được, đành coi như số mạng, chỉ bậc có đức mới hành sự như thế .

Nàng nhìn Đông-Sơn lão nhân:

- Đạo sư, không biết câu trên ở chương nào trong Nam-hoa kinh. Tiểu nữ quên mất rồi.

Đông-Sơn lão nhân nói:

- Câu đó nguyên văn như thế này: "Tri bất khả nại hà, nhi an chi nhược mệnh. Duy hữu đức giả an chi", thuộc thiên "Đức-sung-phù".

- Đa tạ đạo sư. Câu trên ý muốn nói: Biết không thể nào làm khác được hơn. Mình phải hiểu là đã gắng sức rồi, mà không thay đổi được tình thế. Phần khác, trong thiên Đại-tôn-sư, ông tin số mạng, khuyên người ta phải tuyệt đối theo số mạng:

Trang-tử nói: Tôi nghĩ không ra, vì đâu mà tôi tới nông nỗi này! Cha mẹ tôi đâu có muốn cho tôi nghèo như thế này! Trời chẳng riêng ai, đất chẳng riêng ai. Trời đâu có muốn bắt riêng tôi nghèo! Nghĩ mãi duyên cớ, mà không ra. Chẳng qua tôi tới nông nỗi này do mạng ư? ».

Đông-Sơn lão nhân gật đầu:

- Trang-tử hơi yếm thế đấy chứ. Nhưng dù yếm thế, ông cũng khẳng định mọi việc đều do mệnh. Mệnh đã an bài công chúa thắng bần đạo, nên hết kỳ duyên nọ, đến kỳ duyên kia đến với công chúa. Mệnh khiến vương gia sinh làm con thứ, nhưng anh hùng, tài trí, sau này thành đại minh quân. Mệnh đưa đẩy, nên bản triều mới nảy ra Lưu hậu chuyên quyền, vương gia phải đứng dậy làm việc vua Thuấn vua Vũ.

Mỹ-Linh tuyệt không ngờ Đông-Sơn lão nhân bị nàng đánh bại, mà lại thuận theo ý kiến của nàng với Thiếu-Mai.

Mỹ-Linh định luận về mệnh theo Lão, Mặc. Nhưng nhìn ra, thấy dường như Đông-Sơn lão nhân đang ngủ. Vì vậy nàng kết luận:

- Dù tướng mệnh, dù hoàn cảnh, vương gia đã được trời phú cho cai trị thiên hạ, làm lên sự nghiệp đâu đấy tỏ. Vương gia có chối cũng không được.

Triệu Thành nghe Mỹ-Linh, Dư Tĩnh, Vương Duy-Chính luận về mệnh rồi quyết đoán mệnh trời thuộc về y. Y không còn nghi hoặc nữa. Y hướng vào mọi người:

- Hôm nay muộn rồi. Ngày mai chúng ta bàn chuyện thực tế, sao để ta ngồi vào chính vị.

Trời về chiều. Đoàn Thông không thuộc phe đảng Dực-Thánh vương. Y nào biết những gì đã xẩy ra phía sau sân khấu quan trường. Suốt mấy hôm theo Dực-Thánh vương tiễn sứ đoàn về nước, chắp nhặt những mẩu đối thoại của sứ đoàn với mọi người, y lờ mờ đoán ra việc Dực-Thánh vương mưu đi với Tống cướp ngôi.

Bây giờ thình lình y thấy công chúa Bình-Dương, thế-tử Thiệu-Thái lại đáp thuyền đi cùng sứ đoàn. Y không hiểu gì cả. Y chỉ biết líu ríu dọn phòng cho nàng ở, cùng cắt hai thủy thủ già hầu hạ.

Đoàn Thông xuất thân là đệ tử của Trần Tự-An. Y được sư phụ tin tưởng, thương yêu vô bờ bến. Hôm hạm đội đậu ở Thăng-long, đúng lúc đại hội giỗ Bắc-bình vương. Bởi làm tới Đề-đốc. Y không được đi trong môn phái Đông-a. Vì vậy y lẫn vào dân chúng, để quan sát đại hội.

Trước kia y cứ lo sư phụ kình chống triều đình, thực khó khăn cho y muôn vàn. Trong đại hội y thấy rõ ràng phái Đông-a nghiêng hẳn về phía họ Lý. Hơn nữa, sư muội Thanh-Mai của y sắp làm Khai-Quốc vương phi. Tương lai sẽ làm Hoàng-hậu toàn thể tộc Việt. Y mừng khôn tả.

Cũng trong đại hội, y được thấy tận mắt võ công của Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cao thâm đến không tưởng được. Bây giờ cô công chúa đẹp như tiên nữ đang ở trước mặt y. Y khoan khoái trong lòng.

Y đứng ở cửa phòng, kính cẩn:

- Khải tấu công chúa điện hạ. Không biết công chúa điện hạ có cần chi nữa không?

Mỹ-Linh nhìn trước, nhìn sau không có ai. Nàng vận công, dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai Đoàn Thông:

- Đề đốc về nghỉ đi. Nhớ cho người canh phòng thực cẩn thận quanh mình. Sẽ có người cho Đề-đốc biết hết mọi truyện.

Nàng lại lên tiếng nói lớn:

- Đa tạ Đề-đốc. Tôi cần yên giấc.

Đoàn Thông cúi rạp người xuống:

- Thần kính chúc Công-chúa ngon giấc.

Thuyền vẫn đi về phía Bắc.

Đỗ Lệ-Thanh trong lớp áo thủy thủ gõ cửa phòng Mỹ-Linh:

- Tiểu nhân được lệnh phục thị công chúa.

Mỹ-Linh nhỏ nhẹ:

- Người đưa ta lên khoang ngắm sao biển một lát. Ở trong phòng ngộp quá chịu không được.
Hai người lên khoang. Lệ-Thanh bắc ghế cho Mỹ-Linh ngồi. Bà chắp tay đứng sau như chờ lệnh. Mỹ-Linh dùng Lăng-không truyền ngữ nói với bà:

- Đỗ phu nhân. Có gì lạ không?

- Bọn Triệu Thành vẫn không tin Lê tiểu thư cùng thầy đồ Ngọc-Phách. Chúng đem hai bản dịch so từng câu, từng chữ một. Hôm trước chúng chú ý nhiều đến bộ Lĩnh-Nam vũ kinh cùng bộ Dụng-binh yếu chỉ. Bây giờ chúng lại chú ý đến kho tàng nhiều hơn.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

- Điều này không có gì lạ cả. Hôm trước Triệu Thành muốn nắm võ lâm nên cố tìm cho ra bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, hầu câu các gia, các phái Đại-Việt theo chúng. Còn chúng chú ý đến bộ Dụng-binh yếu chỉ, chẳng qua muốn đem quân đánh Đại-Việt. Bây giờ, Triệu Thành định làm vua, chia đôi thiên hạ với chú mình. Nên y muốn có kho tàng, hầu Tống thêm giầu, để thôn tính các nước khác.

- Phu nhân còn thấy gì nữa không?

- Đề đốc Đoàn Thông có tin được không?

- Được! Y là sư huynh của Thanh-Mai, Tự-Mai mà. Tôi sai đội Đam gặp y, tường trình cho y biết hết mọi truyện rồi. Phu nhân trao cho đội Đam mấy viên thuốc giải, để y bỏ vào thức ăn, trị bệnh cho Địch Thanh, Dư Tĩnh, Quách Quỳ, Đoàn Thông với hai thủy thủ.

- Tuân chỉ công chúa. Thuyền đang đi đâu đây?

- Ngày mai chúng ta rời thuyền, lên Quảng-Đông lộ, dùng đường bộ đi Biện-kinh.

- Như vậy chúng ta vào cửa biển Hổ-môn. Không biết thuyền sẽ theo sông nào trong ba con Tây-giang, Bắc-giang và Chu-giang?

- Chu-giang. Phu nhân biết rõ đường đất vùng này không?

- Tiểu nhân thuộc lầu đường đất vùng này. Song xa cách mấy chục năm, không biết cảnh trí có còn như cũ hay không?

Có tiếng chân người lại gần. Nội công Mỹ-Linh cực kỳ cao thâm. Nàng nhận ra người đi phải thuộc hàng nội công thượng thừa, vì bước chân như có, như không. Người đó lại gần. Mỹ-Linh liếc nhìn. Y chỉ là tên thủy thủ đầu bếp tên Triệu Tu, mà nàng đã gặp. Nàng than thầm:

- Trên con thuyền này thực lắm phe phái. Ngoài phe Tống, Dực-Thánh vương, phe mình. Không biết phe nào bố trí người làm đầu bếp, mà Đoàn Thông, đội Đam không biết tung tích? Khi mới gặp, trông lưng y, ta thấy quen quá, mà không nhận ra đã gặp y ở đâu.

Trong đêm tối, dường như viên thủy thủ không nhận ra Mỹ-Linh. Y đi thẳng ra phía mũi thuyền, rồi đứng tựa lưng vào cột buồm ngắm sao.

Mỹ-Linh bảo nhỏ Lệ-Thanh:

- Phu nhân phóng độc vào tên thủy thủ kia. Tôi có cách bắt y hiện rõ chân tướng.

Lệ-Thanh gật đầu. Bà thản nhiên đi về phía mũi thuyền. Khi qua viên thủy thủ đầu bếp, mụ sẽ rung động tay, một viên thuốc bắn ra, hóa thành bụi, chụp lên đầu y. Y vẫn ngắm cảnh, nào biết mình sắp đi đến Quỷ-môn quan.

Khoảng nhai dập miếng trầu, tên thủy thủ rùng mình một cái, bật lên tiếng ối. Y đưa tay gãi cổ, rồi mặt, rồi chân. Y vừa gãi, vừa nhảy nhót. Dường như không chịu được, y lại bật lên tiếng kêu nữa.

Tiếng kêu của y, làm viên thuyền trưởng Trịnh Sơn đang ngồi bên cạnh tài công chú ý. Y cầm dùi đánh vào cái mõ bên cạnh ba tiếng. Một đội thủy thủ gươm đao tuốt trần, đuốc đốt sáng chưng, lên trên sàn.

Đoàn Thông, đội Đam cũng đã xuất hiện. Tiếp theo bọn Triệu Thành. Đội Đam hỏi Triệu Tu:

- Người làm sao vậy?

Triệu Tu đau qúa, gập cong người lại. Mặt y đỏ như máu, dộp lên như bánh đa. Y rên hừ hừ:

- Không... rõ nữa.

Minh-Thiên đưa mắt nhìn Đoàn Thông:

- Đề đốc! Người này giữ chức vụ gì trên soái hạm này?

- Y họ Triệu tên Tu, giữ chức trưởng toán hoả đầu quân.

Dư Tĩnh lo lắng:

- Từ lúc lên chiến hạm này, chúng ta có tám người trúng độc, trong khi chưa tìm ra thủ phạm, thì tiếp theo đến đội Tu. Phải tìm cho ra thủ phạm.

Triệu Thành hướng vào Thiếu-Mai:

- Lê tiểu thư! Xin tiểu thư chẩn đoán xem gã này bị chứng bệnh gì vậy?

Khi vừa lên sàn thuyền, Thiếu-Mai đã thấy Mỹ-Linh dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai:

- Gã này làm gian tế, ẩn náu trên soái hạm, không biết y thuộc phe phái nào. Vậy trong khi chẩn mạch, chị thử tìm chân tướng y xem.

Lê Thiếu-Mai tiến lên quan sát sắc diện Triệu Tu, cầm mạch, rồi thở dài:

- Triệu-Tu bị trúng Chu-sa độc phấn. Độc chất gần giống các vị đây. Song không hề gì. Để tôi chẩn mạch lần nữa xem sao.

Vừa đụng vào tay y, nàng dồn chân khí sang. Lập tức chân khí y tự động phản kích. Nàng cảm thấy tay rung động mãnh liệt. Một kình lực cực kỳ hùng hậu đẩy bật tay nàng ra. Biết gặp kình địch, nàng vận khí đứng vững, rồi chụp tay y. Lần này hai kình lực gặp nhau. Tay hai người đều bật tung trở lại, kêu lên tiếng bộp.

Mọi người đều kinh hoảng. Thiếu-Mai bình tĩnh:

- Thầy đội Tu. Tôi chẩn mạch để trị bệnh cho thầy. Cớ sao thầy dùng nội công thượng thừa tấn công tôi?

Triệu Tu lách người lui lại, tay y phóng ra chiêu cầm long công chụp Thiếu-Mai. Thiếu-Mai lạng người tránh khỏi. Song móng tay Tu đã chạm vào áo khoác ngoài của nàng. Roạc một tiếng, áo bị rách.

Đoàn Thông quát:

- Triệu Tu! Không được dụng võ. Mi là ai? Xâm nhập chiến hạm này với mục đích gì?

Triệu Tu không trả lời, y phóng một chưởng hướng Thiếu-Mai. Chưởng phong của y có hơi nóng. Thiếu-Mai lùi một bước, nàng dùng một chiêu Thiên-vương chưởng. Binh một tiếng, nàng bật lui liền hai bước. Trong khi Triệu Tu cười nhạt:

- Lê tiểu thư! Thiên-vương chưởng quả thực danh bất hư truyền. Hồng-Sơn đại phu xứng danh hiệu Đại-Việt ngũ long. Tiểu thư chưa quá hai mươi, mà công lực đã tới ngần này, thực tài không đợi tuổi.

Triệu Tu chuyển thân dùng một thức Cầm-long công tấn công Triệu Thành. Thành kinh hoàng nhảy lùi hai bước. Không hiểu Tu làm cách nào, mà tay y như dài ra, y di chuyển thân hình, chụp trúng ngực Triệu Thành. Minh-Thiên, Dư Tĩnh đứng gần Triệu Thành. Một người dùng Ưng-trảo công, một người dùng Hổ-trảo công chụp vào hai bên Tu. Tu ôm Triệu Thành nhảy vọt lên cao. Ở trên cao, y đá gió một cái, cả hai rơi tòm xuống biển.

Đoàn Thông quát lên:

- Tu! Mi định làm gì đây? Mi là ai?

Triệu-Tu cười lớn:

- Đoàn đề đốc! Xin đề đốc đứng ngoài việc này cho. Tại hạ vốn người Tây-hạ họ Lý tên Cương. Quốc vương tệ quốc chỉ dụ cho tại hạ không được gây hấn với võ lâm Đại-Việt. Tại hạ muôn vàn lần không dám vô phép với phái Đông-a. Tại hạ muốn mượn Bình-Nam vương làm vật che thân, thoát khỏi soái thuyền này.

Triệu Tu để tay trên đầu Triệu Thành cười nhạt:

- Dực-Thánh vương! Vương hãy thả mủng xuống cùng với bốn thủy thủ chèo cho tại hạ vào bờ. Tới bờ, tại hạ sẽ buông tha Bình-Nam vương. Mục đích của tại hạ ẩn thân dưới thuyền, chẳng qua vì bộ Lĩnh-Nam vũ kinh với bộ Dụng binh yếu chỉ mà thôi. Trong túi Bình-Nam vương đây có hai thứ đó, đều bọc giấy dầu. Như vậy quá đủ.

Đoàn Thông cười nhạt một tiếng, chàng đã thay dầy. Người chàng vọt lên cao như cái pháo thăng thiên, rồi chúi đầu xuống biển, đúng ngay chỗ Triệu Tu với Triệu Thành. Còn ở trên cao, chàng xuất chiêu Kình-ngư quá hải đánh xuống đầu Triệu Tu. Tu kinh hoảng, vọt người lên như con cá.

Còn lơ lửng trên không, Đoàn Thông biến đổi thế chưởng, chàng đá gió một cái, người vọt theo Triệu Tu. Chàng rơi xuống ngay cạnh Tu với Thành.

Thấy Triệu Tu để tay lên đầu Triệu Thành, Minh-Thiên nói với Dực-Thánh vương:

- Xin vương gia truyền Đoàn đề đốc không nên bức Tu. E y hại chúa công của bần tăng.

Dực-Thánh vương nói vọng xuống:

- Đoàn đề đốc! Hãy để cho y đi.

Đoàn Thông vọt người một cái lên cao, chàng đá gió, người tà tà rơi xuống giữa chiến thuyền. Chàng ra lệnh cho thả cái mủng xuống, cùng với bốn thủy thủ. Triệu Tu ôm Triệu-Thành vọt mình lọt vào mủng. Y nói vọng lên trên soái thuyền:

- Xin các vị bơi xa xa. Đợi khi tại hạ tới bờ, rồi hãy tiếp giá Bình-Nam vương cũng chưa muộn.

Sự việc xẩy ra, khiến Dực-Thánh vương lo nghĩ vô cùng. Vương được lệnh tiễn sứ đoàn về Trung-quốc, thế mà trên soái thuyền, có gian tế, bắt chánh sứ đi, tội này không nhỏ. Vương đưa mắt nhìn Đoàn Thông, nghĩ thầm:

- Ta cứ đổ lên đầu tên Đoàn-Thông này. Đợi trở về Thăng-long, ta dùng quân luật, chặt đầu y, với viên thuyền trưởng Trịnh Sơn về tội không quản thúc, bảo mật để gian tế xâm nhập binh đoàn.

Trong khi đó Mỹ-Linh, Thiếu-Mai nhìn nhau than thầm:

- Nguy tai! Mình cứ một điều nói Triệu-Thành là chân mệnh thiên tử, luôn có chư thần phò tá. Thế mà nay Thành bị bắt như thế kia, hỡi ôi bao nhiêu công lao đều đổ xuống sông hết sao?

Chợt động tâm tư, nàng bảo sẽ Đoàn Thông:

- Đề đốc ban lệnh hạ một cái mủng nữa ngay lập tức. Đừng cho ai biết chúng tôi theo tên Lý-Cương.

Mủng hạ xuống. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nhảy xuống liền. Bốn thủy thủ chèo theo chiếc mủng trước. Mủng đi được một lúc, đã trông rõ bờ. Thiệu-Thái nhìn lên trời, thấy có đôi chim ưng của Khu-mật viện. Chàng huýt sáo mấy tiếng. Cặp chim ưng vỗ cánh bay theo chiếc mủng thứ nhất.

Mỹ-Linh hỏi:

- Anh sai chim ưng theo dõi Lý Cương đấy à?

- Đành vậy. Y vào bờ trước. Ta vào sau, dễ gì theo được y. Anh sai chim ưng theo chúng. Ta cứ lần dấu chim ưng, ắt tìm ra. Y có bay lên trời cũng không thoát.

Trăng thượng tuần chiếu xuống lờ mờ. Sóng biển rì rào, lẫn với tiếng chèo của bốn thủy thủ.

Lát sau, mủng tới bờ. Đây thuộc sườn một hòn núi hoang, vách núi lởm chởm, không có làng mạc. Chiếc mủng trước ghé vào một gành đá. Thiệu-Thái ngửa mặt lên trời thấy cặp chim ưng vẫn bay lượn trên khu rừng gần đó.

Đổ hết dốc núi, Mỹ-Linh nhìn thấy bóng hai người đi song song. Nàng chỉ cho Thiệu-Thái:

- Không biết hai người kia là ai?

Thiệu-Thái ngửa mặt nhìn đôi chim ưng, rồi nói:

- Chính tên Lý Cương với Triệu Thành.

- Anh có chắc không? Lý Cương bắt sống Triệu Thành. Tại sao hai người lại sóng đôi như cặp bạn thân thế kia? Chúng ta phải theo sát y mới được.

Xuống khỏi chân núi, phía trước hiện ra khu thành trì nhỏ, ánh đèn chiếu ra leo lét. Tới gần cổng thành, Lý Cương để tay vào miệng hú một tiếng. Lập tức trong thành có tiếng hú đáp lại. Lát sau, cửa thành mở, bên trong một người bước ra, lên tiếng:

- Có ai đi theo không?

- Có! Thái dương.

Người đó đến trước Triệu Thành, định quỳ gối hành lễ. Thành phất tay:

- Miễn. Mau đưa chúng ta vào thành. Người khẩn cho binh đội phục ngoài men rừng, thấy người lạ phải lên tiếng báo động, rồi vây bắt hết cho ta.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái men tới sát chân thành. Quan sát kỹ, Mỹ-Linh suýt bật thành tiếng cười, vì đây không phải thành, mà là một trại binh, xung quanh xây tường.

Mỹ-Linh ra hiệu. Thiệu-Thái với nàng vọt lên tường, rồi nhảy vào trong. Hai người núp vào sau một căn nhà nhỏ. Triệu Thành, Lý Cương vào trong căn nhà lớn, đèn đuốc sáng chưng. Hai người vọt mình lên mái nhà. Thiệu-Thái vận công, khẽ dùng ngón tay đục mái ngói hai lỗ. Chàng với Mỹ-Linh ghé mắt nhìn vào.

Triệu Thành, Lý Cương đã thay quần áo khác. Dưới ánh đèn, Mỹ-Linh nhìn rõ có tất cả mười người. Nàng suýt bật thành tiếng kêu. Vì mười người đó gồm có Triệu Thành, Lý Cương, Dương Bá (Nguyên-Hạnh), Cao Thạch-Phụng, Đinh Toàn, Nùng Dân Phú, hai nhà sư Trí-Nhật, Trí-Nguyệt cùng Hạnh-Chân, Hạnh-Như.

Mỹ-Linh than thầm:

- Bọn này mưu đồ gớm thực. Không biết bằng cách nào, chúng liên lạc được với nhau, dàn ra màn kịch kia?

Triệu Thành móc trong bọc ra gói giấy dầu. Y mở gói. Bên trong có hai cuộn giấy. Dương-Bá tiếp hai cuộn giấy trải ra bàn. Triệu Thành nói:

- Việc tìm kho tàng Tần-Hán và Âu-Việt cô gia hoàn toàn ủy thác cho các vị. Vì vậy mới phải bầy ra vở kịch này hầu che mắt bọn Dư Tĩnh, Vương Duy-Chính. Khi được Hoàng Văn nộp bản đồ. Cô-gia lập tức thức đêm, vẽ ra một bức giả, trao cho Dư Tĩnh giữ. Cho đến giờ này, y vẫn tưởng đó bản đồ thực. Y gọi Lưu hậu bằng dì. Thế mà y vờ theo cô gia, hầu dò thám động tĩnh. Y theo bản đồ giả của cô gia, hoạ lại, sai người đưa về cho Lưu hậu. Y tưởng cô gia ngu. Nào ngờ!

Y ngừng lại một lát, chỉ Lý Cương:

- Phạm tiên sinh phải giả xưng Lý Cương người Tây-hạ. Thế là tiếng đồn ra Bình-Nam vương lấy được bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, Dụng binh yếu chỉ, bản đồ kho vàng. Hiện đã bị Tây-hạ đoạt mất. Từ nay võ lâm thiên hạ thi nhau sang Tây-hạ quấy nhiễu.

Lý Cương chỉ vào bản đồ:

- Đây là ghềnh sông Khúc-giang. Đây, Thanh-vân sơn, đây, Cửu-liên sơn. Đây, Long-tiên có ngọn Tuyệt-phong, nơi cất kho tàng. Chúng ta đang ở Đẩu-môn. Muốn đến Long-tiên, nên dùng thuyền tới Khúc-giang, rồi đi bộ. Xin vương gia định liệu. Ta phải làm thế nào đến nơi trước giờ Tý ngày rằm tháng mười một. Năm nay là năm Đinh-Mão, cửa kho tàng mở một lần. Nếu không ai đào kho tàng, phải chờ sáu mươi năm nữa cửa mới mở lại .

Triệu Thành hỏi Lý Cương:

- Phạm tiên sinh! Tôi vẫn thắc mắc tại sao phải đúng giờ Tý, ngày rằm tháng mười một năm Đinh-Mão, cửa kho tàng mới mở một lần? Dường như đây chỉ là mật mã, mật hiệu, chứ không hẳn thế.

- Tuy không hẳn thế, ta vẫn cứ tới nơi xem cho rõ ngọn nguồn.

Triệu Thành hỏi:

- Mấy hôm nay có tin tức gì khác lạ không?

- Khải tấu vương gia, tai mắt Lạc-long giáo rất nhiều. Bọn thần trăm khôn, nghìn khéo mới lọt khỏi con mắt bọn chúng. Dường như đến bốn trưởng lão Lạc-long giáo đã hiện diện ở vùng này rồi. Có lẽ chúng còn chờ giáo chủ của chúng, rồi mới hành sự.

- Người mau cho ngựa lưu tinh truyền lệnh của ta, điều động ba hải đoàn đóng dọc sông từ cửa biển Hổ-môn lên tới Khúc-giang, kiểm soát chặt chẽ tất cả thuyền buôn. Thấy ai lạ mặt, cứ bắt giam hết. Trên bộ, người cho điều hai Lữ thiết-kị, đóng ở Cửu-liên sơn, Thanh-vân sơn.

Y cười lớn:

- Còn tên giáo chủ Lạc-long giáo, ta không sợ. Giờ này y đang ở trên soái thuyền ngoài khơi. Soái thuyền của Đại-Việt, không có binh phù của ta, chúng không thể cập bến, lên bộ. Hiện y theo về ta. Tuy vậy vẫn phải đề phòng y thấy của, tối mắt lại.

Y hỏi Dương-Bá:

- Với lực lượng chúng ta bằng này người có đủ chưa, hay phải viện thêm?

- Tấu vương gia, đây thuộc Tống. Ta có binh lực hùng mạnh, không cần cao thủ. Bọn chúng kéo đến bao nhiêu người. Ta bất chấp luật võ lâm, cho thiết kị bắt chặt đầu hết.

- Tình hình Nam-biên ra sao?

- Thân Thừa-Qúy cùng vợ điều động trọng binh uy hiếp tất cả các khê động Đại-Việt đã bỏ theo ta. Vì vậy trọn vẹn 207 khê động đều trở về với Đại-Việt?

Triệu Thành cau mặt:

- Lưu hậu chịu ngồi im sao? Bà ta không phản ứng gì à ?

Lý Cương lắc đầu:

- Thực kỳ lạ! Không hiểu sao gần như trọn vẹn biên thần Nam-phương đều thượng biểu về triều rằng các khê động tự trở lại với Đại-Việt. Một số biên thần từ trước đến nay kình chống Đại-Việt tự nhiên cùng gặp tại vạ.

- Tai vạ gì? Không lẽ Đại-Việt ra tay ?

Triệu Tu lắc đầu:

- Khó có thể đoán rằng việc này do Khu-mật-viện Đại-Việt. Những tai vạ đều giống nhau: bố mẹ, hoặc anh em ở quê quán tự nhiên lăn đùng ra chết. Vì vậy họ phải về quê chịu tang. Người không có bố mẹ, thì nhà cửa cháy rụi. Những người ở quá xa Nam-biên lại lâm bệnh nặng. Vì vậy chỉ còn những người nhu nhược hoặc thân Đại-Việt, cho nên họ buông xuôi cho Đại-Việt làm truyện đó. Hỡi ôi! Bao nhiêu công lao đe đọa, cùng dụ dỗ các khê động đều biến thành tro bụi cả.

- Không lẽ vụ này do Lý Long-Bồ. Tin tức về y ra sao?

- Y mới cưới vợ. Vợ là con gái Trần Tự-An. Y suất lĩnh một sứ đoàn sang Biện-kinh. Khi tới biên giới, quan tuần biên cho ngựa báo về kinh. Triều đình ban chỉ tiếp đãi ân cần. Thần trình binh phù của vương gia, lệnh cho quan lại thù tạc y, để giám sát. Dường như y không đi tìm kho tàng thì phải.

- Như vậy càng hay. Ta chỉ sợ có hai người. Một là Lý Long-Bồ. Hai là Thân Thiệu-Thái. Nay cả hai đã bị cầm chân. Ta yên tâm đào kho tàng lên.

Triệu Thành im lặng một lúc, rồi y hắng rặng nói:

- Cô gia muốn nói với các vị mấy điều. Mong các vị cứ thành thực cho ý kiến. Dù ý kiến đó thế nào chăng nữa.

Dương-Bá kính cẩn:

- Thần xin chờ chỉ dụ của vương gia.

Triệu Thành ngồi ngay ngắn lại:

- Minh-Thiên đại sư, Đông-Sơn lão nhân, cùng Dư, Vương, Địch đều đồng ý giúp cô-gia kiến tạo sự nghiệp của Hán Vũ-Đế, Đường Thái-Tông. Cô-gia phân vân vô cùng.

Cả bọn ngơ ngác chờ đợi. Triệu Thành tiếp:

- Khi mệnh trời ban cho, mà không làm, thực không còn gì nguy hiểm bằng.

Rồi y tường thuật tất cả những gì bàn luận, cũng như đã gặp trên đường từ Thăng-long đến đây. Có điều y dấu không nói đến việc Lê Thiếu-Mai coi tướng cho y mà thôi.

Y hỏi Lý Cương:

- Sư đệ, trong thời gian người ẩn dưới soái hạm, người có dò la được những bí mật gì khác không?

- Bọn Đại-Việt rất khôn ngoan. Khi đệ nhờ Đàm Can giúp đỡ, đội tên Lý Cương dự tuyển vào thủy quân hồi tháng trước. Chúng không tin tưởng cho lắm. Vì vậy chúng cho đệ giữ chức trưởng bếp trên soái hạm. Viên thuyền trưởng Trịnh Sơn cho phép đệ chỉ được di chuyển trong vùng bếp, kho thực phẩm, sàn thuyền. Chúng còn dặn rằng, đáng lẽ đệ phải qua cuộc khảo xét lý lịch. Nhưng nhờ có Đàm Can bảo lĩnh, đệ được phong chức đội. Tuy vậy vẫn bị giám sát sáu tháng. Thành ra thời gian ở chiến hạm đệ không biết gì ngoài việc bếp núc. Tuy nhiên có một việc thần thấy hơi khác lạ.

- Việc gì?

- Khi ở dưới chiến hạm, vương gia truyền bắt giam ba người tên Thái Thân, Đỗ Linh, và Lý Lệ. Khi đội Đam gọi ba người lên làm bếp, động tác của họ dường như thuộc giới võ lâm, chứ không phải người thường.

Triệu Thành cười:

- Dù ta có nghi ngờ gì chúng chăng nữa, bây giờ chúng đã ở trong bụng cá tiêu ra phân từ lâu ?

- Nghĩa là?

- Cô gia sai Triệu Huy ném ba đứa xuống biển đã mấy hôm rồi.

- Còn việc thần bị phóng độc, độc chất cực kỳ lợi hại. Thú thực cho đến giờ phút này, thần cũng không biết ai phóng độc, và phóng bao giờ?

Dương-Bá hỏi:

-- Thần rất quan tâm đến việc vương gia cùng nhiều người bị trúng phấn độc Hồng-thiết giáo Trung-quốc cùng Ngũ-hoa phấn. Hiện những người kia chưa khỏi, duy Vương-gia tự nhiên khỏi. Vậy phải đặt vấn đề: Ai phóng chất độc. Thần nghĩ người này tất liên quan tới Hồng-thiết giáo Trung-quốc.

Triệu Thành phất tay:

- Hãy bỏ qua truyện đó. Ban nãy Phạm đệ bị trúng độc, cô-gia đã dùng thuốc giải của Hoàng Văn cho uống, tạm thời cơn đau trấn tĩnh. Bây giờ các vị có ý kiến gì về điều cô-gia hỏi.

Đinh Toàn nói ngay:

- Vương gia! Tôi nghĩ đúng như vương gia nói: Thời đến đừng bỏ qua. Có điều bây giờ chúng ta phải làm gì trước, làm gì sau. Thời gian bao lâu Vương-gia sẽ lên ngôi cửu ngũ?

Nguyên-Nghiễm nói với Nguyên-Hạnh:

- Phiền tướng quân cùng các vị sang bên cạnh nghỉ. Ta cần bàn riêng với sư đệ ít chuyện.

Mọi người ra ngoài rồi, Lý Cương đóng cửa lại. Y nói:

- Hiện giờ binh quyền, cùng võ lâm trong tay Vương gia, việc Vương gia lên ngôi cửu ngũ dễ như trở bàn tay. Có điều bản triều, kể từ đức Thái-tổ chính vị, lấy Nho-học trị thiên hạ. Chưa bao giờ Nho thịnh như vậy. Khắp trong nước, chính pháp do triều đình, cùng bách quan. Nhưng thực tế dân chúng điều khiển bởi bọn sĩ phu ở hương thôn. Cho nên Vương-gia làm sao tỏ đức khắp nơi như vua Thuấn, vua Vũ khi xưa, mới khiến bọn Nho gia không chê trách vào đâu được. Bằng không họ sẽ phỉ báng, coi ta như họ Tào cướp ngôi nhà Hán. Họ Tư-mã cướp ngôi nhà Ngụy. Vì vậy đệ xin dâng ba khoản.

Chương 17: Quân tử lập ngôn

Quân tử lập ngôn. -- -

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cùng tự hỏi:

- Không biết tên này lý lịch ra sao? Võ công của y có lẽ không kém gì bọn trưởng lão Hồng-thiết giáo. Hôm trước y giả làm người ngoài, cướp quyển phổ tượng Tương-liệt đại vương. Rồi lại bắt cóc Triệu Thành để đánh lừa mọi người khi Tôn Trung-Luận trao Võ-kinh giả cho Thành. Âm mưu của y giả làm người đối nghịch với Triệu Thành, chỉ có sư bá Trần Tự-An nhìn ra. Bây giờ y đội tên Lý Cương ẩn dưới soái hạm, cùng với Triệu Thành dàn cảnh. Dường như Triệu Thành kính trọng y ngang với Minh-Thiên chứ không phải tầm thường.

Lý Cương tiếp:

- Khi đức Thái-tông còn tại thế, người muốn nhường ngôi cho Vương-gia, mà Vương-gia từ chối, nên vua Chân-tông mới được ngồi vào long ỷ. Ai cũng phục Vương-gia là người không ham phú qúi. Vua Chân-Tông tin tưởng Vương-gia, trao Thái-tử cho Vương-gia dạy dỗ. Nay Thiên-Thánh hoàng-đế vừa là cháu, vừa là đệ tử đã phong chức tước cho Vương-gia đến ngôi cực phẩm, thì Vương-gia không làm vua cũng như làm vua. Mệnh trời đã vào tay Vương-gia rồi. Vương gia lên ngôi vua làm gì, để mất cái đức chẳng hóa ra bán bò tậu ễnh ương ư?

Nguyên-Nghiễm nghe xong, y đập bàn một cái:

- Không có sư đệ, thì ta tự làm hỏng tất cả công trình bấy lâu.

Y đứng dậy ôm lấy Lý Cương:

- Đa tạ sư đệ. Bây giờ sư đệ nói về ba khoản đó đi.

- Khoản thứ nhất, Vương-gia đào ngay kho tàng, rồi đem cất đi. Có vàng trong tay, Vương-gia tha hồ ban thưởng cho võ lâm, Nho sĩ. Họ thấy ở Vương-gia một vị vương tước hào phóng. Ngay cả đối với bọn cung nga, thái giám, cận vệ. Đấy là cách mua nhân tâm. Dù đối với loại giầu có, nhưng giầu là một truyện, được Vương-gia ban thưởng cho một đồng, họ cũng hãnh diện vô cùng.

Mỹ-Linh khen thầm:

- Tên này thiết kế hay thực. Chú hai mình trước đây tư gia có bao nhiêu, tặng anh hùng thiên hạ hết. Vì vậy mà thu phục được nhân tâm. Có điều chú hai tặng người, không phải chủ tâm mua chuộc. Anh hùng qui tâm cũng không hoàn toàn vì tiền bạc.

Lý Cương tiếp:

- Nếu như truyện kho tàng chỉ là huyền thoại, cũng không sao. Vương-gia bỏ hết của cải ra, để rồi nhân tâm thiên hạ theo Vương-gia. Thì vàng bạc, đất đai trong thiên hạ, chỗ nào không phải của Vương-gia.

Triệu Thành gật đầu:

- Sư đệ trí lự tuyệt vời. Thế còn khoản thứ nhì?

- Khoản thứ nhì, khó mà dễ. Hiện triều đình đang bàn truyện thôn tính Giao-chỉ, Tây-hạ, Đại-lý, Thổ-phồn, Tây-liêu. Sĩ dân các nơi đó đâu chịu ngồi yên để bị mất nước? Họ cũng cử người đến Đại-Tống làm tế tác. Nếu như trong triều, ai bàn truyện chống chinh phạt. Tế tác trong bóng tối sẽ ngầm trợ giúp người đó. Ai bàn truyện thôn tính, họ ngầm phá hại người đó. Vừa rồi Lưu hậu cử Vương-gia đi sứ Đại-Việt. Với ý đồ dùng người Việt hại Vương-gia. Vô tình Vương-gia sang đến nơi, làm ồn ào lên. Dù muốn, dù không, võ lâm, nhân sĩ Đại-Việt cũng nhìn Vương-gia bằng con mắt căm thù.

Triệu Thành nghĩ lại hơn năm qua, dọc ngang bên Đại-Việt, gây không biết bao nhiêu oán hờn mà kể. Y nói:

- Sư đệ hiểu cho, khi đi sứ Đại-Việt ta đâu đã nghĩ tới...

- Đệ biết chứ. Bây giờ ta tìm cách nối lại cảm tình với họ. Không những với Đại-Việt, mà với tất cả các nước khác. Điều này dễ thôi. Vương gia gửi mệnh lệnh cho tất cả biên cương đại thần, tướng sĩ, răn dạy họ tuyệt đối không được gây hấn với lân bang. Ngược lại phải mềm mỏng, cư xử với lân bang như anh em. Nơi nào Vương-gia tới được, thân đi tới. Hạ mình tiếp xúc, thù tạc với quan lại, tướng binh của các nước. Điều này khiến Nho thần trong triều, cũng như lân bang hướng về Vương-gia, coi Vương-gia như Chu-Công đời xưa.

Triệu Thành gật đầu, vỗ lên lưng Lý Cương:

- Tiếc rằng khi ta đi sứ, tìm không thấy sư đệ đâu. Ta đành đi một mình. Nay mới ra nông nỗi. Xin sư đệ tiếp.

- Đối với Đại-Việt rất dễ. Như vương gia thấy, tộc Việt hiện phân ra làm tám khu vực. Quảng-Đông, Quảng-Tây hiện thuộc Tống. Đại-lý, Giao-chỉ, là hai nước lớn. Chiêm-thành, Chân-lạp, Lão-qua, Xiêm-la, là bốn nước nhỏ. Vừa rồi tộc Việt đồng tôn Lý Long-Bồ làm Thiên-tử. Đó là phép cử hiền đời Nghiêu, Thuấn, Vũ bên Trung-quốc. Bồ vẫn để cha làm Vua. Võ lâm Đại-Việt cực đông, hầu hết hướng về Long-Bồ. Vậy Vương-gia cần kết thân với y.

Triệu Thành vỗ đùi đánh đét một cái:

- Điều này chắc chắn ta làm được, dễ dàng là khác. Bồ vốn có chí khí anh hùng. Y không thù ta gì cả. Hơn nữa hiện hai người cực thân với y là Bình-Dương, Thiệu-Thái đang theo ta trên chiến hạm. Ta dùng hai người này làm cây cầu.

Nói rồi y kể truyện vua Bà Bắc-biên sai Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đem rượu đi đón mình ra sao. Lý Cương cười:

- Có thể sự thực như thế. Cũng có thể họ nhìn thấy tư cách anh hùng của Vương-gia, nên bầy ra truyện ấy để làm hòa với Vương-gia.

Triệu Thành gật gù:

- Còn khoản thứ ba?

- Khoản này rất khó. Vương-gia về triều, cần tỏ ra cực kỳ trung thành với Hoàng-đế với Lưu-hậu. Việc gì Vương-gia cũng cáng đáng. Hễ triều thần có ai bị trách phạt, Vương-gia đều khẩn khoản xin ân xá. Quần thần cho rằng Vương-gia rộng lượng. Đến trình độ đó, nhân tâm hướng về Vương-gia hết rồi. Chắc chắn Lưu hậu sẽ tìm cách hại Vương-gia. Bấy giờ Vương-gia hô một tiếng, anh hùng, sĩ dân theo Vương-gia hết như xưa kia dân không theo con vua Nghiêu, mà theo về vua Thuấn. Vương-gia cô lập bà ta dễ dàng.

Triệu Thành trầm tư một lúc, rồi lắc đầu, mà không nói gì. Lý Cương tiếp:

- Chắc Vương-gia đang lo nghĩ về thế lực của Lưu-hậu, e khó thực hiện chăng?

- Đúng vậy. Bà có nhiều cao thủ nằm ngay trong Hoàng-thành.

Lý Cương ngồi ngay ngắn lại:

- Lưu-hậu chỉ mạnh ở Biện-kinh, chứ đối với các nước xung quanh, với các châu lại rất yếu. Mà Lưu-hậu mạnh nhờ thế lực nào? Bàn chung bà chỉ có năm người: Tôn Đức-Khắc, Lê Lục-Vũ, Khiếu Tam Bản, Sử-vạn Na-vượng và Tào Lợi-Dụng. Cả năm người này đều thuộc Hồng-thiết giáo. Mà Hồng-thiết giáo là kẻ thù của bản triều. Loại chúng ra đâu khó?

Triệu Thành lắc đầu:

- Sư đệ không biết đó thôi. Lưu hậu mưu cùng ta mưu chiếm Nam-phương, rồi bà giả tin tưởng, trao cho ta quyết định mọi sự, rồi sai ta đi sứ, với ba điều lợi cho bà. Một là bà muốn mượn tay võ lâm Đại-Việt giết ta, nếu ta có thoát khỏi họ cũng thù oán ta. Hai là ta thành công, thì cũng gây thù chuốc oán với các nước thuộc tộc Việt. Ba là trong khi ta vắng nhà, bà thay đổi hết những chức quan về thị vệ, ngự lâm quân. Lúc ta trở về sẽ trở thành cô thế.

Lý Cương hỏi:

- Thế vương gia đối phó ra sao?

- Sư phụ với Đông-Sơn đạo sư đã bàn với ta, nên tương kế tựu kế. Ta vờ vui vẻ lên đường. Khi qua Quảng-Tây mang theo Dư Tĩnh là cháu Lưu-hậu. Việc gì ta cũng bàn với Dư. Vì vậy Lưu-hậu không đề phòng, Dư dùng hệ thống tế tác đặc biệt, mật gửi tấu chương về cho Lưu-hậu. Vì vậy Lưu-hậu không đề phòng ta.

Lý Cương hỏi:

- Việc Ngô Tích chắc cũng do Vương-gia bầy ra để lừa Lưu-hậu.

- Đúng thế. Dư Tĩnh bàn với ta: Nhân gái Việt đẹp, bầy ra vụ Ngô mê gái, hầu có người nằm trong lòng Khu-mật-viện Đại-Việt, thông tin cho mình. Dư ngu thực. Giữa ta với Ngô có tình sư huynh sư đệ, lại đồng môn, mà Dư không biết đến lẽ đó. Bề ngoài ta bàn với Dư, Ngô diễn màn kịch tại Vạn-thảo sơn-trang. Nhưng thực sự ta nhờ Ngô khi về với Đại-Việt, tìm cách gặp riêng Lý Long-Bồ, chuyển đề nghị liên minh ta với Bồ.

Lý Cương gật đầu:

- Trí lực Vương-gia không tầm thường. Thế Bồ đã giúp mình được gì rồi?

- Bồ cho con gái Hồng-Sơn đại phu cùng với Lê Ngọc-Phách chuyển cho ta một kế hoạch loại Lưu-hậu. Lê tiểu thư, Ngọc-Phách cùng ta gặp nhau ở hạm đội Động-đình, mà Dư tưởng rằng ta bắt hai người ấy dịch sách thực. Này sư đệ, nếu người là ta, người sẽ loại Lưu-hậu bằng cách nào?

- Lưu-hậu là người của Hồng-thiết giáo tiềm ẩn trong cung, mưu cướp ngôi, rồi cùng Nhật-Hồ lão nhân lập ra Thiên-hạ Hồng-thiết. Chỉ cần sao lộ ra việc này, anh hùng thiên hạ xúm vào hạ bà ngay.

Nguyên-Nghiễm cười:

- Sư đệ hay thực. Bồ sai Bình-Dương, Thiệu-Thái theo ta, khuyên ta cướp ngôi vua, như vậy Dư Tĩnh sẽ tâu về triều. Lưu-hậu nắm được cớ hại ta. Bà trở thành kiêu căng, không úy kị gì nữa. Bà phong chức tước cho đám bộ hạ Hồng-thiết. Như vậy bà công nhiên khai chiến với cả triều đình. Chúng ta lấy Nho trị dân, bà dùng Hồng-thiết. Thế là cả thiên hạ chống bà.

- Bà đã phong chức tước cho những ai?

- Tôn Đức-Khắc đang từ chức vụ tổng-quản Thị-vệ, tước hầu, bà thăng lên:

Thái-sư thiếu phó, Đồng-trung thư môn hạ bình chương sự, Kinh-hồ Tiết-độ sứ, Tổng-lĩnh thị-vệ, cùng Ngự-lâm quân, tước Ngô-quốc công. Lê Lục-Vũ đang từ Tổng-lĩnh Ngự-lâm quân, tước hầu, thăng lên Thái-tử thiếu bảo, Nam-thiên kinh lược sứ, Tả-vệ thượng tướng quân, Việt-quốc công.

Lý Cương kinh hãi:

- Chà! Bà ta lộng hành qúa đáng.

- Chưa hết bà phong cho Sử-vạn Na-vượng được thăng lên làm Hoài-hóa đại tướng quân, Nam-thiên tiết độ sứ, Tổng-lĩnh thị vệ. Khiếu-tam-Bản được thăng Thái-tử thiếu-sư, Tả-kiêu vệ thượng tướng quân, Nam-thiên tiết độ sứ, Tổng-lĩnh ngự-lâm quân. Ngoài ra còn mười trưởng lão bang Nhật-hồ Trung-quốc được phong Nhập-nội đô tri, mỗi người coi một đội Thị-vệ.

Lý Cương hỏi:

- Lý Long-Bồ biết việc này chưa?

- Chính y báo cho ta biết, vì vậy y cùng ta thiết kế tỷ mỉ loại Lưu-hậu rồi.

Đến đó hai người nói nhỏ quá, Mỹ-Linh, Thiệu-Thái không nghe rõ.

Một lát Triệu Thành ôm lấy lưng Lý Cương:

- Trời đem sư đệ cho ta. Còn việc thi võ Biện-kinh kỳ này. Ta phải làm gì?

- Vương-gia mở rộng cửa, khoản đãi võ lâm. Người trúng cách, Vương-gia đặc ân khen thưởng, nói lời nhỏ nhẹ phủ dụ. Người không trúng cách, Vương-gia cũng xét xem ai có tài, lục dụng. Hoá ra họ trở thành chân tay Vương-gia hết.

Nguyên-Nghiễm mở cửa gọi Đinh Toàn vào. Lý Cương nói:

- Còn Vệ-vương, dù sao cũng có chút lòng hướng về Thiên-triều. Vương-gia nói một tiếng với Lý Long-Bồ, cắt cho khoảng đất vùng Trường-yên làm nơi thờ tiên vương Đinh triều. Như vậy, sĩ dân Giao-chỉ ai cũng phục Vương-gia cả.

Đinh Toàn đứng lên chắp tay hướng Lý Cương:

- Đa tạ tiên sinh quan hoài.

Lý Cương chỉ Hồ Dương-Bá:

- Còn Hồ huynh đây, suốt bao năm sang Giao-chỉ tiềm ẩn, công lao không nhỏ. Vậy Vương-gia trở về triều, tâu phong xứng đáng cho Hồ huynh cùng phu nhân. Vương-gia xin Hoàng-thượng ban chỉ đại xá cho dư đảng, con cháu của bang Nhật-Hồ Trung-quốc, để họ có dịp đem tài ra lập công.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

- Không biết người này là ai? Tên thực là gì? Cứ nghe lời biện luận như sông trôi nước chảy, lý luận xác đáng đứng đạo quân tử. Như vậy ngoài võ công, y còn có kiến văn quảng bác. Ta e rằng tài y bỏ xa bọn Dư Tĩnh, Vương Duy-Chính. Những điều y cố vấn cho Triệu Thành rõ ra bậc chính nhân quân tử. Nếu sự thực Triệu Thành nghe lời y, dân Trung-nguyên cũng như các nước xung quanh ắt trải qua một thời kỳ hoà bình, thịnh trị. Như vậy, Triệu Thành sẽ có sự nghiệp Chu-Công thực, chứ không phải như mình với Thiếu-Mai vẽ ra bức ảnh phù ảo cho y.

Đến đó Lý Cương hô dọn tiệc, để mọi người ăn uống.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái sẽ rời khỏi nóc nhà. Hai người trở lại bãi biển, trời vừa sáng. Cái mủng với bốn thủy thủ vẫn còn chờ tại đó. Bây giờ có thêm Đỗ Lệ-Thanh. Thấy Thiệu-Thái, Mỹ-Linh về, Đỗ Lệ-Thanh mừng mừng, tủi tủi. Bà nắm lấy tay Thiệu-Thái:

- Chủ nhân đã về. Chủ nhân với công chúa đi đêm, làm lão tỳ lo lắng vô cùng.

Thiệu-Thái cảm động:

- Phu nhân xứng đáng một phụ nữ Trung-quốc. Lòng dạ phu nhân thực không gì quý bằng.

Mỹ-Linh dặn dò thủy thủ mấy câu, để y về nói lại với Minh-Thiên, Dực-Thánh vương. Rồi ba người trở lại ngôi tiểu thành. Thiệu-Thái bàn:

- Chúng ta phải làm gì?

- Bây giờ ta vào chợ kiếm cái gì ăn uống đã. Sau đó theo dõi bọn Triệu Thành. Chắc chắn sau khi đào kho tàng, dù có, dù không, y cũng sẽ đi về biên giới Hoa-Việt, để gặp chú hai. Ta phải cho chú hai biết hết tình hình, để người định liệu nới được.

Đỗ Lệ-Thanh cầm tay Mỹ-Linh, bà run run, nước mắt đầm đìa:

- Công chúa! Tiểu tỳ cầu mong công chúa chủ trì công đạo cho vụ Nguyên-Hạnh với Cao Thạch-Phụng.

Mỹ-Linh thở dài:

- Đỗ phu nhân! Từ hôm Đỗ phu nhân về Thăng-long với tôi. Tôi truyền cho Đỗ phu nhân khá nhiều về Vô-ngã tướng Thiền-công. Tôi nghĩ bây giờ phu nhân có thể chính mình ra tay đòi nợ Cao Thạch-Phụng được rồi. Không biết phu nhân nghĩ sao?

Đỗ Lệ-Thanh tỉnh ngộ:

- Đa tạ công chúa! Tiểu tỳ quên mất điều đó.

Ba người vào chợ, tìm một quán ăn. Mỹ-Linh uốn cong lưỡi lên nói tiếng Quảng, nhờ tửu bảo mua dùm mấy bộ quần áo thôn quê cùng ba con ngựa.

Ăn xong, ba người trở lại tiểu thành, thấy cặp chim ưng bay khá xa với thị trấn. Như vậy bọn Triệu Thành đã lên đường rồi.

Ba người ngắm hướng đôi chim ưng mà đi. Mỹ-Linh móc trong bọc ra ba cái thẻ bài. Nàng đưa cho Thiệu-Thái, Đỗ Lệ-Thanh, mỗi người một cái:

- Anh nhớ nhé. Anh có tên Thái Thân. Em tên Đỗ Linh. Đỗ phu nhân Lý Lệ. Chúng ta ở trại Như-hồng, thuộc biên thùy Trung-quốc, Giao-chỉ, sang đây tìm thầy học thuốc nhé. Lỡ chạm trán bọn Triệu Thành, chúng ta thản nhiên nói: Vì cần bảo vệ chân mệnh Thiên-tử, nên chúng ta vượt biển tìm y. Như vậy y càng cảm động.

Thời bấy giờ vùng Quảng-Đông dân chúng còn nói tiếng Việt khá nhiều. Dù tiếng Việt của họ không còn nguyên thủy, mà pha phân nửa tiếng Hán. Nguyên, trong thời cuối đời Đường, nhân loạn lạc, anh hùng vùng Nam-hải thời Lĩnh-Nam, tức Phúc-Kiến, Quảng-Đông, Quảng-Tây nổi lên lập lại nước Ngô-Việt. Sau Ngô-Việt bị chia làm hai. Phía Nam thành Nam-Hán, phía Bắc vẫn giữ tên Ngô-Việt. Ngô-Việt bị Tống thôn tính. Vì vậy dân chúng trong vùng này vẫn tự nhận mình người Việt hoặc người Hoa gốc Việt.

Đi đến chiều, mới tới Khúc-giang. Ba người xuống ngựa, dạo trong phố chợ. Mỹ-Linh hỏi Thiệu-Thái:

- Anh có biết Khúc-giang trước đây sản xuất ra nhiều anh tài cho tộc Việt mình không?

- Anh không nhớ. Mỹ-Linh kể cho anh nghe đi!

- Ừ em kể. Thời Âu-lạc, tể tướng Trần Tự-Minh giúp vua An-Dương cai trị nước. Ngài được phong tước Phương-chính hầu. Khi Tần Thủy-Hoàng sai Đồ Thư đem năm mươi vạn quân sang đánh. Vua An-Dương thấy đất mình rộng, dân mình thưa, mới truyền rút về phương Nam. Đồ Thư lập ra ba quận Nam-hải, Quế-lâm, Tượng-quận. Giòng dõi Phương-chính hầu không chịu bỏ đất tổ, lui về thủ ở vùng Khúc-giang. Đồ Thư chết rồi, Triệu Đà thay thế. Mấy lần y đem quân vào đánh, đều bị thua. Y đành để vùng này cho giòng dõi họ Trần cai trị như một tiểu quốc riêng.

- Rồi sau ra sao?

- Đến đời thứ tám, thì chi hai, chi ba là Trần Phương-Đức, Trần Đại-Sinh mới di cư xuống Giao-chỉ lập nghiệp.

- Anh biết rồi! Trần Đại-Sinh sau thành Khất-đại phu. Còn ngài Trần Phương-Đức sinh ra Nam-thành vương Trần Minh-Công, Nam-hải nữ hiệp Trần Thị Phương-Châu, Tiên-yên nữ hiệp Trần Thị Phương-Chi, Thiên-trường đại hiệp Trần Quốc-Hương.

- Tuy vậy ngành trưởng vẫn sống ở Khúc-giang. Đời thứ chín nảy ra sáu vị đại anh hùng nữa.

- Ai nhỉ? Anh chỉ nghe nói tới năm vị tức Khúc-giang ngũ hiệp. Năm vị tuân chỉ vua Trưng khởi nghĩa ở Nam-hải. Sau vua Trưng phong cho làm Nam-hải vương. Còn người thứ sáu tên gì?

- Anh quên mất ngài Trần Tự-Sơn tức Nghiêm-Tử-Lăng à?

- Ừ nhỉ!

- Em đọc sách thấy nói tại Khúc-giang hiện vẫn còn mộ của Khúc-giang ngũ hiệp. Trên bờ sông có mộ phần, cùng đền thờ của Nam-hải nữ hiệp, với phu nhân của anh hùng Chu Bá.

- Có phải hai bà tử trận trong khi đánh chiếm vùng Nam-hải không?

- Gần như vậy. Sau khi vua Trưng thành đại nghiệp, sắc phong Nam-hải nữ hiệp làm Lĩnh-Nam tuyên từ, huệ đức, Nam-hải công chúa.
Phong bà Lê Thị Hảo làm Lĩnh-Nam, ninh tĩnh, chí minh, Hoà-huệ công chúa. Chúng ta phải tới đền thờ dâng hương mới được.

Chợt có tiếng nói rất rõ ràng đâu đó vọng lại:

- Đang làm việc vá trời, dấu thân phận còn không xong, lại đi dâng hương, chẳng hóa lậy ông tôi ở bụi này ư?

Mỹ-Linh kinh hoảng nhìn xung quanh, tuyệt không có người nào lạ. Chỉ có năm người mặc quần áo nâu theo lối ngư nhân. Mỗi người cầm một xâu cá, đang len lỏi đi cạnh nàng. Họ trang phục giống nhau, chỉ khác nhau ở mầu mũ. Năm người đội mũ mầu trắng, đen, xanh, đỏ, vàng. Một ngư ngân méo miệng trêu nàng.

Nàng nhìn kỹ lại: Năm ngư nhân hình dạng rất kỳ lạ, thân hình ngắn, trong khi chân dài, mà cao. Ngư nhân mũ đỏ nói bâng quơ bằng tiếng Việt:

- Cho lợn ăn ngay đi. Lợn đói rồi. Bằng không nó ủn ỉn bây giờ.

Nói rồi y méo miệng trêu nàng. Nàng định lên tiếng hỏi, cả năm đã biến mất trong đám đông.

Đỗ Lệ-Thanh kinh hãi:

- Chúng ta âm thầm tới đây, trời không biết, quỷ không hay. Sao năm ngư nhân đã nhận diện được. Tiểu tỳ thấy lưng họ quen quá, mà không biết đã gặp ở đâu? Có thể nào Khu-mật viện sai họ theo giúp mình chăng?

Mỹ-Linh tỏ ý lo lắng:

- Không lẽ! Khu-mật viện làm sao theo chúng ta được?

Bụng đã đói, nàng để ý thấy phía trước có một người đàn ông gánh một gánh mì, khói bốc lên nghi ngút. Da mặt người này dăn deo, rất khó đoán tuổi. Mỹ-Linh dừng chân trước gánh mì. Nàng nói:

- Ông cho chúng tôi bốn bát mì.

Ông lão bán mì hỏi lại:

- Lão có ba loại mì. Mì chay, mì vịt và mì tôm. Cô nương dùng mì nào?

Thiệu-Thái trông thấy mấy con tôm đỏ hỏn đẹp mắt, chàng nói:

- Ông cho tôi hai bát mì tôm. Một bát mì vịt cho vị sư tỷ, một bát mì chay cho em tôi.

Ông lão bán mì cười:

- Cậu ăn khoẻ thực, khoẻ hơn lợn chắc, ăn những hai bát mì tôm.

Thiệu-Thái thấy trong khi làm mì, ông lão dùng muổng nhúng mì vào nước sôi, rồi rung tay một cái, dắt mì bay lên rơi vào giữa bát. Chàng kinh ngạc:

- Lão bán mì này nội công không tầm thường. Có lẽ lão cùng bọn với năm ngư nhân cũng nên.

Mỹ-Linh cũng đã nhận ra cái khác lạ của lão bán mì. Ăn xong, nàng móc tiền hỏi lão:

- Bao nhiêu tiền bốn bát mì?

Lão trả lời rất sẽ:

- Tôi có năm đồng. Tôi cần một đồng hay hai đồng.

Thiệu-Thái giật mình. Vì đó là thuật ngữ của Hồng-thiết giáo, nay cải thành Lạc-long giáo. Khi hai giáo chúng gặp nhau, họ thường dùng thuật ngữ để tự giới thiệu. Lão nói có năm đồng tức lão đứng hàng thứ năm trong giáo. Thứ nhất giáo chủ. Thứ nhì trưởng lão. Thứ ba chưởng quản một vùng. Thứ tư chưởng quản một quận. Thứ năm chưởng quản một huyện. Lão nói cần một đồng hay hai đồng, có nghĩa lão đi đón giáo chủ cùng trưởng lão.

Mỹ-Linh nói nhỏ:

- Anh tôi có một đồng. Tôi có hai đồng.

Ông ta chỉ về phía bờ sông:

- Có con đò, trên nóc kéo giải vải đỏ. Xin cô cậu xuống đó.

Mỹ-Linh làm bộ trả tiền ông bán mì, rồi ba người dắt ngựa đi về phía bờ sông.

Khi mới nhận chức giáo chủ Lạc-long giáo, Thiệu-Thái được biết giáo chúng vùng Quảng-Đông, Quảng-Tây rất đông, rất mạnh.

Nguyên Hồng-thiết giáo tuy tàn bạo, ác độc, nhưng họ vẫn qui tụ những phần tử yêu nước. Vùng Lưỡng-Quảng thuộc Ngô-Việt, mới bị mất nước, nên dân chúng theo Hồng-thiết giáo rất đông, mong khôi phục trở lại. Khi đi, Thiệu-Thái đã lệnh cho trưởng lão Lê Đức, Nhất-Bách đến Quảng-Đông, cùng giáo chúng chuẩn bị đào kho tàng. Có lẽ hai người lệnh giáo chúng khắp nơi chờ đón chàng.

Tới bờ sông. Có ba đứa nhỏ đon đả chạy ra cầm lấy cương ngựa:

- Cô cậu đi chơi sông hẳn? Để cháu giữ ngựa cho.

Mỹ-Linh trao cương ngựa cho chúng, rồi bước xuống con đò, trên có giải vải đỏ. Hai người vừa leo qua cây ván làm cầu, cánh cửa đò đã mở rộng. Thiệu-Thái chui vào trước. Mỹ-Linh, Lệ-Thanh chui vào sau. Cánh cửa đóng lại. Bên trong, Lê Đức, Đào Nhất-Bách khom lưng hành lễ:

- Suốt hơn tháng qua, bọn thuộc hạ không được tin giáo chủ cùng công chúa, sau phái anh em đi khắp nơi tìm kiếm. Hay đâu hôm qua, một anh em đã thấy giáo chủ. Y sai ngựa về báo cho thuộc hạ biết. Vì vậy hôm nay anh em thuộc hạ đón chờ giáo chủ ở đây.

Thuyền từ từ rời bến.

Lê Đức hỏi:

- Ngoài giáo chủ, công chúa với Đỗ phu nhân, mình còn ai nữa không?

- Kể ra còn nhiều, nhưng không biết bao giờ đến. Tình hình kho tàng ra sao?

- Bọn thuộc hạ đã tìm ra manh mối. Nhưng từ đêm qua đến giờ, thiết kị, giáp binh kéo đến đóng khắp nơi. Dường như bọn Tống cũng biết chỗ chôn dấu, nên đến tìm kiếm. Hôm nay đã là ngày hai mươi tháng mười. Chỉ còn gần tháng nữa tới ngày rằm tháng mười một. Đúng ngày ấy, giờ Tý cửa hang mở. Nếu ta không biết cửa hang ở đâu, phải sáu mươi năm sau, cửa hang mới mở lại lần nữa.

Mỹ-Linh cười:

- Trưởng lão đừng sợ. Những phe phái kia họ không tìm ra đâu. Ta đợi họ tìm chán, rút quân đi, rồi ta mới đào lên cũng chưa muộn.

Nàng định tường thuật chi tiết những gì xẩy ra trong hơn tháng trên biển. Nhưng chợt động tâm cơ, nàng nghĩ lại:

- Đào Nhất-Bách, khả dĩ tin được. Duy Lê Đức, ta không thể kể hết cho y nghe.

Nàng nói:

- Trưởng lão lệnh cho giáo chúng ẩn thân hết. Mặc Tống làm gì thì làm. Đợi họ rút, ta mới ra tay. Tình hình biến đổi hoàn toàn. Khai-Quốc vương hiện đang trên đường sang Biện-kinh. Bình-Nam vương Triệu Thành đổi hẳn thái độ. Họ tìm cách thân thiện với ta. Vậy trưởng lão lệnh toàn giáo chúng bất động, cho tới khi có lệnh mới.

Thiệu-Thái tiếp:

- Hiện Bình-Nam vương Triệu Thành đang có mặt trong vùng này. Ngày một ngày hai, chúng tôi sẽ xuất hiện, đi cạnh họ. Các vị đừng ngạc nhiên. Nếu cần, các vị cũng nên xuất hiện, tỏ ý tuân phục y, và chống Lưu hậu.

Lê Đức cực kỳ thông minh. Y hiểu liền:

- Có phải ta khích y cướp ngôi vua Tống không?

Mỹ-Linh gật đầu:

- Gần như vậy. À, Lê trưởng lão, người nghe nhiều, hiểu rộng, có biết cạnh Triệu Thành còn một người trẻ tuổi, y xưng tên Lý Cương. Triệu Thành gọi y bằng sư đệ. Thân thế y ra sao?

- Y không phải họ Lý đâu. Tên thực y là Phạm Trọng-Yêm, người đất Ngô-huyện, sinh năm Kỷ-Sửu (989) nhằm niên hiệu Đoan-củng thứ nhì đời Tống Thái-tông. Tương đương với bên Đại-Việt niên hiệu Hưng-thống nguyên niên đời vua Lê Đại-Hành. Nhà nghèo, chăm học, thông minh, nghe nhiều, hiểu rộng. Đậu tiến sĩ niên hiệu Đại-trung Tường-phù đời Tống Chân-tông. Khi Chân-tông băng, Lưu-hậu cầm quyền, y được cử coi phủ Khai-phong, tức như bên Đại-Việt chức tổng trấn Thăng-long. Gần đây chuyển qua coi Khu-mật viện. Chức tước của y như sau : Tham tri chính sự, đồng bình chương sự, Khu-mật viện phó sứ.

Thiệu-Thái hỏi Mỹ-Linh:

- Chức tước ấy có lớn không?

- Tham-tri chính sự là phó tể tướng. Tống triều có tả, hữu tể tướng và sáu tới mười hai phó tể tướng. Đồng-bình chương sự, là coi về văn.

- À, y còn trẻ mà đã làm lớn. Tại sao y gọi Triệu Thành bằng sư huynh?

- Nguyên do thế này. Triệu Thành là đệ tử Minh-Thiên đại sư. Phạm Trọng-Yêm đệ tử Minh-Sơn đại sư. Minh-Thiên là sư huynh Minh-Thiên. Võ công Trọng-Yêm cực kỳ cao thâm. Y đấu với Địch-Thanh trên bốn trăm chiêu, bất phân thắng bại.

Mỹ-Linh kinh ngạc:
- Văn y đậu tiến sĩ. Võ y cao vào bậc nhất. So sánh y với Dư Tĩnh, Vương Duy-Chính ra sao?

- Tài y như mặt trăng mặt trời. Dư, Vương chỉ có thể ví với đom đóm mà thôi. Dư, Vương thuộc thứ thư lại, thứ chỉ biết thuận theo ý chủ. Còn Phạm có cái trông rộng, nhìn xa, tư tưởng bao la bát ngát. Trong lòng y lại hàm chứa tinh thần Nho gia, không thích gây chiến với lân bang.

- Hèn gì, y lý luận đâu ra đấy. Tôi thấy Triệu Thành nể y muốn hơn Minh-Thiên đại sư.

- Công chúa nói đúng. Khi tiếp xúc với y phải cẩn thận. Y thuộc loại cực kỳ thông minh, lại tinh minh mẫn cán số một, số hai triều Tống. Hiện y giữ chức Khu-mật viện sứ. Tương đương với chức vụ của Tạ Sơn ở Đại-Việt.

Đào Nhất-Bách tiếp:

- Trong trấn Khúc-giang hiện còn có người của Liêu, Cao-ly, Tây-hạ. Họ cũng tới tìm kho tàng. Không hiểu sao họ cũng có bản đồ, biết chi tiết nà mò tới đây.

Mỹ-Linh cau mày suy nghĩ, rồi gật đầu:

- Khó hiểu quá. Ta cứ đứng ngoài nhìn họ tranh dành. Vậy thế này, Đào trưởng lão cho anh em dàn ra chờ người của các đại môn phái Đại-Việt tới đây, thông báo cho họ biết tình hình, cùng lo chỗ cho họ ẩn thân, bằng không Phạm Trọng-Yêm tung quân bắt hết e phiền phức lắm.

Nhất-Bách than thở:

- Giáo chúng muốn ẩn thân, nhưng khó quá. Trong vòng một tháng qua, trấn Khúc-giang nảy ra nhiều kì nhân, dị sĩ, làm lắm truyện lạ đời. Sau mỗi vụ như vậy, võ lâm các nơi ẩn thân lại bị lộ hình tích rồi bị quan quân vây bắt đi.

Mỹ-Linh kinh ngạc:

- Đại khái những vụ ấy ra sao?

- Đầu tiên năm cô gái xuất hiện phá đền thờ Mã Viện. Rồi năm đạo sĩ cướp hai chiến thuyền chở lương thực cho thiết kị, đem phát chẩn cho dân chúng. Lại nữa, trộm vào công khố lấy trộm vàng, còn cạo trọc đầu tướng chỉ huy thiết kị. Trấn này muốn nổ tung ra về những vụ đó.

Thiệu-Thái hỏi Đào Nhất-Bách:

- Đào trưởng lão. Trưởng lão có biết phần mộ của Khúc-giang ngũ hiệp cùng đền thờ hai vị nữ anh hùng Lĩnh-Nam ở đâu không?

Nhất-Bách cung kính đáp:

- Khải bẩm giáo chủ, phần mộ Khúc-giang ngũ hiệp hiện nằm trên núi Ô-thạch. Còn đền thờ Nam-hải nữ hiệp ở Sa-khẩu. Ô thạch ít người lai vãng, chứ Sa-khẩu thì quanh năm dân chúng kéo về lễ bái đông nghẹt. Nhất là từ mấy hôm nay thuộc ngày rằm.

Mỹ-Linh đề nghị:

- Theo ý trưởng lão, chúng tôi phải trang phục thế nào, khi đi hành hương hai di tích trên?

- Hiện vùng này dân chúng trang phục phân nửa theo Tống, phân nửa theo Việt. Tiếng nói cũng pha trộn lẫn lộn. Thuộc hạ nghĩ giáo chủ cùng công chúa cứ trang phục như người Việt, nói tiếng Việt tiện hơn. Còn Đỗ phu nhân, vốn người Hoa, trang phục sao cũng được.

Đào Nhất-Bách nói:

- Bây giờ thế này, giáo chủ cùng công chúa trang phục thành hai anh em cô cậu con nhà giầu. Còn thuộc hạ với Đỗ phu nhân giả làm tùy tùng mang lễ vật theo. Bây giờ chúng ta thăm Ô-thạch. Tối lễ đền Sa-khẩu.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái vào khoang thuyền thay quần áo. Bấy giờ trời vào tiết tháng mười một, gió rú lên từng cơn qua song cửa, qua lá cây úa, hơi lạnh len lỏi trong gió. Mỹ-Linh mặc quần áo lụa trắng, dây lưng mầu tím, khăn choàng cổ cũng mầu tím viền vàng. Bên ngoài nàng khoác chiếc áo xanh lá cây lợt. Thiệu-Thái mặc bộ quần áo mầu nâu sẫm. Cả hai đeo kiếm, rồi cùng Đào, Đỗ vào chợ. Đào-nhất-Bách thông thuộc đường lối. Y mua sắm nào hoa, nào quả, nào gà, nào lợn, rồi mượn người chất lên xe, chở theo.

Bốn người đi về phía Bắc. Rời khỏi trấn Khúc-giang, một cảnh trí như tranh vẽ làm Mỹ-Linh cảm thấy trong lòng khoan khoái: Bấy giờ vào cuối Thu, lá rừng núi biến thành một mầu vàng đỏ ối. Hai bên đường, hoa cúc hoang nở rực rỡ. Xa xa, trên sông, những con chim âu mầu trắng bay lượn nhịp nhàng.

Nhất-Bách chỉ vào ngọn núi phía trước:

- Kia là núi Ô-thạch.

Mỹ-Linh nhìn theo: Ngọn núi có hình dạnh giống như con quạ. Đầu quạ hướng ra sông. Hai cánh toả ra giải đồng rộng bao la. Đuôi cong dựa vào hòn núi dốc thẳng đứng.

Nhất-Bách chỉ vào mấy điểm trắng trên đầu quạ:

- Mấy điểm trắng kia là lăng mộ của Khúc-giang ngũ hùng.

Thiệu-Thái thắc mắc:

- Mỹ-Linh này! Anh đọc sử thấy nói Khúc-giang ngũ hùng bị đánh thuốc độc giữa lúc Lưu Long mang đại quân công Nam-hải. Đệ tử đem thi hài táng vào nơi bí mật. Vì vậy tin này về triều đình Lĩnh-Nam, tể tướng Nguyễn Phương-Dung không tin năm vị bị đầu độc. Thế sao bây giờ lại có lăng mộ ở đây?

Mỹ-Linh chợt nhớ tới một bản tấu trình về kho tàng Tần-Hán, Âu-Việt tại Khu-mật viện Đại-Việt. Trong bản phúc trình đó có nói: Sự thực Khúc-giang ngũ hùng thấy thế không giữ nổi Nam-hải. Năm ông cùng đệ tử mai danh ẩn tích. Dối rằng bị đầu độc chết. Bình-Ngô đại tướng quân tổng trấn Nam-hải là công chúa Thánh-Thiên cũng được lệnh rút về Giao-chỉ. Công chúa truyền xây năm ngôi mộ giả. Trong năm ngôi mộ này có nhiều kí hiệu để tìm ra chỗ dấu kho tàng. Trước khi khởi hành cùng Thiệu-Thái, Khai-Quốc vương sai Đỗ-lệ-Thanh chuyển cho nàng một mật lệnh. Nàng học thuộc rồi đốt đi. Trong mật lệnh đó dặn nàng phải chiếu những điều cơ mật trong tập di thư dành cho chưởng môn phái Mê-linh, cùng kí hiệu trên lăng Khúc-giang ngũ hùng, hầu tìm kho tàng.

Những bí ẩn đó, đến Thiệu-Thái, nàng cũng không cho biết. Bây giờ, sắp đến lăng Khúc-giang ngũ-hùng, lòng nàng rộn lên những cảm giác khó tả.

Ngựa bắt đầu theo con đường thoai thoải leo núi. Con đường vòng vèo như ruột dê. Núi Ô-thạch không cao lắm. Thoáng cái đã tới đỉnh. Đỉnh có khu vực bằng phẳng ước khoảng năm sáu mẫu, trồng toàn một loại thông hàng lối ngay thẳng. Chính giữa, năm ngôi mộ xây theo đội hình đặc biệt: Hai ngôi hai bên. Một ngôi ở giữa. Mộ xây bằng đá ong, nhưng lại quét vôi mầu trắng. Phía trước một bàn thờ cũng bằng đá ong cao khoảng bằng ngực một người trung bình. Trên bàn thờ, năm bát hương bằng đá, khắc hình rất tinh vi.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh, Đào Nhất-Bách cùng bẻ cành thông quét bàn thờ thực sạch sẽ. Mỹ-Linh truyền người gánh thuê đem phẩm vật cúng bầy ra. Đỗ Lệ-Thanh đánh lửa đốt hương, nến lên.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh quỳ gối trước. Đào, Đỗ quỳ phía sau, lễ đủ tám lễ. Mỹ-Linh khấn:

- Đệ tử Lý-Mỹ-Linh, tước phong công chúa Bình-Dương của Đại-Việt, biểu huynh Thân Thiệu-Thái giáo chủ Lạc-Long giáo, trưởng lão Đào Nhất-Bách, cùng với lương y Đỗ Lệ-Thanh. Hôm nay nhân bọn đệ tử qua Khúc-giang, tưởng nhớ anh linh năm đại vương xưa, hùng khí trùm hoàn vũ, trấn Nam-hải, bảo vệ đất tổ... đệ tử dâng chút lễ mọn. Tại thiên chi linh, xin năm vị đại vương cùng về hưởng, phù hộ cho tộc Việt mau thống nhất.

Lễ tất, Mỹ-Linh đứng dậy rót rượu, đùng đao chặt gà, lợn bầy ra đĩa.

Đứng nhìn, nàng để ý thấy năm ngôi xây theo năm hình khác nhau. Ngôi chính giữa hình như cái bát úp. Ngôi hai ngôi bên phải, một hình chữ nhật, một hình vuông. Hai ngôi bên trái, một hình giống như trái xoan, một lại hình năm cạnh.

Thiệu-Thái cũng đã thấy cái khác biệt đó. Chàng hỏi Mỹ-Linh:

- Em thử đoán xem. Trong năm ngôi này, ngôi nào của ngài Nhất-gia? Ngôi nào của ngài Nhị, Tam, Tứ, Ngũ-gia?

Đào Nhất-Bách góp ý:

- Theo ý thuộc hạ, có lẽ người xưa xây mộ không đề danh hiệu các ngài, mà xây năm ngôi mộ năm dạng, ứng với biểu hiệu đương thời mỗi ngài. Nay thời gian qua lâu, không còn ai nhớ được nữa.

Trong khi Thiệu-Thái, Đào Nhất-Bách cùng Đỗ Lệ-Thanh phỏng đoán này nọ, Mỹ-Linh cố moi óc tìm hiểu xem năm hình này ngụ ý gì? Nhưng càng nghĩ càng thấy không có căn cứ nào cả. Nàng tự nhủ:

- Cứ như trong mật thư của phái Mê-linh ghi chú, thì sau khi thành đại nghiệp, vua Trưng sai công chúa Yên-lãng Trần Năng cùng Nghi-hoà công chúa Trần Quế-Hoa, Trần Quỳnh-Hoa lên hồ Động-đình đào kho tàng Tần-Hán mang về. Khi tới Khúc-giang, gặp đoàn cao thủ của Mã thái hậu đuổi rất gắt. Công chúa Yên-lãng cho chôn vào một chỗ bí mật. Niên hiệu vua Trưng thứ ba, khi biết thế nước chông chênh. Vua Trưng sai sứ lên truyền lệnh cho Khúc-giang ngũ hùng cùng công chúa Thánh-Thiên đào kho tàng Tần-Hán mang về Giao-chỉ. Sứ giả tới Nam-hải đúng lúc Khúc-giang ngũ hùng bị đánh thuốc độc chết. Công chúa Thánh-Thiên bị đại quân Lưu Long vây gấp, người đành giả xây mộ cho Khúc-giang ngũ hùng, mượn mộ ghi khắc chi tiết nơi chôn cất kho tàng. Cho nên hơn nghìn năm qua, ai cũng tưởng mộ năm ngài, nhưng thực sự lại ghi dấu vết mà thôi.

Hương đã tàn, nàng bảo Thiệu-Thái:

- Anh hạ lễ xuống, cùng Đỗ phu nhân, Đào trưởng lão thụ lộc đi. Em ăn chay, cho em mấy quả chuối được rồi.

Nàng lấy nải chuối, ngồi riêng ra một tảng đá suy nghĩ. Tần ngần nàng mở bọc đem bộ Dụng binh yếu chỉ ra đọc. Trong trí óc, nàng nhớ lại một truyện: Hồi ở Thăng-long, mới tìm được bộ binh thư này, Khai-Quốc vương với nàng đem ra nghiên cứu. Cả hai đã vướng phải một đoạn, mà không sao hiểu được. Nàng nhớ mang máng rằng dường như trong đó có nói tới hình dạng năm ngôi mộ.

Nàng mở ra đọc. Không khó nhọc, nàng tìm ra đoạn ấy ngay:

" Khi ta viết đến chương cuối bộ binh thư này, là lúc được chỉ dụ vua Trưng phải rút khỏi Nam-hải. Ta cho người liên lạc với Khúc-giang ngũ hùng để bàn kế lui quân. Thì, ôi thôi, năm vị đều bị đầu độc. Ta thân tới Khúc-giang tế năm vị, đệ tử cho biết gia đình năm vị đem xác chôn một nơi cực mật. Ta nhân đó xây mộ cho người.

Xây mộ xong, ta khấn năm vị hãy phù hộ cho tộc Việt bền vững, giầu có hơn nhà Chu, nhà Tần, nhà Hán. Con cháu sinh sản tròn, vuông dưới ánh mặt trời, luôn tươi như soan năm cánh..."

Khúc mắc ở câu cuối. Hồi ấy đọc đoạn này, Khai-Quốc vương cho rằng lối hành văn sáo ngữ, cùng lời chúc tụng của tổ tiên xưa như thế. Nên cả hai chú cháu bỏ qua. Bây giờ nhìn hình dạng năm ngôi mộ giả, nàng thấy có liên quan tới bài tựa này.

Chợt tia sáng loé lên:

- Phải rồi, trong bài nói bền vững giầu có hơn Chu, Tần, Hán tức kho tàng từ đời Chu qua đời Tần, đời Hán. Đào được kho tàng lên ắt giầu có xúc tích. Còn câu dưới có đủ hình năm ngôi mộ: tròn, vuông. Ánh sáng mặt trời là gì nhỉ? Mặt trời tức Nhật tương ứng với hình chữ nhật. Tươi như hoa soan, tức hình trái soan. Năm cánh tức hình ngôi mộ năm cạnh kia.

Nàng lại nghĩ:

- Như vậy, ta hiểu rõ ý nghĩa hình dạng năm ngôi mộ rồi. Thế nhưng hình dạng khác nhau để chỉ gì? Tròn, vuông, chữ nhật, trái soan, năm cạnh. Nếu theo thứ tự, mộ ngài Nhất-Gia hình tròn. Ngài Nhị-Gia hình vuông, ngài Tam-Gia hình chữ nhật, ngài Tứ-Gia hình trái soan, ngài Ngũ-Gia hình năm cạnh.

Nghĩ mãi không ra, nàng gấp bộ kinh thư bỏ vào bọc. Bên kia, Thiệu-Thái cùng Đào Nhất-Bách ăn uống đã xong.

Trời về chiều. Gió lạnh thổi nhè nhẹ qua những cây thông, bật thành tiếng reo vi vu. Những đàn cò đi ăn bắt đầu đo cánh bay về tổ.

Mỹ-Linh vẫy tay, cùng mọi người lên ngựa.

Thình lình Đào Nhất-Bách lên tiếng:

- Chúng tôi cùng nhau tế lăng bậc tiền bối. Người là ai, mà lại rình rập? Có mau xuất hiện không?

Nói rồi y phi thân vào bụi cỏ gần đó, chụp lưng một người nhấc bổng lên. Thì ra một lão già. Lão kêu réo ầm lên:

- Tôi nằm đây chờ các người cúng xong, sẽ ra lấy lộc ăn. Các người keo kiệt mang đi hết rồi, còn hành tội tôi ư?

Người khuân vác mướn nói với Đào Nhất-Bách:

- Quan khách không nên mạnh tay với người này. Y vốn làm nghề quét chợ. Lão tên Luyện. Từ trước đến nay trẻ con, ăn mày thường rình rập quanh lăng, đợi khách tới cúng. Khi khách vừa đi khỏi, chúng ùa ra hạ lễ xuống ăn. Lệ này thành quen.

Đào Nhất-Bách vội buông lão xuống, miệng nói:

- Xin lỗi.

Rồi y bảo người khuân vác trao cho lão già đó phân nửa con lợn luộc, cùng với xôi, hoa quả. Lão Luyện cảm ơn rối rít, mở tay nải ra đựng lộc.

Đỗ Lệ-Thanh móc túi trao cho Luyện một xâu tiền rối bảo:

- Tôi ở bên bờ sông gần chợ. Nếu lão cần tiền, thực phẩm, tới đó, tôi sẵn sàng tặng cho chút ít mà tiêu.

Lão Luyện cúi rạp người cảm tạ, hai tay lĩnh tiền bỏ vào túi.

Mỹ-Linh móc bạc trả công cho người khuân vác, rồi bốn người lên ngựa trở về trấn. Con thuyền của Lạc-long giáo thuộc đạo Quảng-Đông vẫn đậu ở bến chờ đợi. Bốn người xuống thuyền. Thuyền rời bến ra giữa sông.

Mỹ-Linh vỗ vai Đỗ Lệ-Thanh:

- Đỗ phu nhân tinh ý thực. Đêm nay tên Luyện kia thế nào cũng phải tìm phu nhân lậy dập trán ra xin tạ tội.

Đào Nhất-Bách kinh ngạc:

- Công chúa dạy sao?

- Cái tên Luyện kia nếu không là người của Khu-mật viện Tống, ắt của môn phái, bang hội hoặc nước nào, tiềm ẩn làm người quét chợ. Y rình rập quanh lăng Ngũ-hùng đã lâu. Võ công y cực cao thâm, mà định lực của y cũng không tầm thường. Y bị Đào trưởng lão nhắc lên, mà tuyệt không có phản ứng.

Thiệu-Thái đờ người ra:

- Mỹ-Linh, sao em biết võ công y cao?

- Khi y bị nhắc lên, cổ áo co lại, lộ ra làn da lưng trắng mịn, khác hẳn với da mặt dăn deo khó coi. Rõ ràng y còn trẻ. Lúc y lĩnh lộc, gồm nửa con lợn với xôi chuối đâu có nhẹ? Thế mà y quảy lên vai, chỉ dùng ngón tay út móc vào tay nải.

Nàng hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

- Chắc phu nhân nhận ra y trá hình làm ma, làm quỷ, phu nhân phóng thuốc vào xâu tiền rồi cho y. Y ngu thực, không nghi ngờ gì tiếp lấy. Đêm nay y lên cơn đau đớn cho biết thân.

Mỹ-Linh để Thiệu-Thái bàn luận việc Lạc-long giáo. Nàng xin vào trong khoang thuyền nghỉ. Viên thuyền trưởng dành cho nàng một khoang, trang trí cực kỳ thanh nhã. Trên cái án thư, đặt chiếc đỉnh, đốt trầm hương bay nghi ngút.

Mỹ-Linh đóng cửa khoang. Nàng quan sát quanh khoang thuyền xem có kẽ hở nào khả dĩ người ta dòm trộm không. Khi biết chắc hoàn toàn an ninh, nàng mở tập sách mật của phái Mê-linh, do sư thái Tịnh-Tuệ trao cho hôm truyền chức chưởng môn. Tập sách này nàng đọc gần như thuộc lòng. Nhưng bên trong có nhiều điều chưa thấu đáo.

Phần thứ nhất chép lịch sử các phái võ thời Lĩnh-Nam, từ khi vua Trưng tuẫn quốc cho tới thời Đinh. Phần thứ nhì chép diễn tiến sự thống nhất phái Long-biên, Hoa-lư, Cửu-chân thành phái Mê-linh. Phần thứ ba chép các biến cố của phái Mê-linh từ khi thành lập cho đến khi sư thái Tịnh-Tuệ nhận chức chưởng môn.

Mỗi lần cầm tập sách ra, lòng nàng lại nao nao bồn chồn:

- Sư thái Tịnh-Tuệ tin tưởng Vương-mẫu mình lắm, bà mới dành cho ưu ái được sao chép mật thư này. Nhìn nét chữ hoa mỹ bay bướm, mình cũng biết vương mẫu có hoa tay. Cũng chính vì vậy, mà bọn Tống bắt cóc vương mẫu mình, hầu so sánh tuồng chữ. Không biết bọn Tống Triệu Thành hay Lưu hậu bắt cóc Vương-mẫu mình?

Chợt nàng bật cười:

- Mình thực lẩm cẩm. Rõ ràng bọn Lưu hậu bắt Vương mẫu rồi, còn gì nữa mà nghi ngờ? Nếu bọn Triệu Thành bắt, ắt chúng giam bà trên chiến hạm, mình đã thấy rồi. Vả lại nếu y bắt được Vương-mẫu mình, đâu cần bủa lưới bắt Lê Thiếu-Mai với thầy đồ Ngọc-Phách để dịch sách.

Nàng đọc sang phần thứ tư, chép lịch sử kho tàng Tần-Hán, Âu-Việt. Kho tàng Âu-Việt hiện chôn ở vùng quanh núi vua Bà, sách chép bằng chữ Khoa-đẩu, lại toàn bằng hơn ba trăm thuật ngữ. Hôm sư thái Tịnh-Tuệ truyền chức chưởng môn, đã đọc cho nàng. Vì vậy bất cứ ai đọc phần này cũng không hiểu nổi. Duy người biết thuật ngữ đó mới mò ra được. Nàng nghĩ thầm:

- Kỳ này về Đại-Việt, mình triệu tập hết các đại môn phái, rồi sai đào lên, bỏ vào công khố Đại-Việt.

Phần thứ năm chép lịch sử kho tàng Tần-Hán, cùng chỉ chỗ cất. Phần này nàng hiểu lờ mờ. Nhất là trong đó có đoạn thơ không ra thơ, văn chẳng ra văn:

Tự cổ Ân, Chu trị thiên hạ,

Vàng ngọc, bốn phương tụ tập về.

Chương 18: Kỳ nhân dị sĩ

Kỳ nhân dị sĩ -- -

Nàng tự giảng:

- Hai câu có nghĩa từ Ân tới Chu cai trị Trung-nguyên, vàng ngọc súc tích. Hai câu này không có gì lạ.

Nàng đọc xuống hai câu dưới:

Trung-nguyên thống nhất, A-phòng cháy.

Đuổi hươu, Đông thành, Tây ra đi.

- Phải rồi hai câu này ý nói Tần thống nhất thiên hạ, rồi bị Hạng-Vũ diệt, đốt cháy cung A-phòng. Bấy giờ anh hùng thiên hạ nổi lên tranh nhau giang sơn, ví như đuổi con hươu. Đông tức Hạng Vũ. Lưu Bang lập nhà Tây Hán tức Tây. Như vậy câu sau ý nói Hạng Vũ thắng Lưu Bang.

Nàng đọc hai câu tiếp:

Đại phong một trận, anh hùng tận,

Châu bảo Vị-ương, lửa bốn bề.

- Sau khi Lưu Bang thắng Hạng Vũ, trở về quê làm bài thơ Đại-phong. Lưu đem châu bảo thời Ân, Chu, Tần cất ở điện Vị-ương. Rồi cuối đời Tây Hán, Vương Mãng làm phản. Y đốt cháy điện Vị-ương.

Nàng đọc tiếp:

Động-đình, Yên-Lãng, Nghi-Hòa đến.

Khúc-giang, sóng dậy, muôn đời ghi.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

- Đoạn này ý nói công chúa Yên-Lãng Trần Năng và hai công chúa Nghi-hoà Trần Quế-Hoa, Trần Quỳnh-Hoa đào kho tàng ở hồ Động-đình lên, rồi chở về Khúc-giang. Nhưng chữ sóng dậy với muôn đời ghi ý chỉ gì?

Nàng chợt nghĩ đến những thuật ngữ:

- Sóng nghĩa là núi cao. Dậy nghĩa là hang sâu. Muôn là mười vạn. Một vạn trong thuật ngữ là một trăm. Vậy muôn thành con số một nghìn. Cả hai câu này ý nói: trong núi cao nhất, có hang sâu. Còn một nghìn là gì nhỉ?

Nàng mở bản đồ vùng Khúc-Giang ra. Này sông, này núi, trùng điệp. Nhìn một lượt nàng nghĩ thầm:

- Ta phải tìm núi nào cao nhất mới được!

Không khó khăn, nàng tìm ra giữa thung lũng gần núi Ô-thạch có ngọn Tuyệt-phong cao nhất. Nàng nhủ thầm:

- Ta phải thám thính ngọn Tuyệt-phong xem sao.

Đến đấy mệt mỏi, nàng bỏ sách vào bọc, mở cửa ra ngoài, ngồi nghe Thiệu-Thái, Lê Đức bàn truyện Lạc-long giáo.

Chợt một giáo đồ giữ trọng trách gác đầu thuyền vào cúi rạp người xuống trình với Lê Đức:

- Trình trưởng lão. Bên ngoài có một con thuyền nhỏ. Trên thuyền chứa bốn người. Ba người nằm ngủ, không rõ mặt. Một người đội nón buông câu. Thuyền đậu sát thuyền ta. Thuộc hạ đuổi, mà hắn không chịu đi. Xin trưởng lão định liệu.

Thiệu-Thái bảo y:

- Tuyệt đối tránh đụng chạm. Chúng ta đang ẩn thân. Tôi với Lê trưởng lão ra ngoài xem sao.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, Lê Đức ra đầu thuyền quan sát. Con thuyền mui che một nửa. Trong lòng thuyền trải chiếu, có ba người cuộn chăn nằm ngủ gáy khò khò. Còn một người ngồi buông câu. Cái nón che mất mặt, không hiểu y già hay trẻ.

Một giáo chúng nói:

- Này thuyền ai kia, lui ra chỗ khác. Tại sao lại cứ sán đến bên thuyền ta mà câu?

Người câu im lặng không trả lời. Y móc trong bọc ra một ống tiêu để lên miệng thổi. Tiếng tiêu véo von vọng đi rất ra. Hết bài tiêu, y cất cao giọng ngâm:

Thương-lang chi thủy thanh hề,

Khả dĩ trạc ngã anh.

Thương-lang chi thủy trọc hề,

Khả dĩ trạc ngã túc.

Ngâm xong, y ngâm sang tiếng Việt:

Sông Thương nước chảy trong veo,

Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta.

Sông Thương nước chảy phù sa,

Thì ta lội xuống để mà rửa chân.

Rồi y lại cầm tiêu thổi. Lần mày y thổi bản Động-đình ca.

Tên giáo chúng cầm cây sào gõ vào nón ngư nhân. Y ngửa mặt nhìn lên, rồi nói một mình:

- Trời đất ôi! Xưa Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung khi còn làm nghề nặn nồi bán, bị bọn ngu xuẩn kẻ chợ khinh khi. Lúc chưa đạt vận Khương thái công, Hàn Tín đi câu cá, chúng nhân người trần mắt thịt coi thường. Nay ta câu cá trên sông, cũng bị bọn trôi sông dạt chợ khuấy phá. Hỡi ôi! Thiên hạ đều người trần mắt thịt cả.

Tuy nói vậy, mà y vẫn không di chuyển, cứ ngồi câu, bất kể đến tên giáo chúng. Y nói một mình:

- Hai con thuyền cùng đậu trên sông. Ta không hỏi tội người tại sao người đậu thuyền bên ta, người cũng đừng trách sao ta đậu thuyền cạnh ngươi mới phải chứ?

Lê Đức nói nhỏ với Mỹ-Linh:

-- Tiếng người này dường như còn trẻ. Y cố ý gây sự với ta. Vậy ta lui thuyền ra chỗ khác.

Mỹ-Linh nhận thấy dáng người này rất quen, mà nàng không nhớ đã gặp ở đâu.

Nàng ra lệnh:

- Anh em dời thuyền xuống khúc dưới kia vậy.

Thuyền phu nhổ sào, cho thuyền di chuyển về phía trước. Con thuyền của ngư nhân cũng trôi theo song song. Bỗng con thuyền lớn lao vào phía bờ bên kia sông, là một bãi hoang.

Lê Đức kinh hãi hỏi:

- Ta bảo cho thuyền đi thẳng, tại sao lại áp vào bãi này.

Tài công kêu lên:

- Trình lão gia, bánh lái mắc kẹt, nên thuyền đâm vào bờ.

Lê Đức chạy vào cầm lái, lái thử, thì thuyền lại trôi ra giữa sông. Y mắng tài công:

- Bánh lái hỏng đâu?

Tài công cầm lấy tay lái, quả nhiên bánh lái không kẹt. Thuyền trôi dần theo giòng. Tới hạ lưu, thuyền phu cho cắm sào. Lê Đức nhìn ra, thủy chung con thuyền nhỏ vẫn đậu song song với thuyền mình, không tới trước, không lui một bước. Y nhìn rõ ngư nhân đang kéo một sợi dây dài cuộn thành đống nhỏ bên cạnh.

Lê Đức tỉnh ngộ:

- Mình đáng chết thực. Ngư nhân tung dây cột bánh lái, làm tài công tưởng bánh lái kẹt. Khi mình cầm lái, y buông dây, mình không rõ, chửi oan tài công.

Thuyền phu ngó xuống con thuyền nhỏ chửi:

- Này anh ngư nhân kia. Tại sao anh cứ theo ta mãi vậy?

Ngư nhân cũng không vừa:

- Này các người. Các người ỷ có thuyền lớn, theo sau thuyền ta mãi, làm sao ta câu được cá. Các người có lui ra chỗ khác không?

Biết bị khiêu khích, Lê Đức ra hiệu cho thuyền phu. Thuyền phu cầm cây sào chọc vào đầu ngư nhân. Ngư nhân chụp cây sào bật mạnh một cái. Thuyền phu bay vù lên cao, rồi rơi tòm xuống nước. Y lóp ngóp bơi lại mạn thuyền, bám dây leo lên.

Lê Đức bật lên tiếng ủa kinh ngạc. Y ra hiệu. Một thuyền phu khác cầm cây chèo đập vào đầu ngư nhân. Ngư nhân bắt lấy cây chèo, rồi kẹp giữa hai đầu gối. Thuyền phu giật mạnh, mà cây chèo như đóng đinh vào cột không nhúc nhích.

Hai ba giáo chúng cùng chạy lại giật cây chèo, mà thủy chung không chuyển động. Trong khi ngư nhân vẫn ngồi nhàn nhã. Tuyệt ở chỗ, hai đầu gối y bất động, hai tay y cầm ống tiêu để lên miệng thổi. Dù hai thuyền phu giật chèo, mà bản nhạc vẫn véo von không đứt quãng.

Đào Nhất-Bách bước tới cầm lấy cây chèo. Y vận sức giật mạnh. Cây chèo bật lên. Y với với giáo chúng thuyền phu ngã bổ ngửa trên sàn trông thực thảm não.

Mỹ-Linh kinh ngạc không ít. Võ công của Đào Nhất-Bách không thua Lê Đức làm bao. Ngặt vì y dùng sức mạnh. Ngư nhân thuận thế truyền thêm lực vào, thành ra Đào bị hai kình lực hợp lại, đến nỗi không giữ được thăng bằng.

Đào Nhất-Bách mất bình tĩnh. Y vọt người lên cao, nhảy xuống con thuyền nhỏ. Tay phóng chưởng tấn công. Ngư nhân cười nhạt, chiã cần câu lên trời. Mọi người kinh hãi la lớn, vì Nhất-Bách rơi xuống, ắt bị cần câu đâm thủng ngực.

Diễn biến xẩy ra đột ngọt, dù Mỹ-Linh, dù Lê-Đức có ra tay can thiệp cũng không kịp. Nàng chi còn biết kêu lên:

- Xin dung tình.

Ngư nhân rung động tay một cái, dây câu cuốn lấy thân hình Nhất-Bách. Cần câu gật mạnh, Nhất-Bách rơi xuống giữa thuyền nhỏ. Lạ một điều, y rơi không mạnh, mà sao lọt vào giữa lòng thuyền, rồi nằm bất động, không nói không rằng, trong khi mắt vẫn mở trừng trừng.

Ngư nhân cười dòn:

- Được con cá hồng này lớn quá. Đem vào chợ xẻ thịt bán lấy tiền uống rượu.

Đến đây, y giật mạnh sợi dây bên hông một cái. Cánh buồm kéo lên, con thuyền nhỏ chạy vun vút về hạ lưu.

Lê Đức hô lớn:

- Mau cho thuyền đuổi theo.

Khi thuyền nhổ sào chèo đi, thì con thuyền nhỏ đã mất hút ở cuối giòng sông.

Lê Đức lệnh cho thuyền ghé bờ. Y cầm tù và thổi lên một hồi. Lát sau có ba kị mã chạy tới. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, Lê Đức lên ngựa phi dọc theo bờ sông đuổi con thuyền nhỏ. Trong khi dưới nước, con thuyền lớn cũng chèo theo.

Không mất nhiều thời gian, Mỹ-Linh thấy con thuyền nhỏ cắm sào giữa sông. Bốn người nằm trong thuyền đã ngồi dậy. Năm người đang ngồi ăn cơm, thản nhiên như không có gì xẩy ra.

Mỹ-Linh dừng ngựa lên tiếng:

- Này! Mấy vị hảo hán kia. Người anh em ta không biết núi Thái-sơn, trót mạo phạm. Mấy vị hãy rộng lượng tha cho y một phen.

Ngư nhân ngồi câu ban nãy để tay lên tai làm như lắng nghe:

- Tiếng ai nói trên bờ vậy kìa?

Một ngư nhân khác tiếp:

- Dường như tiếng con gái. Cô này chắc đẹp lắm, tiếng trong, ngọt như cam thảo.

Mỹ-Linh nhắc lại câu nói ban nãy. Ngư nhân vẫn để tay vào tai:

- Cô nương nói sao? Cô nương muốn mua cá ư?

Mỹ-Linh bực mình:

- Không phải muốn mua cá, mà muốn chuộc lỗi.

- Cô nói cái gì? Trời ơi, tự nhiên tai tôi điếc đặc mất rồi. Cô muốn mua chão chuộc rán mỡ hay nấu rọc mùng ăn hả? Tôi chỉ câu được con cá hồng thôi. Cô nương muốn mua bao nhiêu cân, tôi xẻ ra bán cho. Mỗi cân một chỉ bạc.

Mỹ-Linh biết ngư nhân giả vờ:

- Này hảo hán, người bắt anh em của ta để làm gì? Y có đôi chút mạo phạm với người. Ta xin người lượng thứ cho.

Ngư nhân vẫn để tay vào tai:

- Cô nương nói sao? Cô nương muốn mua lươn ăn à? Tại hạ chỉ câu được con ngư nhân mà thôi.

Phía sau con thuyền của Lạc-long giáo đã đuổi kịp. Thuyền lớn kè mạn thuyền nhỏ. Chợt con thuyền nhỏ quay một vòng chạy ngược trở lại, buồm căng no, thuyền như bay trên mặt nước. Giáo chúng trên thuyền lớn chỉ còn biết la hoảng.

Mỹ-Linh, Lê Đức cho ngựa chạy theo. Con thuyền nhỏ táp vào bờ bên kia, rồi ngư nhân cùng bốn người đồng hành vác Đào Nhất-Bách lên bờ, chạy mất dạng.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, Lê Đức cùng xuống thuyền. Đỗ Lệ-Thanh hỏi Lê Đức:

- Lê trưởng lão. Tôi thấy dường như mấy ngư nhân này còn rất trẻ. Họ không có ác ý với bọn mình . Võ công của ngư nhân rất kỳ ảo.

Lê Đức phiêu bạt giang hồ cả đời người, thừa kinh nghiệm, y nói:

- Cái giật sào, hất giáo chúng xuống sông là biến chiêu Kình ngư qúa hải thuộc võ công Cửu-chân. Hai chân kẹp chặt sào, giống nội công Đông-a hay Tiêu-sơn. Khi chĩa cần câu lên, là chiêu Phong suy hoa lạc thuộc kiếm pháp Mê-linh. Lúc giật cần câu bắt Nhất-Bách chính là chiêu Thiên vương xung thiên trong Thiên-vương trượng pháp phái Sài-sơn. Tóm lại, võ công ngư nhân là võ công Đại-Việt.

Mỹ-Linh gật đầu:

- Lê trưởng lão nói đúng. Duy chiêu số gì, mà cái phao đập vào phía sau cổ Nhất-Bách, đến nỗi y bất động, tôi chưa hề nghe qua. Bây giờ chúng ta phải đuổi theo bốn người này cứu Đào trưởng lão.

Lê Đức ngơ ngác:

- Trời đất rộng bao la, biết họ đi phương nào mà đuổi. Hơn nữa chúng ta đang ở trên đất Tống. Quanh vùng này người của Khu-mật viện Tống nhiều như kiến . Chúng ta cứ thủng thẳng, sẽ truy tìm sau.

Chợt Thiệu-Thái nhìn lên không, thấy đôi chim ưng theo dõi Triệu Thành đang bay lượn gần ngay bờ sông. Chàng hỏi Mỹ-Linh:

- Này biểu muội! Em thử đoán, sau khi Triệu Thành với bọn mình rời soái thuyền, tình trạng mấy người đó ra sao?

Mỹ-Linh lắc đầu:

- Khó đoán được lắm. Em chỉ biết một điều, những người bị Đỗ phu nhân phóng độc, không biết Lê tiểu thư có cứu được họ không?

Đỗ Lệ-Thanh gật đầu:

- Nếu Hồng-Sơn đại phu hiện diện thì cứu được. Tuy nhiên, dù không trị, trong vòng ba năm họ cũng không đến nỗi thiệt mạng. Khi rời thuyền, tiểu tỳ trao cho Đoàn đề đốc chai rượu, gói trong một bao kín, thác rằng đó là mật kế của công chúa. Sau khi bọn Minh-Thiên lên bờ, thuyền trên đường về Đại-Việt hãy mở ra. Trong đó thần có bức thư, nói cho biết rượu có pha thuốc giải.

Thiệu-Thái nhăn mặt:

- Vậy bọn Dư Tĩnh, Địch Thanh, Quách Quỳ phải chịu đau mãi hay sao? Tôi nghĩ chúng ta nên tìm chúng, rồi cho thuốc giải, hơn là để chúng đau như vậy.

Đỗ Lệ-Thanh biết ông chủ của mình lòng dạ lương thuần. Bà cung kính:
- Sau việc ở đây, tiểu tỳ cũng sẽ theo chủ nhân đi Biện-kinh. Tới nơi, tiểu tỳ tìm cách trao thuốc giải cho họ.

Thuyền đã trở về bến chợ. Mỹ-Linh bảo Đỗ Lệ-Thanh:

- Phu nhân với tôi lên bờ, chờ tên Luyện xem y có đến không?

Thiệu-Thái tường thuật vụ tên Luyện giả người coi chợ cho Lê Đức nghe. Y nhăn mặt ngẫm nghĩ:

- Tại trấn này, giáo chúng của mình có hàng nghìn. Tai mắt khắp nơi. Công chúa để thuộc hạ dọ hỏi tin tức y trước khi lên bờ gặp y.

Lê Đức gõ vào mạn thuyền ba tiếng. Một giáo chúng vào khoanh tay chờ lệnh. Y nói:

- Phiền chú lên mời đạo trưởng đạo Quảng-Đông xuống hầu giáo chủ.

Tên giáo chúng thưa:

- Trình trưởng lão, đạo trưởng Chu Tấn đã xuống thuyền chờ đón giáo chủ từ hôm qua. Vì chưa có lệnh giáo chủ, nên chưa dám xuất hiện.

- Thuyền của đạo trưởng ở đâu?

Tên giáo chúng chỉ sang con thuyền cực lớn đậu ngay trên bến:

- Thưa con thuyền kia.

- Mời đạo trưởng sang ngay.

- Thưa đạo trưởng bị lên cơn đau đớn cực kỳ, thành ra không ngồi dậy được.

Thiệu-Thái chợt nhớ lại hôm đại hội, còn thiếu chưởng quản đạo Quảng-Đông không về dự, thành ra chưa được giải Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Chàng vội đứng lên:

- Chúng ta sang đấy trị cho Chu huynh.

Lê Đức vẫy tay, thuyền phu nhổ sào, đẩy con thuyền sang sông, cặp vào con thuyền lớn. Lê Đức nhảy sang trước. Thiệu-Thái, Mỹ-Linh nhảy sang sau. Một viên giáo chúng mở cửa thuyền khoanh tay:

- Thuộc hạ quản huyện đạo Khúc-giang, Thân Minh xin tham kiến giáo chủ cùng trưởng lão.

Thiệu-Thái vẫy tay:

- Miễn lễ. Phiền Thân huynh đệ đưa tôi vào thăm Chu đạo trưởng.

Thân Minh cúi đầu đi trước. Tới một khoang thuyền lớn, y nói vọng vào:

- Giáo chủ giá lâm.

Cánh cửa mở rộng. Bên trong có ba nữ giáo đồ quỳ gối hành lễ. Cạnh đó, một người râo tóc bạc phơ đang nằm thoi thóp thở. Thiệu-Thái vẫy tay cho Đỗ Lệ-Thanh:

- Phiền phu nhân thăm mạch Chu đạo trưởng dùm.

Đỗ Lệ-Thanh cầm tay Chu Tấn bắt mạch. Lát sau bà nói:

- Trình giáo chủ bệnh của Chu đạo trưởng không có gì đáng ngại. Chỉ vì quá một năm, không nhận được thuốc giải, thành ra độc chất hành hạ mà thôi.

Thiệu-Thái vận khí, vung chưởng vỗ vào đầu Chu Tấn một cái như gió thoảng. Chu Tấn đang rên rỉ, đau đớn. Y kêu lên tiếng kêu ối rồi ngồi bật dậy. Máu mũi y chảy ra xối xả. Một nữ giáo chúng vội trao cho y chiếc khăn lớn. Lạ thay, máu chảy đến đâu, da mặt Chu-Tấn hồng hào tới đó. Khoảng nhai dập miếng trầu, máu không chảy nữa.

Chu Tấn quỳ gối hướng Thiệu-Thái:

- Đa tạ giáo chủ cứu mạng.

Đỗ Lệ-Thanh cầm bút ghi một thang thuốc trao cho nữ giáo đồ:

- Đúng ra, Chu huynh bị Chu-sa độc chưởng hành hạ, giáo chủ dùng thần công trị, thì khỏi hẳn. Ngặt vì, quá hạn một năm, không thuốc giải, nên Chu huynh đau liệt dường hơn tháng. Vì vậy cần uống thuốc bổ dưỡng. Phiền cô nương ra chợ cắt cho ba thang thuốc. Đem về, mỗi thang dùng mười bát nước, nấu còn hai bát, trao cho Chu huynh uống. Mỗi ngày một thang.

Chu Tấn cung kính hướng Thiệu-Thái:

- Trước kia bọn thuộc hạ đi đâu cũng bị người ta khinh khiến là bọn tà ma ngoại đạo. Từ khi giáo chủ lên ngôi, công bố đường lối mới, cải danh thành Lạc-long giáo. Bọn thuộc hạ trở thành những người được hương đảng kính trọng. Tuy nhiên, sau đó thuộc hạ lên đường về Thăng-long tìm giáo chủ để xin trục độc chưởng, giáo chủ lại vắng nhà. Thuộc hạ trở về đây, bị lên cơn suốt hai tháng qua, tưởng đâu sẽ chết. Không ngờ hôm nay giáo chủ quang lâm giải ách cho.

Thiệu-Thái an ủi y:

- Sau đại hội, tôi phải lên đường khẩn, thi hành quốc sự. Hôm nay mới tới đây thăm anh em. Tôi có điều muốn hỏi Chu huynh.

- Xin chờ chỉ dụ giáo chủ.

- Hôm nay, khi lễ lăng Khúc-giang ngũ hùng, tôi gặp một người có hành vi kỳ bí. Y tên Luyện. Chu huynh có biết lai lịch y không?

Chu Tấn gật đầu:

- Trình giáo chủ, y họ La tên Luyện, gốc người Việt ở vùng Trường-yên. Trước thuộc giáo đồ bản giáo, giữ chức đạo trưởng huyện Nam-hải. Khi bản giáo cải danh thành Lạc-long giáo, y cùng một số người không phục, xin tách rời ra, vẫn giữ nguyên cơ sở, tự gọi tên là Hồng-thiết giáo Quảng-Đông. Y thường rình rập những người tế lăng Khúc-giang ngũ hùng cùng đền thờ hai vị công chúa thời Lĩnh-Nam.

- Chu huynh có biết y rình với mục đích gì không?

- Dường như y theo về bang Nhật-hồ Trung-quốc. Thuộc hạ cho người theo dõi, được biết y rình những người lễ đền với lăng, để tìm di tích kho tàng Tần-Hán.

Lê Đức hỏi:

- Y có liên hệ gì với Khu-mật viện Tống không?

- Không.

Lê Đức trầm tư nhìn lên bờ, rồi thuật lại vụ Đỗ Lệ-Thanh tung phấn độc vào người La Luyện cho Chu Tấn nghe. Chu Tấn vỗ tay reo lên:

- Như vậy thực hay biết bao. Dù muốn dù không y cũng phải xuất hiện, gặp Đỗ phu nhân, hầu xin thuốc giải. Bấy giờ ta muốn vo tròn, bóp méo thế nào y cũng phải chịu.

Thiệu-Thái không đồng ý:

- Xuất hiện dĩ nhiên y phải xuất hiện. Song đây thuộc đất nước người. Ta chẳng nên mua thù chuốc oán với bang Nhật-hồ Trung-quốc. Chu huynh! Chu huynh có biết tình hình bang Nhật-hồ Trung-quốc gần đây ra sao không?

Chu Tấn đáp:

- Thưa giáo chủ. Từ đời vua Tống Thái-Tông, đem quân vào diệt tổng đường cuối cùng của bang Nhật-hồ. Các cao thủ của bang này gần như bị tiêu diệt hết. Chỉ có ba trưởng lão. Một tên tên Đặng Đại-Bằng hiện làm bang chủ. Hai người nữa tên Phương Hổ, Phương Báo. Hai người này tách ra cùng năm người nữa xưng Trường-giang thất hùng. Họ lập ra bang Trường-giang. Ngoài ra còn con gái chưởng môn tên Đỗ Lệ-Thanh, cùng con rể tên Hồ Dương-Bá cùng một số cao thủ bị bắt giải về kinh.

Chu nói đến đây, Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đưa mắt nhìn Đỗ Lệ-Thanh một cái, rồi hỏi:

- Sau truyện ra sao?

- Hồ Dương-Bá cùng vợ xin Tống triều ân xá cho thân thuộc. Hai người nguyện làm bất cứ điều gì cho Tống triều để chuộc tội. Dù sao Thái-tổ nhà Tống cũng là thần tử của triều Chu, từng là thuộc hạ của họ Đỗ. Vì vậy triều đình không nỡ tuyệt tình với người cố cựu. Bấy giờ Khu-mật viện nhà Tống đang mang cái hận bị Đại-Việt đánh ở Chi-lăng, Bạch-đằng, mới đưa ý kiến chấp nhận lời xin của Đỗ Lệ-Thanh cùng Hồ Dương-Bá. Tống triều cho Hồ Dương-Bá cùng Đỗ Lệ-Thanh sang Đại-Việt, tiềm ẩn, gây thế lực, chờ một mai quân Tống sang sẽ làm nội ứng.

Chu Tấn nhìn sang bên kia sông, như tìm kiếm ai, rồi tiếp:

- Trong khi đó Đặng Đại-Bằng đi khắp nơi tụ tập dư đảng của Hồng-thiết giáo, lập lại bang Nhật-Hồ. Nhưng bang không mạnh, vì họ chỉ biết đánh người, gieo độc chất, rồi cho uống thuốc giải hằng năm. Còn bang chủ lại không biết xử dụng Hồng-thiết mật công, hầu giải độc vĩnh viễn cho đệ tử. Gần đây, họ chế ra phấn độc Chu-sa, tuy không lợi hại bằng Chu-sa độc chưởng, nhưng ai cũng xử dụng được. Họ đã gieo vào người Lưu thái hậu. Họ tưởng rằng sẽ khống chế được Lưu hậu. Không ngờ Lưu hậu lại có tay sai làm trưởng lão Hồng-thiết giáo Đại-Việt, cung cấp thuốc giải cho bà.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh đưa mắt nhìn Lê Đức, như cùng nói:

- Không biết Đàm Can hay Hoàng Văn đã làm việc này?

Chu-Tấn thấy ba người nhìn nhau, y biết thượng cấp có điều gì bí mật, nhưng y không dám hỏi. Y tiếp:

- Đặng Đại-Bằng cho người sang Đại-Việt tìm Đỗ Lệ-Thanh, Hồ Dương-Bá. Nhưng tuyệt vô âm tín.

Đỗ Lệ-Thanh hỏi Chu Tấn:

- Chu đạo trưởng có biết những người sống sót của họ Đỗ hiện giờ ra sao không?

- Không! Tôi chỉ nghe lờ mờ rằng họ sống yên ổn ở Biện-kinh.

Đỗ Lệ-Thanh nắm lấy tay Thiệu-Thái:

- Chủ nhân! Người Việt có câu Cáo chết

ba năm, quay đầu về núi. Tiểu tỳ xa nhà hơn bốn chục năm có dư. Nay tiểu tỳ dám xin chủ nhân cho tiểu tỳ về Biện-kinh thăm nhà một chuyến.

Thiệu-Thái an ủi bà:

- Phu nhân yên tâm. Sau việc ở đây, tôi phải đi Biện-kinh. Bấy giờ sẽ cùng giúp phu nhân tìm thân nhân. Tôi có ơn với Triệu Thành, tôi xin y cho phu nhân đem toàn gia sang Bắc-biên hay Thăng-long sống.

Từ lúc Lê Đức tôn Thiệu-Thái làm giáo chủ. Y thấy lúc nào Đỗ Lệ-Thanh cũng đi theo chàng. Y cho rằng bà là lão bộc nuôi chàng từ nhỏ. Tuyệt đối y không biết bà gốc tích ra sao. Bây giờ nghe bà với Thiệu-Thái đối thoại, y không khỏi ngỡ ngàng. Tuy nhiên y không dám tò mò vào truyện gia đình chàng.
Bọn giáo chúng bưng thuốc vào trao cho Chu Tấn. Y bưng uống một hơi sạch, rồi hỏi Thiệu-Thái:

- Thuộc hạ nghe giáo chủ muốn hành hương đền Sa-khẩu. Vậy khi nào khỏe mạnh thuộc hạ xin tháp tùng, dẫn đường.

Mỹ-Linh thấy Đỗ Lệ-Thanh có vẻ không muốn đi thăm Sa-khẩu. Nàng hỏi:

- Phu nhân không đi cùng chúng tôi ư?

- Tiểu tỳ có hơi khó ở. Xin công chúa miễn cho phải theo hầu.

Chu Tấn truyền dọn cơm ăn. Ăn xong y nói:

- Xin giáo chủ cùng công chúa nghỉ ít ngày, rồi thuộc hạ xin dẫn giáo chủ, công chúa cùng Lê trưởng lão lên đường. Chúng ta dùng một con thuyền nhỏ đến Sa-khẩu, hơn đi đường bộ bằng ngựa.

Ít lâu sau, Thiệu-Thái, Mỹ-Linh thấy Chu Tấn đã bình phục. Hai người bàn truyện đi hành hương Sa-khẩu.

Chu Tấn ra ngoài. Y cầm cây cờ xanh phất một cái. Lập tức từ bên kia sông, một con thuyền bậc trung nhổ sào, chèo sang bên này. Thuyền ghé vào thuyền lớn. Chu Tấn nhảy sang trước. Thiệu-Thái, Mỹ-Linh, Lê Đức nhảy theo. Bốn giáo chúng chèo thuyền cúi gập người xuống hành lễ.

Chu Tấn mở của khoang thuyền, mời ba người vào. Trong thuyền trang trí rất thanh nhã. Hai bên có hai hàng ghế bọc gấm mầu hồng. Ở giữa kê một cái bàn sơn son thiếp vàng. Vách thuyền treo những bức trướng lụa, trên vẽ tranh về Phù-Đổng thiên vương đánh giặc Ân, bà Triệu đánh Ngô, Ngô vương đánh Tống.

Thuyền nhổ sào. Buồm kéo lên. Thuyền từ từ hướng về phía Bắc. Chu Tấn nói:

- Từ đây đến Sa-khẩu ước hơn nửa giờ. Hôm nay ngày rằm, dân chúng các nơi đến lễ đông lắm. Vì vội quá thuộc hạ không kịp biện lễ. Cứ tới cổng đền, thuộc hạ mua sắm cũng vừa.

Thình lình có tiếng tiêu véo von vọng lại. Mỹ-Linh nhận ra người ta tấu bản Động-đình ca. Tiếng tiêu phát ra từ một con thuyền nhỏ, đang vượt qua thuyền mình. Khi con thuyền vừa vựơt qua, Mỹ-Linh thấy rõ ràng trên thuyền có bốn ngư nhân đã bắt sống Đào Nhất-Bách. Nàng chỉ cho Lê Đức. Lê Đức hô thuyền phu:

- Mau đuổi theo con thuyền kia thực gấp.

Bốn thuyền phu ra sức chèo phụ với buồm. Con thuyền lao đi vun vút. Nhưng con thuyền nhỏ phía trước càng lao nhanh hơn. Đuổi được một lát, Mỹ-Linh nhận ra rằng, thuyền nhỏ của ngư nhân dường như cố ý trêu ghẹo mình. Vì thuyền Chu Tấn bơi nhanh, thuyền phía trước cũng bơi nhanh. Thuyền Chu Tấn bơi chậm, thuyền phía trước cũng bơi chậm.

Chu Tấn chạy ra ngoài, rút thêm mái chèo. Y chèo phụ với thuyền phu. Thuyền vọt lên như lao. Trong khoảng nhai dập miếng trầu, thuyền Chu Tấn gần đuổi kịp thuyền phía trước. Một ngư nhân quay lại để ngón tay cái lên mũi nheo mắt cười như trêu ghẹo.

Chu Tấn nói với Lê Đức:

- Xin trưởng lão đứng trên mũi thuyền chờ sẵn. Đợi thuộc hạ chèo mạnh mấy cái nữa, hãy nhảy qua.

Nói rồi y gồng tay chèo mấy cái. Hai thuyền chỉ còn cách nhau một trượng. Lê Đức nhảy vọt qua.

Nhanh như chớp, từ trên thuyền trước hai cái cần câu vung lên. Lê Đức còn lơ lửng trên không định dơ tay bắt. Y nghe thấy hai tiếng véo, véo. Rồi như hai cục sỏi, một trúng mông y, một trúng vai y. Y cảm thấy toàn thân tê liệt, kình lực mất hết. Y rơi xuống thuyền trước đến rầm một cái.

Thiệu-Thái nhanh mắt nhìn rõ: Hai cần câu vung lên, hai cái phao trúng mông chỗ huyệt Hoàn-khiêu, trúng vai chỗ huyệt Thiên-tông. Vì vậy Lê Đức hoàn toàn bị tê liệt như khúc gỗ. Chàng kinh hãi:

- Võ công gì mà kỳ lạ? Tại sao hai cái phao đụng vào người, mà Lê Đức như tê liệt? Đúng ra võ công Lê Đức cao thâm khôn lường. Song có điều trong đêm tối y không nhìn thấy hai cái phao, với hai sợi dây câu. Vì vậy y mới thất bại.

Giữa lúc đó từ thuyền trước bay lại mấy viên sỏi kình lưc cực mạnh kêu lên tiếng vi vu. Thiệu-Thái vung tay bắt được hai viên. Còn một viên trúng sợi dây buồm. Sợi dây đứt đánh phựt một cái. Con thuyền Chu Tấn quay ngang, rồi trôi chậm lại.

Trên thuyền trước vang lên tiếng cười:

- Ồ, lại được con cá tự nhiên nhảy vào thuyền mình.

Tiếng nói vừa dứt, thuyền vượt sông về phía trước mất dạng.

Mỹ-Linh hô nối lại dây buồm, rồi đuổi theo.

Thiệu-Thái kinh hãi:

- Võ công ngư nhân thực kỳ lạ. Y vận công búng sỏi bằng âm kình làm đứt được dây buồm, hơi giống Vô-ngã tướng thiền công của mình. Không biết bọn này là ai?

Thuyền đi được một quãng, từ phía thượng lưu, chỗ con sông hẹp lại, hiện ra hai con thuyền cực lớn đậu giữa giòng ngăn mất lối đi. Chu Tấn kinh hoàng, hô lớn:

- Thuyền nào kia, làm ơn lách sang bên cạnh, nhường chỗ cho chúng tôi qua được không?

Có tiếng đáp lại:

- Mong anh em thông cảm. Tháng này, tiết trời khô khan, nước sông nông. Thuyền chúng tôi chở nặng, khẳm quá, mắc cạn, không nhúc nhích được.

Mỹ-Linh nhìn lại: Quả nhiên người ta đang xếp hàng, truyền tay nhau chuyển hàng lên bờ, hầu thuyền khỏi mắc cạn. Nàng nghĩ thầm:

- Bốn ngư nhân hành động như đùa bỡn, mà thực ra có tính toán. Họ chuẩn bị bắt Lê Đức, rồi bỏ chạy qua lối này. Thuyền họ nhỏ, lách qua được. Thuyền mình lớn hơn, không lối đi.

Chu Tấn chỉ vào mỏm sông phía trước:

- Chỗ có nhiều ánh sáng đèn đuốc kia là đền Sa-khẩu.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh nhìn theo: Trên mỏm sông, một ngôi đền lờ mờ hiện trong đêm, với ánh đèn như sao sa.

Thiệu-Thái hỏi Mỹ-Linh:

- Làm sao bây giờ?

Mỹ-Linh thở dài:

- Bốn ngư nhân bắt Lê Đức, Đào Nhất-Bách, hẳn có chủ ý, kế hoạch. Nhất định họ sẽ trở lại. Chúng ta không cần tìm làm gì. Bây giờ ta ghé bờ, lên bộ đi lễ vậy.

Thiệu-Thái nói với Chu Tấn:

- Chu huynh! Từ hôm tôi tới trấn này, có linh cảm thấy một màn bí mật bao trùm xung quanh, mà như người đi đêm không hiểu tai sao?

Chu Tấn cũng nghiệm thấy vậy. Y vò đầu bứt trán:

- Thuộc hạ bị bệnh hơn tháng nay. Việc bản giáo do anh em thay thế. Thuộc hạ vừa mới tỉnh, chưa hỏi tự sự, nên khó có thể đoán bọn này là ai. Chứ từ xưa đến giờ, trong các bang hội, môn phái ở đây, Hồng-thiết giáo mình vẫn mạnh nhất. Dù An-vũ sứ, dù Chuyển-vận sứ, dù khu mật viện Quảng-Đông lộ nghe đến bản giáo cũng không dám gây hấn, huống hồ các bang hội, môn phái. Từ sáng đến giờ bọn này hoành hành không còn úy kị gì nữa. Chúng nghiên cứu ta kỹ, rồi mới ra tay, như vậy hẳn chúng biết có sự hiện diện của giáo chủ. Đã biết giáo chủ ở đây, mà còn phá phách đùa bỡn, tức chúng mặc nhiên tuyên chiến rồi. Được, thuộc hạ lập tức triệu tập anh em, tìm hiểu chúng, rồi ta sẽ ra tay cũng không muộn.

Thiệu-Thái an ủi Chu Tấn:

- Chu huynh đừng vội nóng. Có phải chúng ta yếu thế, bất lực đâu? Chẳng qua chúng ta sợ ném chuột vỡ đồ mà thôi. Vì tại đây đang có Bình-Nam vương nhà Đại-Tống cùng Chuyển vận-sứ, An-vũ sứ Quảng-Đông lộ, khu-mật viện sứ cùng với mấy vạn thiết kị. Nếu chúng ta hội họp e gặp khó khăn. Tốt hơn hết, Chu huynh ra lệnh cho anh em tìm hiểu gốc gác chúng, rồi ta hãy ra tay cũng không muộn.

Vừa lúc đó, phía trước có tiếng reo hò. Thì ra hai con thuyền mắc cạn đã đi được. Phải khó nhọc lắm, họ mới di chuyển khỏi quãng sông chật hẹp, rồi lách sang một bên, cho thuyền Chu Tấn đi.

Chu Tấn bàn:

- Tới đền Sa-khẩu, xin Giáo chủ cùng Công-chúa đi lễ. Tiểu nhân lên bờ, gặp anh em, truyền lệnh cho họ tìm ra kẻ bắt hai trưởng lão.

Mỹ-Linh dặn Chu Tấn:

- Dù kẻ địch thế nào chăng nữa, Chu huynh cũng không được giao chiến. Chờ bọn tôi đã.

Chu Tấn vâng dạ lĩnh mệnh.

Thuyền đến mỏn Sa-khẩu. Dọc bến sông, thuyền đậu như bát úp. Phải khó nhọc lắm, Chu Tấn mới tìm được chỗ đậu. Thiệu-Thái, Mỹ-Linh lên bờ. Một nữ giáo chúng tên Sương được lệnh theo hầu. Mỹ-Linh tới gian hàng bán lễ vật. Nàng mua hương, hoa, quả, trao cho Sương mang, rồi theo làn sóng người đi vào đền.

Đền làm quay mặt về hướng Nam. Vào qua cổng, toả ra hai con đường bọc lấy một hồ sen hình bán nguyệt. Giữa hồ sen có gò. Trên gò một cây cờ Lĩnh-Nam cực lớn, bay phất phới.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nhận ra cây cờ đó là cờ thời vua Trưng. Vòng qua bờ hồ trước đền, có cái sân lát đá xanh.

Trong sân, một bên có cây đa, một bên có cây đề cao chót vót, ước hơn mười trượng, gió thổi vào lá reo lên những tiếng ào ào.

Sau sân tới đền. Đền không lớn lắm. Phải bước lên chín bậc mới đến hành lang. Hành lang lát gạch đỏ.

Có hai thiếu nữ mặc áo vàng, chạy ra tiếp rước. Quen thuộc, hai cô đỡ lấy mâm lễ vật, đon đả mời Mỹ-Linh, Thiệu-Thái. Một thiếu nữ hỏi bằng tiếng Việt:

- Quý khách từ Đại-Việt sang lễ Công-chúa, hay thuộc tử đệ võ phái thời Lĩnh-Nam?

Thiệu-Thái hỏi:

- Sao cô biết chúng tôi người Việt?

Thiếu nữ mỉm cười:

- Tại em thấy anh chị trang phục theo lối Việt. Vì anh chị đeo kiếm, nên em mới hỏi anh chị chỉ đi lễ hay tử đệ võ phái hành hương.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cực kỳ tôn kính anh hùng thời vua Bà. Vì vậy, trước đền thờ hai ngài, Mỹ-Linh không dám nói dối. Nàng đáp:

- Chúng tôi vừa hành hương như thập phương, lại vừa thuộc hàng con em đệ tử. Chị ơi! Đi lễ, ai cũng như ai. Sao phải phân ra làm hai loại như vậy?

Cô gái cười:

- Nếu chị thuộc thập phương, chỉ lễ, rồi về. Còn con em đệ tử, sẽ được mời vào hậu đường chiêm ngưỡng tượng hai công chúa rồi được mời ở lại đền chơi mấy ngày.

Thiệu-Thái thấy thể lệ tiếp đón, chàng vui vẻ:

- Lỡ ra, thập phương muốn chiêm ngưỡng tượng hai công chúa, họ nói dối là con em, tử đệ thì sao?

Cô gái cười rất tươi:

- Khi người ta không tin hai Công-chúa, hỏi người ta đi lễ làm gì? Còn đã tin, ai dám nói dối?

Thiệu-Thái gật đầu công nhận lời cô gái đúng. Hai người được dẫn tới chính điện. Sáu bàn thờ rất lớn, trên bầy đầy lễ vật. Phía sau bàn thờ, một chiếc màn bằng gấm đỏ, trên thêu hai con rồng chầu. Đỉnh hương bốc khỏi nghi ngút.

Thiệu-Thái bảo Sương:

- Cô nương cứ ra bờ sông chờ chúng tôi.

Sương vâng dạ lui gót.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh quỳ gối lễ. Mỹ-Linh khấn:

- Tấu lạy nhị vị Công-chúa điện hạ. Đệ tử tên Lý Mỹ-Linh, tước phong công-chúa Bình-Dương, hiện làm chưởng môn phái Mê-linh. Nhân quốc sự, đệ tử qua đây, xin cúi đầu kính lễ nhị vị Công-chúa điện hạ. Cầu nhị vị Công-chúa điện hạ phù hộ cho đệ tử tìm thấy kho tàng thời Tần-Hán, hầu đem về xây dựng nước giầu dân mạnh.

Nàng lạy thêm bốn lạy rồi đứng đậy. Cô gái hướng dẫn hai người vào nhà ngang. Ban trị sự đền ân cần tiếp đón. Một phụ nữ lớn tuổi mang sổ quyên giáo ra. Thập phương kẻ cúng trăm đồng, người cúng một quan.

Vòng đến trước Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, liếc nhìn thanh gươm hai người đeo bên hông. Bà đưa mắt cho một lão già râu tóc bạc phơ. Lão đến trước hai người cúi đầu hành lễ:

- Phải chăng cô nương họ Lý. Còn công tử họ Thân?

Mỹ-Linh kinh ngạc:

- Sao tiên sinh biết rõ thế?

Lão cung kính nói:

- Cách đây mấy ngày, nhị vị công chúa báo mộng rằng sắp có một gái họ Lý khuê danh Mỹ-Linh, một trai họ Thân tên Thiệu-Thái. Cả hai thuộc hàng con em đệ tử của nhị vị công chúa. Nhị vị công chúa dặn chúng tôi phải chờ đợi hầu tiếp đón chu đáo.

Ông mời hai người vào một phòng khách, trang trí thanh nhã, cung cung kính kính mời ngồi. Cả ban trị sự gồm mười người đều có mặt. Họ đưa mắt cho nhau, rồi cùng quỳ gối hành đại lễ. Lão già nói:

- Bọn chúng tôi, gồm mười người, trong ban trị sự đền, được nhị vị công chúa báo mộng rằng hai vị thuộc con em đệ tử hai ngài. Sau này hai vị sẽ làm những truyện kinh thiên động địa. Sự nghiệp còn hơn nhị vị Công-chúa. Nếu hai vị sai bảo gì, chúng tôi phải tuyệt đối tuân hành. Vì vậy, chúng tôi xin kính cẩn cúi đầu nhận sự sai bảo của hai vị.

Mỹ-Linh, vội nói lời miễn lễ, ân cần mời ban trị sự ngồi. Họ thay nhau giới thiệu:

- Trưởng ban trị sự họ Trần tên Cương. Phó Trần Yên. Thủ quĩ Trần Sơn.

Mỹ-Linh thấy cả mười người đều họ Trần. Nàng ngạc nhiên hỏi:

- Tại sao ban trị sự đều họ Trần?

Trần Cương đáp:

- Nguyên đất này, xưa được phong cho Phương-chính hầu Trần Tự-Minh. Sau này con cháu người lập nghiệp khắp vùng. Hồi Khúc-giang ngũ hùng làm vua Nam-hải, ban luật rằng chỉ người họ Trần mới được bầu vào ban trị sự đền.

Mỹ-Linh cầm sổ quyên giáo. Nàng viết: Lý-Mỹ-Linh. Thân-thiệu-Thái kính cẩn dâng mười nén vàng, để tu bổ đền.

Thời bấy giờ, một nén vàng nặng mười lượng. Mỗi lượng vàng ăn một trăm lượng bạc. Mỗi lượng bạc ăn mười quan tiền. Thành ra số vàng Mỹ-Linh cúng tới mười vạn quan tiền. Với số tiền này, có thể xây được bốn ngôi đền lớn hơn đền hiện tại.

Ban trị sự được hai Công-chúa báo mộng, những tưởng Mỹ-Linh, Thiệu-Thái thuộc giới võ lâm, giầu có. Nếu cúng, cao nhất một quan là cùng. Nào ngờ hai người cúng số vàng quá lớn. Họ mở to mắt ra, không nói lên lời.

Khi khởi hành, Mỹ-Linh đã có chủ tâm:

- Nếu ông nội, hay phụ vương, hay thúc phụ chính thức sai người sang tu bổ đền thờ hai vị anh hùng thời Lĩnh-Nam, ắt triều Tống cho rằng Đại-Việt mưu đồ gì, e khó khăn cho việc thờ cúng. Âu ta mượn cớ hành hương, cúng vào quĩ. Như vậy không ai nói gì được.

Nàng mở bọc lấy ra mười nén vàng, sáng chói. Trên nén vàng đều có khắc chữ Thiên-thánh nguyên niên. Trần Cương cầm thỏi vàng lên coi, rồi nói:

- Thực may mắn! Cô nương cúng vàng đại Tống. Chứ nếu vàng Đại-Việt, bọn lão hủ phải nấu ra ngay, bằng không e rắc rối to.

Mỹ-Linh cũng sợ khó khăn cho ban trị sự. Nàng viết thêm bằng chữ Hán: Số vàng mười nén này, trăm họ góp lại. Chúng tôi thay mặt kính dâng. Viết xong nàng nghĩ:

- Ta bảo vàng của trăm họ cũng đúng. Vì vàng này vốn của Triệu Thành đền cho người bị Lý Tự phóng ám tiễn giết chết trong đại hội giỗ Lệ-Hải bà vương. Số vàng bồi thường, một phần phủ tuất gia đình nạn nhân. Một phần xung vào công khố Đại-Việt. Hôm ra đi, chú hai dặn ta mang vàng Tống chi dùng, để khỏi bị lộ chân tướng. Bây giờ ta mới biết việc phòng trước quả thực thuận tiện.

Ban trị sự thấy Mỹ-Linh thêm vào mấy chữ, họ nhìn nhau, như cùng thông cảm về sự tinh tế của nàng. Trần Cương chỉ vào một bà lão đầu bạc như cước:

- Đây bà Trần Thị-Như. Bà đã trai giới ba ngày để hướng dẫn hai vị vào hậu điện diện kiến nhị vị Công-chúa điện hạ.

Chương 19: U cốc giai nhân

U cốc giai nhân -- -

Bà Như đi trước dẫn đường. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái theo sau, vào hậu điện đền. Phía sau hậu điện, hai ngôi tượng trong tư thế đứng. Một, mặt phúc hậu, mặc áo lụa mầu xanh, quần đen, dây lưng vàng, khăn choàng cổ cũng mầu vàng. Mỹ-Linh đọc sách nhiều, nàng biết đó là tượng của Nam-hải nữ hiệp Trần-thị Phương-Châu. Một tượng khuôn mặt thanh tú, mặc áo mầu hồng nhạt, dây lưng mầu xanh, cổ choàng khăn xanh. Nàng biết đây là công-chúa Lê Thị-Hảo, con gái Lê Đạo-Sinh.

Hai người kính cẩn quỳ gối lễ ba lễ nữa, rồi ngắm nghía.

Thiệu-Thái hỏi:

- Lão bà! Tượng nhị vị công-chúa đúc từ bao giờ vậy?

- Theo truyền thuyết, sau khi thành đại nghiệp. Vua Trưng ban sắc phong hai ngài, truyền xây đền thờ, cùng đúc tượng. Người đúc tượng là công chúa Yên-Lãng Trần Năng cùng Thiên-ưng lục tướng.

Mỹ-Linh cúi đầu lạy một lạy, rồi cầm thanh kiếm đeo bên hông Nam-hải nữ hiệp lên xem. Thanh kiếm hơi dài, khá trầm trọng, đúng là kiếm phái Sài-sơn. Nàng chú ý đến bao kiếm, chạm trổ khá tinh vi. Trên bao có khắc chữ Khoa-đẩu chằng chịt. Bỗng trống ngực nàng đập mạnh, vì có mấy câu thơ:

Vuông rồi mặt trời.

Soan rồi năm cạnh.

Tròn gặp tượng ta.

Nàng tự hỏi:

- Cái gì đây? Mấy câu chú này, rõ ràng ứng với năm ngôi mộ trên núi Ô-thạch. Ta cứ học thuộc rồi tính sau.

Nàng nhìn kỹ hình khắc: Rõ ràng có năm hình, giống như năm ngôi mộ Khúc-giang ngũ hiệp. Phía trước có nhiều hòn núi. Một ngọn cao nhất nhô lên. Từ giữa đỉnh một mũi tên chỉ xuống. Đầu mũi tên có chữ nghìn. Nàng nhủ thầm:

- Vậy, kho tàng hẳn phải kể từ đỉnh núi cao nhất, lui xuống chân một nghìn thước hay trượng. Ta cứ đến đó mò xem, mới hy vọng tìm ra.

Một tia sáng lóe lên:

- Tại sao phải ngày rằm tháng mười một, giờ Tý, năm Đinh-Mão cửa hang mới mở? Tháng mười một năm Đinh-Mão tức tháng Nhâm-Tý. Nhâm-Tý tức con chuột đen. Đinh-Mão tức con mèo mầu đỏ. Trong bảng mật ngữ có ghi: Chuột đen là cửa vào. Mèo đỏ là cửa ra. Ngày rằm tức con số mười lăm. Mười lăm gồm mười và năm. Trong thuật ngữ mười để chỉ nguy hiểm. Năm để chỉ những gì thuộc về năm đều phải tránh.

Trống ngực nàng đập mạnh, chân tay run lên bần bật:

- Vậy ta hiểu rồi. Nơi chôn kho tàng nằm trên ngọn Tuyệt-phong. Ngọn Tuyệt-phong có con đường vòng vèo như ruột dê từ chân núi đi lên gồm hơn hai nghìn bậc. Đến bậc thứ một nghìn có cửa vào. Sau khi vào, sẽ ra bằng cửa thông với bờ sông. Cấm chỉ đi trở lại, e nguy hiểm. Trong hang ắt có cơ quan, hễ chỗ nào liên quan tới số năm, phải tránh.

Nàng thở phào:

- Vậy khi nào đào kho tàng mà không được, việc gì phải đợi ngày rằm tháng mười một giờ Tý năm Đinh-Mão?

Thiệu-Thái thấy thần sắc Mỹ-Linh kỳ lạ, chàng cho rằng nàng cảm động khi cầm di vật của anh hùng muôn năm cũ.

Nàng cất kiếm vào giá, rồi cùng bà Như, Thiệu-Thái trở ra. Ban trị sự mời hai người thụ lộc. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái không chối. Hai người ngồi ăn cơm với họ.

Thấy trời về khuya. Mỹ-Linh đứng lên từ tạ:

- Chúng tôi xin kiếu. Có thể mấy hôm nữa, chúng tôi trở lại tạ nhị vị Công-chúa, rồi hầu truyện cùng chư vị.

Ban trị sự tiễn hai người ra tới cổng. Tới bờ sông, chỗ đậu thuyền, thiếu nữ theo hầu đang đứng chờ. Mỹ-Linh không thấy thuyền đâu, nàng hỏi:

- Sương ơi! Thuyền di chuyển rồi sao?

Sương chỉ sang bên kia bờ sông:

- Khi thuộc hạ ra đây, thấy thuyền mình đậu bên kia sông. Thuộc hạ gọi thế nào, họ cũng không chịu qua.

Thiệu-Thái chợt nghe tiếng tiêu từ con thuyền vọng qua, rõ ràng bản Động-đình ca. Chàng đưa mắt nhìn Mỹ-Linh:

- Dường như có sự biến rồi thì phải.

Trên con thuyền của Chu Tấn, rõ ràng bốn ngư nhân đang ngồi ngất ngưởng ăn uống, cười đùa. Mỹ-Linh bảo Thiệu-Thái:

- Như vậy thuyền bị bốn ngư nhân cướp mất rồi. Dường như họ muốn trêu mình chứ không có ác ý. Trông lưng bốn người quen quá, mà không biết em đã gặp ở đâu!

Chợt Mỹ-Linh thấy trong bụi hoa gần đó có tiếng sột soạt. Nàng vội rút kiếm, cùng Thiệu-Thái tiến lại: Dưới bụi hoa, bốn thuyền phu giáo chúng đều ngồi bất động, mắt mở, mà chân tay cứng đơ.

Thiệu-Thái nhấc từng người ra một. Người nào cũng bất động. Mỹ-Linh hỏi:

- Cái gì đã xẩy ra?

Bốn người im lặng, mắt chớp chớp liên tiếp. Mỹ-Linh hỏi:

- Rõ ràng họ tỉnh, chứ không phải bị đánh thuốc mê. Tại sao không ai nói, không ai cử động được?

Thiệu-Thái dùng tay chà bóp cho một người. Sau khi chà lần thứ nhì, người đó bật lên tiếng ái rồi cử động được.

Việc đầu tiên y chửi tục:

- Tổ bà nó.

Y định văng tục nữa, nhưng chợt nhớ lại trước mặt giáo chủ, nên vội ngậm miệng lại.

Mỹ-Linh hỏi:

- Cái gì đã xẩy ra?

- Thưa công chúa! Bọn thuộc hạ đang ngồi trên thuyền. Bỗng có người từ trên bờ nhảy xuống. Y dùng tay chọc vào sau cổ bọn thuộc hạ. Lập tức bọn thuộc hạ không nói được nữa. Họ lại nắm vào tay bọn thuộc hạ. Thế là cả bốn tê liệt hoàn toàn.

Thiệu-Thái đã chà xát cho ba người kia cử động được. Mỹ-Linh hỏi:

- Chúng chọc vào chỗ nào?

Theo vết tay thuyền phu chỉ. Mỹ-Linh kinh hãi:

- Họ đều bị chọc vào huyệt Á-môn với Nội-quan. Không hiểu võ công bọn ngư nhân thế nào, mà chọc vào huyệt Á-môn khiến không nói được. Rồi bóp huyệt Nội-quan khiến toàn thân tê liệt?

Thiệu-Thái cũng nhận thấy vậy:

- Đào, Lê trưởng lão võ công cao biết mấy, thế mà chỉ bị cái phao đánh vào huyệt Đại-trùy, Hoàn-khiêu, đến nỗi tê liệt.

Bốn giáo chúng thuyền phu uất ức ra mặt. Một người nói với Thiệu-Thái:

- Xin giáo chủ để bọn thuộc hạ lặn xuống sông đục thuyền, cho đám kia trở thành tôm cá hết.

Mỹ-Linh nói nhỏ:

- Các vị đại ca có thấy cuộn dây treo phía hông phải thuyền không? Bây giờ, một vị lặn xuống gỡ cuộn dây, rồi buộc vào bánh lái, sau đó ròng dây qua bên này. Giáo chủ sẽ dùng thần công kéo thuyền qua, đét vào đít cho bọn kia mấy cái.

Một giáo chúng vâng dạ, trườn xuống sông. Y lặn dưới nước, sẽ nhô đầu lên, tay gỡ cuộn dây. Bốn ngư nhân ăn uống trên thuyền tuyệt không đề phòng. Viên giáo chúng buộc dây vào bánh lái, rồi lặn dưới nước, ròng sang bên này bờ.

Thiệu-Thái mừng rỡ, núp vào bụi cây cầm dây chờ đợi. Mỹ-Linh vận sức vào đơn điền, nói lớn:

- Này mấy bạn ngư nhân. Mấy bạn bắt của ta hai người, lại cướp thuyền của ta. Như vậy chẳng hoá ra trộm cướp ư?

Một ngư nhân nói:

- Cô nương nói lạ. Chúng ta làm nghề đánh cá trên sông. Tự nhiên hai con nhân ngư nhảy vào thuyền ta. Chứ ta bắt hồi nào. Còn thuyền này ư? Thuyền này cũng của ta, các người chiếm lĩnh. Ta chỉ đòi lại mà thôi.

Mỹ-Linh ra hiệu cho Thiệu-Thái, rồi nói:

- Ta muốn mời bốn vị qua đây chơi, nên chăng?

- Bên đó có gì thú vị đâu mà chơi? Có ngựa phi mới thú. Hoặc có trâu cỡi nhàn du nên thơ, chúng ta mới qua. Chứ qua chơi với lợn, chúng ta không thích.

Nghe ngư nhân nói, Mỹ-Linh yên tâm. Vì chỉ người rất thân trong nhà mới biết danh hiệu lợn của Thiệu-Thái. Nàng hất hàm. Thiệu-Thái chuyển động thần lực kéo mạnh. Con thuyền rung rinh, chao đi một cái. Cây sào cắm dưới nước bị bật lên. Thuyền từ từ sang bên này sông.

Bốn ngư nhân la hoảng. Họ vội đứng đậy quan sát. Thấy rõ thuyền bị kéo bởi sợi dây lớn, một người cầm cần câu vung lên. Véo một tiếng, sợi dây đứt đôi. Thiệu-Thái mất thăng bằng suýt ngã. Một ngư nhân cầm sào chống lại. Con thuyền ngừng ở giữa dòng sông.

Một ngư nhân cười lớn:

- Sao ông ỉn muốn đi thuyền à? Được ta trả thuyền cho đấy.

Ngư nhân chống sào một cái, con thuyền cập bờ bên kia. Bốn người lên bờ, rồi cùng đẩy thuyền. Con thuyền chao đi, trôi sang bên này sông.

Mỹ-Linh rút kiếm thủ sẵn, đề phòng, rồi nhảy xuống thuyền trước. Thiệu-Thái nhảy xuống sau. Bốn giáo chúng thuyền phu, cùng Sương xuống theo. Họ xem xét thuyền một lượt, rồi nói với Thiệu-Thái:

- Đồ đạc còn nguyên, không mất thức gì cả.

Mỹ-Linh thấy bốn ngư nhân đi chưa xa. Nàng truyền thuyền phu đẩy sang bên kia sông. Nàng nói với Sương:

- Em cùng bốn anh đây về trước. Chúng tôi về sau.

Nói rồi hai người dùng khinh công theo bốn ngư nhân. Bốn ngư nhân như không biết có người đuổi, thủng thẳng đi. Phút chốc Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đã đuổi kịp. Mỹ-Linh nói:

- Bốn vị đi chơi vui nhỉ. Cho anh em tại hạ nhập bọn được chăng?

Bốn ngư nhân quát lên một tiếng, rồi chia làm bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc mà chạy. Thiệu-Thái hỏi Mỹ-Linh:

- Chúng ta đuổi theo ai?

Mỹ-Linh chỉ vào hướng ngư nhân mũ đỏ ngồi câu cá, bắt sống Đào Nhất-Bách:

- Chúng ta theo người kia.

Ngư nhân mũ đỏ hướng về phía chân núi mà chạy. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đuổi theo. Khinh công ngư nhân thực không tầm thường. Mỹ-Linh đã vận hết công lực, mà thủy chung vẫn không bắt được.

Tới chân núi, bóng ngư nhân mất tích, dưới ánh trăng sáng hiện ra cảnh rừng núi u tịch.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái trở về thuyền. Tới bến, nàng viết thư, sai chim ưng chuyển cho Khai-Quốc vương. Nàng nghĩ thầm:

- Không ngờ có di thư, có mật ngữ, mà mình còn phải nhờ thăm lăng mộ, cùng đền thờ, mới tìm ra.

Mười hôm sau, chim ưng đem thư Khai-Quốc vương về. Trong thư vương ra lệnh cho Thiệu-Thái, Mỹ-Linh không cần giữ kín thân thế. Nửa kín, nửa hở bằng cách du ngoạn, ăn uống, mua sắm.

Từ lúc đến Khúc-giang, Mỹ-Linh bị giam trên thuyền, nàng cảm thấy chán nản như bị tù. Nay được lệnh hơi lạ đời, nhưng nàng mừng lắm, cùng Thiệu-Thái ngao du khắp nơi.

Cho đến ngày mười ba, tháng mười một, Mỹ-Linh kinh ngạc:

- Chỉ còn một ngày nữa, anh hùng các nơi tụ về. Chúng ta phải tìm Triệu-Thành xin đi hộ vệ y, để xem cuộc long tranh, hổ đấu giữa Khu-mật viện Tống do Triệu Thành cầm đầu, và bang Nhật-Hồ Trung-quốc do Lưu hậu đứng sau. Mà sao không thấy bóng dáng chú hai đâu kìa?

- Có khi cậu tới lâu rồi, mà ta không biết đấy thôi. Ta lại lên bờ ăn tối đi.

- Ăn thì ăn. Món Quảng hơi giống món Việt, ăn được lắm.

Trời chập choạng tối, hai người lên bờ, đạo chơi. Mỹ-Linh chỉ vào tửu lầu bên sông:

- Chúng ta vào kia ăn đi.

Thình lình có tiếng hát đâu đó vọng lại:

Hò la hò lảy,

Con gái bẩy nghề.

Ngồi lê là một.

Dựa cột là hai.

Nói dai là ba.

Ăn qùa là bốn.

Trốn việc là năm.

Hay nằm là sáu.

Hay cáu là bẩy.

Rồi có tiếng nói:

- Không biết cô ta có mấy nghề trong bẩy vậy kìa?

Mỹ-Linh nhìn lại, thì ra ngư nhân mũ đỏ. Y để tay lên mũi trêu nàng:

- Cô nương có mua cá không? Tôi bán cho.

Nói dứt lời y bỏ chạy về phía chân núi Tuyệt-phong. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái lập tức đuổi theo thực gấp.

Ngư nhân đã tới chân núi. Dường như quen thuộc đường lối, y vọt mình lên triền dốc. Mỹ-Linh cũng theo bén gót. Tới đỉnh thứ nhất, ngư nhân đổ đồi. Mỹ-Linh ngừng lại trên đỉnh quan sát: Phía sau ngọn núi, còn một ngọn cao hơn. Giữa hai ngọn núi, là thung lũng, có suối chảy trắng xoá. Dưới ánh trăng, nước suối như muôn ngàn khối vàng chen chúc, đổ chồng lên nhau.

Mỹ-Linh nhủ thầm:

-- À ngọn cao nhất kia là Tuyệt-phong, nơi chôn cất kho tàng đây. Ta nhân dịp này dò thám xem. Đợi khi chú hai tới, e lâu qúa.

Ngư nhân thấy Mỹ-Linh dừng lại quan sát địa thế. Y cũng dừng lại chờ. Mỹ-Linh bực mình, vì bị trêu chọc, nàng hăm hở đuổi theo.

Tới con suối, ngư nhân lội tràn qua, hướng một căn nhà trên triền núi cao chạy tới. Mỹ-Linh tự nhủ:

- Dù người đi đâu, ta cũng dám theo đến cùng. Ta há sợ cạm bẫy ư?

Ngư nhân tới căn nhà, thì mất hút. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái chạy đến gần quan sát: Đây là ngôi nhà kiến trúc rất đặc biệt. Nửa dưới xây bằng đá mầu hồng nhạt. Nửa trên làm bằng gỗ quý. Mái lợp ngói xanh.

Nhà có hai tầng chia làm hai lớp. Lớp trên, một tầng bốn mái cong. Trên nóc có hình con rồng uốn khúc mầu đỏ, đên cạnh, con chim âu mầu trắng. Xung quanh có lan can sơn son thiếp vàng. Mỗi hướng có ba cửa thông với lan can. Một cửa lớn, hình chữ nhật. Hai cửa nhỏ hình tròn.

Tầng dưới bốn mái cong , cũng ngói xanh. Thềm nhà cao chín bậc, đều bằng đá. Hàng hiên có những cây cột gỗ lớn bằng người ôm chạm trổ tinh vi. Bốn hướng đều có ba cửa thông ra ngoài, một cửa lớn, hai cửa nhỏ, sơn son đỏ chói.

Nàng ngắm nhìn ngôi nhà, kiến trúc giống hệt điệm Long-thụy trong Hoàng-thành Thăng-long.

Nhà bao bọc bởi một hàng rào bằng trúc, cắt xén cực kỳ tinh vi. Cổng bằng tre kết lại. Trên cổng, những dây hoa leo chằng chịt. Trong vườn, trồng rất nhiều cây cảnh. Giữa sân, có chiếc bể cạn. Trong bể, một hòn giả sơn trồng trúc.

Đâu đó vẳng tiếng đàn thoang thoảng như có, như không, một giọng hát trong nhẹ bay ra.

Mỹ-Linh đưa mắt cho Thiệu-Thái, rồi nàng nói:

- Ngư nhân chạy vào đây, ắt biết chúng ta theo dõi. Vậy chúng ta không nên ẩn náu, mà đường đường chính chính gõ cửa. Rõ ràng y dẫn dụ chúng ta tới. Tuy vậy, với ngôi nhà kiến trúc này, thân phận y không nhỏ. Y lại không có ác ý với ta. Ta chẳng nên vô phép.

Nàng cầm dây giật chuông. Từ phía trong, một người mặc quần áo theo kiểu nô bộc ra mở cổng. Y cung kính chắp tay nói bằng tiếng Quảng:

- Kính chào quý khách. Quý khách ghé trang trại chúng tôi có mục đích gì? Xin quý khách cho biết cao danh, quý tính. Chúng tôi vào báo với chủ nhân.

Mỹ-Linh không biết hành tung đã bị lộ hay chưa. Nàng nói bằng tiếng Biện-kinh:

- Anh tôi tên Thái Thân, tôi tên Đỗ Lệ. Chúng tôi từ Đại-Việt sang đây, xin yết kiến trang chủ có việc riêng khẩn cấp.

Lão nô bộc vào nhà một lúc, rồi mở tung cửa chính, ra cúi rạp người xuống:

- Chủ nhân chúng tôi xin thỉnh hai vị vào.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái vừa bước vào đến sân, tiếng đàn im bặt, có tiếng nói vọng ra:

- Tại sao âm ba đang đều, lại trong, rồi lên cao thế này? Hẳn có quý khách giá lâm đây.

Từ trong cánh cửa, một thiếu nữ mặc áo trắng, xiêm tím, khoan thai bước ra. Nàng xuống đến bậc thềm thứ năm chờ khách. Đợi Mỹ-Linh, Thiệu-Thái lên tới bậc thứ năm, nàng mới chắp hai tay hành lễ:

- Kẻ thô lậu ở chốn rừng hoang. Đêm nay hân hạnh được tiếp nhị vị từ xa chiếu cố. Xin mời.

Lễ nghi cổ của Đại-Việt, kể từ đời vua Hùng thứ chín áp dụng đối với khách lạ, hoặc ngang vai như sau: Khi khách tới thăm nhà. Chủ nhà không được ngồi chờ, cũng không thể ra cổng đón, mà phải áp dụng phân đình giao bái. Nghĩa là nếu có sân, phải rảo bước tới giữa sân chờ sẵn. Khi khách vào ngang với mình, chủ hành lễ trước. Khách đáp lại sau. Nếu nhà có bậc thềm, tới bậc giữa chờ. Thiếu nữ đưa bàn tay búp măng trắng hồng, trong áo lụa trắng chỉ vào phòng khách:

- Xin mời quý vị.

Mỹ-Linh, Thiệu Thái sóng vai vào nhà. Mỹ-Linh lại ngạc nhiên nữa, vì bên trong, trần thiết giống y như điện Long-thụy. Giữa phòng, một cái bàn dài ước hai trượng (4 mét ngày nay), rộng ước trượng rưỡi. Theo chiều dài, mỗi bên để chín cái ghế theo tư thế đối diện nhau.

Trên bàn, một đỉnh hương bằng đồng đen, trầm bốc khói nghi ngút. Cạnh đỉnh, bên trái một chồng sách cao. Trong chồng sách, có cuốn trên gáy in hàng chữ Khoa-đẩu Thiên-địa kinh. Bên phải một cái nghiên, một ống bút. Có ba bút Trung-quốc và một bút Đại-Việt để viết chữ Khoa-đẩu.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

- Thiên địa kinh được viết từ thời vua Hùng thứ năm, nói về tương quan giữa người với trời, cùng vạn vật, thực tế vô cùng. Nó bao gồm cả Luận-ngữ, Mạnh-tử, Mặc-tử, Tuân-tử. Cho nên người xưa nói: Thiên địa kinh đi trước Khổng, Mạnh, Mặc, Tuân đến hơn nghìn năm. Nhiều người còn cho rằng bốn đại hiền triết Trung-quốc đã nhân Thiên-địa kinh, rồi diễn giải ra. Nữ lang này đọc được Thiên-địa kinh ắt kiến thức không tầm thường.

Nữ lang chỉ vào cái ghế chạm rồng, khảm xà cừ lóng lánh mời Mỹ-Linh. Mỹ-Linh ngồi xuống.

Nàng lại trỏ vào cái ghế chạm hổ mời Thiệu-Thái.

Bấy giờ Mỹ-Linh mới để ý đến nữ lang. Nàng tuổi khoảng mười sáu mười bẩy. Mái tóc óng ánh, buông xoã xuống ngang vai. Trên đầu, nàng cài con phượng bằng ngọc xanh. Hai mắt dát kim cương. Từ dáng người, khuôn mặt, hai vai, bàn chân đẹp tuyệt.

Thiệu-Thái than thầm:

- Mình đã thấy vẻ đẹp quyến rũ của Lâm Huệ-Phương, vẻ đẹp u tĩnh của Đào Hà-Thanh, vẻ đẹp tươi thắm của Mỹ-Linh. Bây giờ đến vẻ đẹp mờ mờ nhân ảnh của nữ lang này nữa là bốn.

Một nữ tỳ bưng nước ra mời.

Nữ lang hỏi:

- Không biết hai vị đi chơi đâu giữa đêm trăng đẹp, mà lạc lối vào đây?

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

- Nếu không tận mắt thấy ngư nhân bắt hai trưởng lão Lạc-long giáo, võ công kinh thiên động địa, rồi lại cướp thuyền của mình, hẳn bị nàng đánh lừa rồi. Ban nãy, rõ ràng ngư nhân chạy vào đây, mà nàng vờ như không biết.

Mỹ-Linh nói thực:

- Anh em tại hạ đuổi theo một người. Người đó chạy vào trang này, nên quấy nhiễu cô nương. Xin cô nương cho gặp y, và thứ lỗi làm mất sự yên tĩnh của cô nương.

Thiếu nữ cau mày:

- Cô nương đuổi theo một người ư? Ai thế? Tại sao cô nương lại đuổi theo?

Thiệu-Thái xen vào:

- Thưa cô nương, từ sáng đến giờ, có bốn ngư nhân theo đuổi, phá phách anh em tại hạ. Họ bắt đi mất hai người anh em của bọn tại hạ. Vì vậy anh em tại hạ phải đuổi theo.

Nữ lang bảo tỳ nữ:

- Người gọi lão Chí vào cho ta hỏi.

Nữ tỳ ra ngoài, một lát lão bộc vào thõng tay đứng chờ lệnh. Thiếu nữ hỏi:

- Này lão Chí. Có ai chạy vào đây không?

Lão Chí đáp:

- Thưa cô nương tiểu nhân không rõ nữa.

Đến đó bỗng có tiếng cười khành khạch bên ngoài, rồi tiếng ngư nhân vọng vào:

- Thưa cô nương, tại hạ bị con lợn với con nhí đuổi theo. Tại hạ đói quá vào bếp cô nương kiếm cái gì ăn. Con lợn với con nhí tưởng tại hạ là người quý trang, nên vào đây phá rối sự yên tĩnh của cô nương.

Tiếng nói dứt, một người xồng xộc chạy vào. Y chính là ngư nhân mũ đỏ. Không khách sáo, ngư nhân mũ đỏ ngồi xuống ghế, tay cầm con gà quay đưa lên miệng cắn ăn.

Thiệu-Thái đưa mắt nhìn: Da mặt ngư nhân cực kỳ xấu xa, khó có thể đoán y bao nhiêu tuổi. Thân hình y nhỏ, ngắn, trong khi chân lại cao, không tương xứng tý nào cả.

Nữ tỳ kêu lên:

- Thì ra người. Suốt mấy ngày qua, ta làm không biết bao nhiêu thức ăn ngon, bị mất trộm, ta không hiểu tại sao. Bây giờ mới biết người ăn vụng.

Ngư nhân cười:

- Ai bảo cô nương làm thức ăn ngon để người ta phải thèm. Sáng hôm kia ta ăn trộm con gà dồi nấm hấp ngũ vị hương. Buổi chiều ta lấy con cá chưng thập cẩm. Trưa hôm qua, ta lấy có điã đùi ếch chiên, cùng bát canh thập cẩm. Tối, người chưng cá ngon quá, ta lấy cả con cá to. Sáng nay ta không lấy gì.

Y móc trong túi moi một nén vàng. Mỹ-Linh nhận ra nén vàng của mình. Bất giác nàng sờ tay vào túi, nén vàng không cánh mà bay! Nàng kinh hoàng:

- Nội công mình tiến đến chỗ ít ai bằng. Không hiểu bằng cách nào ngư nhân móc túi trộm được nén vàng?

Điểm lại, nàng mang theo hai mươi nén vàng. Khi vào đền Sa-khẩu, lấy ra mười nén cúng. Còn lại nàng bỏ một nén vào túi để tiêu. Chín nén, cất vào bọc. Sau đó nàng ngồi ăn uống với ban trị sự, tuyệt không ai lại bên nàng, mà móc được vàng. Từ đền Sa-khẩu ra sông, nàng đi lẫn vào đám đông... Chợt nàng lóe lên tia sáng. Trong khi đi lẫn đám đông, có mấy người chạm vào nàng. Chắc ngư nhân hoá trang, móc túi lấy vàng.

Ngư nhân tung nén vàng lên. Nén vàng bay đến trước mặt nữ tỳ, rồi rơi tọt vào túi nàng như ta cầm nhét vào vậy. Y cười:

- Cô nương! Ta trả tiền thức ăn cho cô nương.

Nữ tỳ móc nén vàng ném vào ngư nhân, kình lực rít lên đến véo một tiếng. Ngư nhân vung tay một cái, nén vàng bay trở về tỳ nữ. Lần này nén vàng không chui vào túi, mà rơi xuống cái kỷ trước mặt nàng. Nén vàng nặng như vậy, mà không một tiếng động.

Nữ lang nói nhỏ nhẹ:

- Cao nhân tặng vàng của Đại-Tống, tức lộc đến cửa. Ta chẳng nên từ chối, e phụ lòng người.

Nữ tỳ cầm nén vàng cất vào túi.

Thiếu nữ áo trắng nói với ngư nhân:

- Thiếu hiệp. Chiêu khoanh tay vừa rồi dường như thuộc chưởng pháp Đông-a biến hóa ra. Phải chăng thiếu hiệp là đệ tử của một trong Thiên-trường ngũ kiệt?

Mỹ-Linh chửi thầm:

- Người này còn trẻ. Mình không nhận ra võ công y. Trong khi nữ lang đã thấy rõ. Nữ lang quả kinh lịch hơn mình nhiều.

Nghe nữ lang hỏi, ngư nhân cười hề hề lắc đầu:

- Tại hạ không phải học trò của Thiên-trường ngũ kiệt.

Thiệu-Thái xuất thế cầm long công chụp ngư nhân. Trái với sự phỏng đoán của mọi người. Ngư nhân thản nhiên để chàng túm lấy. Y cười khành khạch:

- Con lợn dám dụng võ, mà không sợ bị cô nương đây trách phạt ư? Người có biết như vậy là thổi tiêu trước nhà Trương Chi, múa kiếm trước cửa Vạn-tín hầu, dương cung trước mặt Cao-cảnh hầu không?

Nghe ngư nhân ví von, Mỹ-Linh tự nhủ:

- Ngư nhân này quả thực thuộc loại giáo dục rất căn bản. Từ xưa đến giờ, mỗi khi so sánh, ví von, người Việt thường có hai loại. Một loại ra cái điều ta đây thông sử Trung-quốc. Hơi tý đem điển cố Trung-quốc ra để khoe kiến thức. Một loại lại viện lịch sử Việt ra, tỏ rằng mình không thiếu gì kỳ tích, hồng điển. Như vừa rồi, nếu loại người vong bản sẽ ví: Đọc Hiếu-kinh trước nhà Khổng-tử, múa búa trước cửa Lỗ-Ban. Thiếu niên này lại ví thổi tiêu trước nhà Trương Chi, múa kiếm trước cửa Vạn-Tín hầu và dương cung trước mặt Cao-Cảnh hầu. Như vậy kiến thức y không tầm thường. Ta phải hoà giải với y hơn là gây ác cảm.

Thiệu-Thái bỏ ra ngoài lời đe dọa của ngư nhân, chàng nói:

- Mi phải thả hai người bạn ta ra ngay. Bằng không ta bóp chết mi.

- Bóp chết? Mi tưởng bóp chết người dễ lắm ư? Mi bóp chết ta, thì liệu mi có tìm ra hai con cá hồng ở đâu không? Ta nói cho mi biết, mi có mười con cá, ta bắt hết rồi, mi chẳng còn gì nữa.

Thiệu-Thái vốn chậm chạp, chàng hỏi vặn:

- Thế người của ta đâu?

- Ta định xẻ ra từng cân đem bán. Người có mua ta bán cho ít cân. Cá hồng kho lẫn với thịt lợn ỉn ngon đáo để.

Thiệu-Thái thấy các ngư nhân hay đem tiếng lợn ra nhạo chàng, như vậy có lẽ là người thân. Chàng chưa biết đối đáp ra sao.

Ngư nhân hỏi thiếu nữ:

- Cô nương! Võ công tôi không dở. Bản lĩnh tôi không hèn. Vì ở trong quý trang, tôi không dám xử dụng võ công, nên bị con lợn chụp được. Xin cô nương xử cho vụ này.

Thiếu nữ bảo Thiệu-Thái:

- Mong công tử buông vị huynh đệ này ra cho.

Thiệu-Thái đành bỏ ngư nhân xuống đất. Ngư nhân cười khành khạch:

- Ngu như lợn!

Thình lình y lạng người một cái, vọt ra cửa biến vào đêm tối. Mỹ-Linh tung người đuổi theo. Ra khỏi trang, nàng thấy bóng trắng đang chặn trước mặt ngư nhân, làm y chạy không được. Nhìn kỹ, thì ra nữ lang. Nữ lang nhỏ nhẹ:

- Mời huynh đệ vào nhà chơi đã. Mới đến, sao vội đi lắm vậy.

Mỹ-Linh tự nghĩ:

- Thực ngoài gầm trời này, còn gầm trời khác. Ta những tưởng khinh công mình tuyệt hảo. Không ngờ khinh công nữ lang còn cao hơn.

Ngư nhân biết không đừng được. Y nhăn mặt, rồi sóng đôi với nữ lang vào nhà. Mỹ-Linh cũng vào theo. Vừa vào trong, nàng đã bật lên tiếng kêu lớn. Vì trong nhà, đã có mặt đủ ba ngư nhân nữa.

Nữ lang thản nhiên như không có truyện gì xẩy ra. Nàng truyền nữ tỳ kéo ghế mời mọi người ngồi, rồi nhỏ nhẹ nói với bốn ngư nhân:

- Các vị huynh đệ còn nhỏ tuổi, mà võ công đã đến trình độ này, thực trọn đời tôi chưa từng thấy. Suốt hơn nửa tháng nay, bốn vị quấy phá khắp trấn Khúc-giang, vẫn chưa cho rằng đủ ư, mà còn chọc giận hai vị đây làm chi?
Mỹ-Linh để ý, bốn ngư nhân đều có hình thù kỳ dị: Thân hình nhỏ, ngắn, trong khi chân dài. Cả bốn ngư nhân da mặt đều cực kỳ xấu ra. Bốn người mặc cùng thứ quần áo, cùng một mầu nâu. Họ chỉ khác nhau ở điểm đội bốn chiếc mũ bốn mầu trắng, đen, xanh, đỏ. Ngư nhân tung dây bắt Đào Nhất-Bách cùng Lê Đức đội mũ mầu đỏ.

Ngư nhân đội mũ mầu trắng nói với nữ lang:

- Cô nương! Cô nương thực thần thông. Cô nương chỉ ở trong trang, thế mà biết hết việc làm của anh em tại hạ.

Nữ lang mỉm cười, nhe hàm răng trắng bóng, đều như bắp:

- Tiểu huynh đệ đừng quá khen. Cho đến hôm nay tại hạ cũng không biết bốn vị đến đây ngày nào. Chỉ biết rằng bốn vị xuất hiện ngày mồng một.

Nàng chỉ ngư nhân mũ trắng:

- Các vị có năm người phải không? Dường như các vị có nhiệm vụ trông coi, canh gác ở đâu đó, nên thường chỉ có bốn vị phá phách. Trong năm vị, ta thấy huynh đệ ít phá nhất, lại thâm trầm. Dường như huynh đệ cầm đầu thì phải. Phá nhất là vị này.

Nàng chỉ ngư nhân mũ đỏ.

Nàng cười, ánh mắt chiếu ra tia sáng long lanh, nhưng đầy nhu tình:

- Các vị xuất hiện đầu tiên ngày mùng một. Có đúng thế không?

Ngư nhân mũ trắng kinh ngạc:

- Cô nương ở trong khu rừng u-tĩnh thế này, mà anh em tại hạ làm gì cô nương cũng biết hết. Cô nương thực thần thông.

Nữ lang bảo tỳ nữ:

- Tiểu-Thúy, người thuật truyện ngày mồng một đi, xem có đúng không?

Tỳ nữ chỉ vào ngư nhân mũ trắng:

- Tiểu huynh đệ, phải chăng người lớn hơn hết trong bốn anh em? Phục-ba tướng quân Mã Viện tuân lệnh vua Quang-Vũ, bình được Lĩnh-Nam. Công lao thực lớn vô cùng. Cho nên Lưu thái hậu truyền quan chuyển vận sứ Quảng-Đông lộ xuất công nho xây đền thờ. Trong đền, tạc pho tượng Phục-ba tướng quân, một tay cầm kiếm, một tay nắm tóc Trưng-Trắc giật, chân đạp lên người bà. Đền xây xong từ hơn tháng nay. Hôm mồng một vừa rồi, quan Kinh-lược an-phủ sứ Quảng-Đông Dư Tĩnh thân đến khánh thành. Tất cả các quan văn vũ, Phủ, Huyện, Tướng quân, Đề-đốc, cùng bang hội, võ phái đều tề tựu.

Nói đến đây Tiểu-Thúy mỉm cười:

- Sau khi tế xong, quan Chuyển-vận sứ tiến đến mở khăn lụa trùm tượng ra, thì tượng Trưng Trắc không thấy, mà chỉ thấy tượng Phục-Ba tướng quân, nhưng đầu bị cắt mất, thay vào đó bằng cái đầu trâu máu me kinh tởm.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái bật lên tiếng cười. Ác cảm với bốn ngư nhân bớt đi. Tiểu-Thúy tiếp:

- Quan Chuyển-vận sứ nổi giận hét be be. Thình lình bốn vị xuất hiện, trang phục giả gái. Bốn huynh đệ cùng mở ra bốn cái bầu. Trong bầu toàn cào cào, với phân. Cào cào bay tứ tung trong đền, hôi thối không chịu được. Các quan võ xúm vào bắt bốn cô gái. Bốn cô đục tung mái đền, nhảy lên nóc. Ở trên nóc đền, bôn cô ném xuống không biết bao nhiêu bột đen. Bột này làm quan khách, dân chúng cay mắt, bỏ chạy tán loạn.

Tiểu-Thúy nghiêm nghị:

- Bốn cô gái đó, chính là bốn vị huynh đệ.

Bốn ngư nhân nhìn nhau cười khúc khích. Tiểu-Thúy tiếp:

- Ngày mùng hai, bốn huynh đệ giả làm bốn đạo sĩ người Việt, lái hai con thuyền cực lớn đến bến Khúc-giang. Trên thuyền chở đầy gạo, cá, vải. Bốn huynh đệ đem loa gọi dân nghèo phát chẩn. Nguyên hai con thuyền đó từ Hổ-môn chở lương thực cho đạo quân mơí tới đồn trú. Bốn huynh đệ dùng thứ võ công gì làm lính thủy tê liệt chân tay rồi bỏ vào khoang. Sau đó phân phát cho dân.

Mỹ-Linh gật đầu tỏ vẻ đồng ý. Tiểu-Thúy tiếp:

- Sau đó bốn huynh đệ đi chặt đầu tất cả tượng trong những đền thờ các tướng soái từng đem quân đánh Đại-Việt, rồi phóng hoả. Đến bang Nhật-hồ, võ lâm nghe đến đều kinh hồn táng đởm, thế mà bốn huynh đệ cũng trêu chọc ngũ sứ của bang này đến thất điên bát đảo. Ôi! Gan bốn huynh đệ lớn quá. Ta xin có lời khâm phục. Hôm kia bốn huynh đệ ăn trộm gói hành lý của Khu-mật viện sứ Phạm Trọng-Yêm. Còn từ qua đến giờ các huynh đệ đến đây ăn vụng, cùng phá phách hai vị này.

Nữ lang nghiêm nét mặt nói:

- Bốn huynh đệ phá quá, không ai chịu nổi nữa. Tại hạ muốn được coi chân tướng các vị, không biết có được không?

Ngư nhân mũ đỏ lắc đầu:

- Cho cô nương thấy bộ mặt xấu xa của anh em tại hạ thì được. Chứ cho ông ỉn kia coi e không ổn.

Nữ lang đứng lên, chỉ vào Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, rồi cười:

- Trước kia hai vị đây đi tìm bốn vị huynh đệ. Nay tại hạ e bốn vị phải tìm hai vị này. Người Quảng-Đông lộ chúng tôi có câu Đùa với quỷ thì nên. Gần bên Hồng-thiết thì chết. Từ qua đến giờ, các vị đùa dỡn với Lạc-long giáo chủ, trêu cợt đủ điều, song các vị vẫn ở xa. Từ nãy đến giờ, các vị ngồi bên cạnh, lại ngang ngược gọi một điều lợn, hai điều ông ỉn, mà không đề phòng.

Bốn ngư nhân nhìn nhau cùng cười. Nữ lang chỉ ngư nhân mũ đỏ:

- Vị huynh đệ này, bị Lạc-long giáo chủ nhắc lên. Trong khi nhắc, giáo chủ đã nhả vào người huynh đệ ít Chu-sa ngũ độc. Bây giờ xem các vị có phải cầu khẩn giáo chủ giải độc cho không nào?

Ngư nhân mũ đỏ cười:

- Cô nương đừng lo. Trong người tại hạ có con rắn độc. Hễ ai phóng độc vào người, nó ăn ngay độc tố đi. Tại hạ vẫn khoẻ như thường. Chu-sa độc của ông ỉn này không làm gì được tại hạ đâu!

Nó đưa tay cho mọi người coi. Từ Thiệu-Thái đến Mỹ-Linh, nữ lang đều kinh ngạc. Nội công Thiệu-Thái đâu có tầm thường, thế mà chàng nhả độc chưởng vào người y, mà không làm gì được.

Ngư nhân mũ đỏ thè lưỡi ra nhát Thiệu-Thái.

Thình lình bốn ngư nhân cùng phát chưởng tấn công. Ngư nhân mũ đỏ tấn công Thiệu-Thái. Ngư nhân mũ trắng tấn công Mỹ-Linh. Ngư nhân mũ đen tấn công nữ lang. Ngư nhân mũ xanh tấn công Tiểu-Thúy. Bốn người đều vung chưởng đỡ. Bình, bình, bình, bình. Áp lực chưởng, làm đèn trong phòng tắt hết. Khi Tiểu-Thúy đốt được đèn lên, bốn ngư nhân đã mất tích.

Nữ lang lắc đầu, tỏ vẻ tha thứ:

- Phá quá! Không chịu nổi nữa rồi.

Nàng nói một mình:

- Quái sao bốn ông mãnh này võ công lại không giống nhau hề! Ngư nhân mũ đỏ xử dụng chiêu Đông-hải lưu phong của phái Đông-a. Ngư nhân mũ trắng xử dụng chiêu Loa thành nguyệt ảo của phái Cửu-chân. Ngư nhân mũ đen xử dụng chiêu Ác ngưu nan độ của phái Tản-viên. Còn ngư nhân mũ xanh xử dụng chiêu Mê-linh dạ võng của phái Mê-linh.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh nhận ra nữ lang cực kỳ bác học. Tuy ẩn trong thâm sơn, mà nàng biết hết chiêu số võ công Đại-Việt.

Mỹ-Linh hỏi lại nữ lang:

- Cô nương thực tinh tế. Anh em tại hạ giả trang thế này, mà cô nương cũng biết rõ được chân tướng. Cô nương lợi hại thực.

Nữ lang mỉm cười:

- Các bang hội trong trấn này, mạnh nhất phải kể Hồng-thiết giáo. Chưởng quản đạo Quảng-Đông Chu Tấn bị Chu-sa độc chưởng hành, mê man mấy tháng. Nay tự nhiên đi đứng như thường... thì ngoài Giáo-chủ, hỏi ai có thể giải nổi chưởng độc này? Cho nên tại hạ biết đại giá Giáo-chủ giá lâm. Ban nãy Giáo-chủ ra chiêu cầm nã, bắt ngư nhân, thoáng nhìn, tại hạ cũng biết đó là chiêu Chu-sa chưởng. Vì vậy đoán già mà thôi.

Nữ lang hỏi Tiểu-Thúy:

- Người có biết bốn ngư nhân này trú ngụ ở đâu không?

Tiểu-Thúy lắc đầu:

- Tiểu tỳ không biết. Hôm qua họ đến lấy trộm đồ ăn, khi ra suối ăn với nhau. Một trong bốn người nói: Chúng mình quậy phá vậy đủ rồi. Mai này Liên-Hoa tới, phải chấm dứt. Nghĩ cũng buồn.

Dường như bốn thiếu niên có một người bề trên nào đó uy nghiêm, khiến họ không dám đùa phá nữa.

Mỹ-Linh hỏi nữ lang:

- Cô nương có muốn gặp bốn ngư nhân, cùng người trên của họ không?

- Công chúa biết chỗ ở của họ ư?

- Vâng. Nếu cô nương muốn chúng ta cùng đi.

Qua biến cố vừa rồi, nếu như người khác, ắt đã nổi lôi đình với bốn ngư nhân. Mỹ-Linh tuy nhỏ tuổi, song nàng được học Thiền từ nhỏ, tâm tính trung hậu. Qua một vài hành động của bốn ngư nhân, nàng biết ngay họ thuộc loại đồng đạo, trêu ghẹo nàng với Thiệu-Thái, chỉ để mà trêu.

Đối với nữ lang, nàng cũng không hỏi hỏi căn cước, tên, họ, mà lờ đi, để giữ phong độ của Công-chúa, mẫu nghi trăm họ. Hơn nữa, nàng còn là một Chưởng-môn nhân phái Mê-linh.

Nữ lang nai nịt quần áo gọn gàng, đeo thanh kiếm vào lưng, rồi cười:

- Công-chúa! Công-chúa không thắc mắc gì về tôi ư?

- Thắc mắc ư? Chúng ta lấy tình người ở với nhau được rồi. Giữa đêm khuya, trăng đẹp thế này, anh em tại hạ tới phá sự yên tĩnh của tỷ tỷ. Tỷ tỷ không phiền trách cũng may lắm, đâu dám hỏi han gì nữa?

Nữ lang ngước mắt nhìn trời, rồi nói:

- Tôi họ Ngô, thuộc giòng dõi Ngô đại vương của tộc Việt.

Thiệu-Thái kinh ngạc:

- Có phải ngài húy Quyền, từng phá quân Nam-Hán trên sông Bạch-đằng, vang danh một thời không?

- Vâng.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái thuộc lớp thiếu niên sinh trưởng trong nhung lụa, được giáo dục cực kỳ chu đáo về tinh thần yêu nước, yêu tộc Việt. Hơn nữa tinh thần đó nằm trong hào quang của đức đại từ, đại bi nhà Phật. Vì hoàn cảnh, do Khai-Quốc vương tung ra đời, nhận trọng trách bảo quốc. Hoá cho nên, tuổi hai người tuy còn nhỏ, mà đã có cái nhìn rất sâu xa, rất rộng về tinh thần tộc Việt.

Nay, giữa chốn rừng hoang vu, trong đêm trăng sáng, vì đuổi theo ngư nhân, cứu Đào Nhất-Bách, cùng Lê Đức, họ gặp nữ lang. Mỹ-Linh tạm quên mình là Công-chúa thiên kim, Chưởng môn phái Mê-linh, mà chỉ giữ lại con người vô thường, nhún nhường. Nếu khi gặp nữ lang, Mỹ-Linh tra hỏi tên họ, nguồn gốc, ắt nữ lang không trả lời. Thảng hoặc có trả lời cũng nói sai sự thực. Không chừng còn gây ra bất hoà nữa.

Đây là lần thứ nhì Mỹ-Linh thành công, nhờ tâm tính thuần hậu này. Lần đầu tiên, gặp Đỗ Lệ-Thanh. Đường đường là Công-chúa mà biết Đỗ cùng chồng sang Đại-Việt trường kỳ gian tế, khi khám phá ra, Mỹ-Linh không chặt đầu, ắt cũng truyền bắt giam, tra xét. Nàng lờ đi, không nghi ngờ, không cật vấn. Vì vậy chính Đỗ cảm động, tự cung khai, rồi trở thành người nữ tỳ trung thành.

Khi vào trong nhà, thấy nữ lang biết hết tung tích, cùng hành trạng của mình, Mỹ-Linh vẫn bình tĩnh, coi như sự thường. Nữ lang chờ đợi Mỹ-Linh hỏi về nàng. Mà tuyệt nhiên Mỹ-Linh lờ đi, còn tỏ ra thân cận. Vì vậy, chính nữ lang tự thố lộ tâm tư ra.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nghe Chu An-Bình, Đỗ Lệ-Thanh đối đáp, hai người tỉnh ngộ:

- Hôm gặp Đỗ phu nhân, mình thấy bà chỉ biết xử dụng Chu-sa ngũ độc chưởng. Sau tự nhiên thấy bà biết phóng độc phấn như bọn Chu An-Bình, mình không thắc mắc gì. Thì ra hôm đệ tử Thiên-trường trộm được tài liệu, thư tín trong thuyền Đại-lý, Thanh-Mai thấy có tập chép kỷ yếu về bang Nhật-hồ Trung-nguyên, trao cho Đỗ phu nhân. Đỗ phu nhân theo đó chế ra phấn độc. Mụ móc trong bọc ống trúc nhỏ, rồi mở nắp, kéo một tờ giấy, miệng cười khành khạch:

- Cái này là cái gì đây. Chu An-Bình nhận ra tờ chiếu của Lưu hậu, y đánh trống lảng:

- Chúng ta đều học Hồng-thiết kinh. Hồng-thiết kinh dạy rằng: Lật lừa, xảo trá, nói rồi chối, giết cha mẹ, hại thầy bạn... thuộc bản chất của giáo chúng mà! Sư tỷ quên sao? Sư tỷ ơi! Sư tỷ hãy vì bản bang, trao Hồng-thiết tâm pháp cho tiểu đệ, đem về trình đại ca, hầu làm rạng danh bản bang. Đỗ Lệ-Thanh lắc đầu:

- Ta bị giam hơn mười năm, nhục nhã có thừa. Sau nhờ Thân thế tử cùng công chúa Bình-Dương cứu ta ra. Hai vị lại dùng lễ đối đãi với ta bằng tất cả tấm lòng thương mến, kính yêu. Ta... ta đã quyết tâm theo người đến chết. Sư đệ! Người về nói với Đặng đại ca rằng Đỗ Lệ-Thanh chết rồi. Nay được tái sinh, làm con dân họ Thân, họ Lý. Ta nguyện không làm lợi cho bản bang, cũng không làm hại bản bang. Thôi, người đi đi. Lời nói của Đỗ Lệ-Thanh làm Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cùng cảm động:

- Đỗ phu nhân thực là người trung hậu, không phụ lòng chúng ta trọng đãi bấy lâu. Bỗng có tiếng cười ha hả, rồi bốn phía xuất hiện bốn người, quần áo vàng, trắng, đen, xanh, vây Đỗ Lệ-Thanh vào giữa. Đỗ Lệ-Thanh hơi chột dạ, song mụ vẫn cương quyết:

- Hay lắm, Chu sư đệ, thì ra người là một trong ngũ vị sứ giả bản bang. Từ hôm mới gặp người, ta thấy người luôn mặc quần áo mầu đỏ, ta tưởng chẳng qua sự thường. Nào ngờ người lên tới chức Nam-phương sứ giả. Hay lắm, Ngũ-sứ cứ tấn công đi. Ta há sợ sao? Người mặc quần áo vàng cười nhạt:

- Đỗ sư muội, bất cứ người nào chống lại lệnh bang chủ đều bị xử tử hình. Từ nãy đến giờ, Chu sư đệ truyền lệnh của bang chủ, sư muội không những không tuân, còn nói lời mạt sát vô lễ. Song nghĩ tình sư muội là con gái bang chủ tiền nhiệm, chúng ta có chỗ châm trước. Sư muội mau đem Hồng-thiết tâm pháp trao cho chúng ta. Đỗ Lệ-Thanh vẫn bướng:

- Ngũ sứ muốn, cứ xuất chiêu. Các người có giỏi, hãy giết ra đi. Ta chết rồi, vĩnh viễn không bao giờ các người tìm ra Hồng-thiết tâm pháp nữa. Trung-ương sứ giả tức người mặc quần áo vàng cười nhạt:

- Điều đó đâu có khó gì? Nam-phương sứ giả Chu hiền đệ hãy lĩnh giáo võ công của Đỗ sư muội đi! Suốt thời gian qua, Thiệu-Thái sống cạnh Đỗ Lệ-Thanh. Trên xưng hô, một bên là chủ, một bên là tớ. Trên thực tế, chàng đối xử với bà như một người cô, người dì. Bà chăm sóc chàng từng ly từng tý. Bà lại cố vấn cho chàng với Mỹ-Linh. Bây giờ thấy bà bị năm người uy hiếp, chàng định nhảy ra đánh đuổi chúng đi. Nhưng Mỹ-Linh ra hiệu bảo chàng cứ chờ xem sao đã. Chu An-Bình phóng chưởng tấn công Đỗ Lệ-Thanh. Chưởng của y cực kỳ hùng hậu. Mỹ-Linh kinh ngạc không ít, vì nàng đã thấy y đấu với hai nhà sư Trí-Nhật, Trí-Nguyệt, bản lĩnh của y tuy cao, nhưng không thể đạt tới trình độ này. Đỗ Lệ-Thanh lùi một bước, phóng ra chiêu Kình-ngư quá hải, trong Cửu-chân chưởng pháp. Mỹ-Linh thấy chưởng lực của bà tinh diệu, nàng khen thầm:

- Đỗ phu nhân quả là thiên tài. Hôm nọ, mình thấy Tôn Đản dạy bà pho Thiết-kình phi chưởng, mình không chú ý lắm. Bây giờ nhìn bà xuất thủ thực không thua bất cứ đệ tử nào của bản môn. Chu An-Bình không biết tính chất khắc chế của chưởng Cửu-chân. Y tiến lên một bước, tăng sức mạnh cho chiêu thức của mình. Bình một tiếng. Đỗ Lệ-Thanh lui liền ba bước. Trong khi Chu An-Bình đứng nguyên. Trên nét mặt của y hiện ra vẻ kinh hãi. Trong khi Đỗ Lệ-Thanh phát chiêu ra tay trái, chuyển sang chiêu Đông-hải lưu phong của phái Đông-a do Tự-Mai dạy bà. Chu An-Bình thấy chiêu đầu của Đỗ Lệ-Thanh hung dữ, khắc chế với chiêu số, cùng nội công của y. Y chưa hết kinh hoàng, thì chiêu thứ nhì đã ập tới. Y tưởng đâu chiêu này cũng như chiêu trước. Y vội xuất Chu-sa độc chưởng phản công. Chưởng của y phát ra có mùi hôi tanh khủng khiếp. Hai chưởng chạm nhau bình một tiếng. Đỗ Lệ-Thanh vẫn lùi hai bước để bảo vệ thế tấn. Trong khi Chu An-Bình kinh hãi tự hỏi:

- Chiêu vừa rồi là chiêu gì, mà kình lực như có như không. Độc công của mình cao hơn mụ nhiều, mà dường như mụ không hề hấn gì. Trong khi tay mình cảm thấy nặng chĩu. Kỳ thực? Trong khi y tần ngần, Lệ-Thanh tấn công tiếp bằng hai chiêu Cửu-chân, khiến Chu An-Bình phải lùi liền hai bước, tránh né, rồi y trả lại bằng hai chiêu Chu-sa độc chưởng cực kỳ hùng hậu. Đỗ Lệ-Thanh xuất hai chiêu Phong hồi hải để rồi chuyển sang chiêu Cuồng phong lộ lãng cũng của phái Đông-a. Sau khi hai chưởng giao nhau, tay Chu An-Bình càng thêm nặng chĩu. Mỹ-Linh nói thầm vào tai Thiệu-Thái:

- Chỉ một chiêu nữa, tên An-Bình ắt lạc bại.

- Tại sao?

- Đỗ phu nhân áp dụng phương pháp của sư bá Trần Tự-An, đẩy chất độc về người y. Đến đây Chu An-Bình đánh ra một chưởng với tất cả bình sinh công lực. Trái với những chiêu trước, Đỗ Lệ-Thanh lùi lại. Lần này bà tiến lên ba bước, đẩy cả hai chưởng về trước, đó là chiêu Đông ba hợp bích của phái Đông-a. Vù một tiếng, bốn chưởng chạm nhau. Đỗ Lệ-Thanh bắn vọt lên không. Ở trên không, bà lộn liền ba vòng, rồi đáp xuống an nhàn. Trong Khi An-Bình lảo đảo lùi lại. Trưng-ương sứ giả hỏi An-Bình:

- Ngũ đệ! Cái gì vậy? An-Bình im lặng không trả lời. Vì sau chiêu vừa rồi, y thấy trong ngực như nghẹn thở. Y cố nín hơi. Song chỉ được một vài khắc, y oẹ một tiếng, miệng phun máu xối xả. Biết sự bất ổn, y ngồi xuống xếp chân, nghiến răng vận công. Tây-phương sứ giả, tức gã áo trắng, tiến đến bắt mạch cho An-Bình. Mặt y tỏ ra nét kinh sợ. Y hất hàm hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

- Đỗ sư muội! Người sang Giao-chỉ, học võ công tà môn hại huynh đệ trong bang ư? Đỗ Lệ-Thanh cười nhạt:

- Khi rời Trung-nguyên, ta mới chỉ là cô gái hai mươi tuổi. Võ công, nội lực đều tầm thường. Vì thế trong khi ở Đại-Việt ta phải học thêm võ công Lĩnh-Nam. Vừa rồi An-Bình dùng võ công thượng thừa trấn bang tấn công ta. Nếu ta dùng võ công bản bang chống lại, có khác gì trứng chọi với đá? Buộc lòng ta phải dùng võ công Lĩnh-Nam tự vệ. Thình lình An-Bình ối lên một tiếng, rồi y run run như người bị lạnh. Trung-ương sứ giả chạy lại hỏi:

- Ngũ đệ! Sao vậy?

- Bị trúng Chu-sa độc chưởng. Trưng-ương sứ giả nhăn mặt, tự nghĩ:

- Bản lĩnh độc công Đỗ Lệ-Thanh không làm bao, sao y thị có thể truyền vào người An-Bình? Y hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

- Đỗ muội! Người dùng độc chưởng đánh sứ giả của bang chủ, người có biết hậu quả sẽ như thế nào không? Đỗ Lệ-Thanh cười nhạt:

- Trung-ương sứ giả của bản bang mà sao hồ đồ lắm vậy? Võ công Lĩnh-Nam, hầu hết đều đường đường chính chính. Họ làm gì biết độc chưởng mà dạy muội? Vừa rồi ngũ đệ dùng độc chưởng hại ta. Ta chống trả, rồi đẩy những gì ngũ đệ đánh ta vào người y mà thôi. Gã áo vàng bảo gã áo trắng:

- Nhị đệ! Người lĩnh giáo mấy chiêu của Đỗ sư muội đi. Đỗ Lệ-Thanh nói mát:

- Từ khi bản bang thành lập đến giờ, Ngũ-sứ được luyện độc công tới trình độ cao nhất, sờ vào tay bất cứ ai, người đó cũng mất mạng. Khi thừa lệnh bang chủ đi thanh trừng phản đồ, chỉ một chiêu, phản đồ mất mạng. Thế mà sao bây giờ Ngũ-sứ lại đau đớn thế kia? Phải chăng giáo chủ không còn xứng đáng nữa? Gã áo trắng không nói không rằng, y phát chưởng tấn công. Mỹ-Linh nhận ra chưởng của y là Võ-đang chưởng. Nàng nhủ thầm:

- Trong các môn phái Trung-nguyên, võ công Võ-đang thiên về âm nhu, lấy Dịch-kinh làm căn bản, biến hoá khôn lường. Không biết Đỗ phu nhân có chống lại được không? Đỗ Lệ-Thanh thấy chưởng của y chưa tới, mà bà muốn ngộp thở. Bà phát chiêu Phục-ngưu thần chưởng, mà Bảo-Hoà dạy bà. Bình một tiếng, người bà bay vọt về sau đến hơn trượng. Toàn thân bà như tê dại. Tây-phương sứ giả như không muốn ra tay vội. Y đứng chờ cho Đỗ Lệ-Thanh phục hồi công lực rồi mới đánh tiếp. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nhìn nhau, như cùng muốn nói:

- Công lực tên này không thua Đại-Việt ngũ long làm bao. Đỗ Lệ-Thanh từ từ đứng dậy. Mụ biết muôn ngàn lần mình không phải đối thủ của đệ nhị sứ giả bản bang. Mụ cười nhạt:

- Tây phương sứ giả xuất thân nhân vật thứ nhì sau chưởng môn Võ-đang có khác, công lực quả tuyệt vời. Nhưng, ta nhất định không khai bí quyết luyện Hồng-thiết mật công. Thử xem người có giết được ta không? Tây-phương sứ giả cười nhạt:

- Sư muội! Sư muội không khai, ta cũng chẳng ép. Ta mời sư muội theo chúng ta đến ra mắt Đặng bang chủ một lần.

- Ta không đi. Tây-phương sứ giả tung ra một cái gói. Gói là tấm lụa. Lạ thay tấm lục cuộn tròn Đỗ Lệ-Thanh lại. Y lại ném ra sợi dây trong tay . Sợi dây cuốn tròn Đỗ Lệ-Thanh. Y giật tay một cái, Đỗ Lệ-Thanh bay bổng lên cao. Y cười:

- Ta bọc sư muội bằng vải nhung thế này chắc không ai phản đối. Thình lình có tiếng nói ngay bên cạnh:

- Ta phản đối! Rồi một người cầm cái cần câu vung lên veo véo. Sợi dây cuốn Đỗ Lệ-Thanh đứt rời ra. Mụ rơi từ tay Tây-phương sứ giả xuống đất. Trong khi đó cần câu rung liên tiếp, cái phao đập vun vút vào người Tây-phương sứ giả, khiến y phải nhảy lùi lại. Bốn người đồng xuất hiện đứng xung quanh Đỗ Lệ-Thanh. Họ chính là bốn ngư nhân. Trung-ương sứ giả nạt lớn:

- Bốn tên ôn vật kia! Suốt mấy hôm nay, bọn mi phá chúng ta không biết bao nhiêu mà kể. Hôm nay ta cho bọn mi về chầu ông bà ông vải. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cho đến Ngũ-sứ, Ngô Cẩm-Thi đều giật mình kinh hãi, vì bản lĩnh họ đâu có tầm thường, mà bốn ngư nhân đến hồi nào, họ không khám phá ra. Mỹ-Linh nhìn lên trời: Đôi chim ưng vẫn bay lững lờ, mà sao bốn ngư nhân xuất hiện, chúng không báo cho nàng biết? Đỗ Lệ-Thanh đứng dậy, mụ đã phục hồi công lực. Ngư nhân mũ đỏ cười khành khạch:

- Năm vị là Ngũ-sứ của bang Nhật-hồ Trung-quốc, mà sao hồ đồ quá vậy? Anh em tại hạ dù gan to bằng trời cũng không dám vuốt râu hùm. Chẳng hay anh em tại hạ đã làm gì để Ngũ-sứ phải nổi giận? Bắc-phương sứ giả chỉ mặt ngư nhân mũ trắng:

- Cách đây ba ngày, ta đang ngồi ăn uống ở tửu lầu Thái-bình, thì tên khốn kiếp kia vờ đến hỏi thăm đường, rồi thừa cơ bỏ mấy miếng cứt trâu vào bát canh nấu nấm hương. Sau đó y bỏ đi. Ta... ta vô tình gắp lên ăn, hôi thối chịu không được. Ngư nhân mũ trắng cười khúc khích:

- Bản lĩnh Bắc-phương sứ giả cao thâm biết chừng nào, mà tôi bỏ phân trâu vào bát canh lại không biết, thực một kỳ tích thiên hạ. Tôi nghĩ, có lẽ người thích ăn phân trâu để luyện độc công e đúng hơn. Cả bốn ngư nhân đều cười ồ lên. Bắc-phương sứ giả chỉ vào ngư nhân mũ xanh:

- Ta biết bọn oắt con nhà mi ắt có người lớn đứng sau nên chưa muốn ra tay. Tiếp theo Đông-phương sứ giả, tứ đệ của ta trong khi cỡi ngựa vào trấn, chính mi vờ chen lấn, rồi vuốt tay vào mông ngựa, sau đó bỏ đi. Con ngựa của tứ đệ thình lình phi nước đại. Tứ đệ giật cương thế nào cũng không được. Con ngựa phi như điên như khùng, cuối cùng kiệt lực, nó ngã lăn ra. Tứ đệ xem lại, thì ra mi đã đâm vào mông nó một cái kim. Đầu kim tẩm thuốc độc, khiến con ngựa ngứa quá, chịu không nổi nên phi nước đại. Bốn ngư nhân cười ồ lên. Ngư nhân mũ xanh thè lưỡi ra nhát:

- Sứ giả nói lạ. Luật vua Hùng, vua Trưng định rằng, buộc tội phải có chứng. Bản lĩnh Đông-phương sứ giả biết dường nào, mà tôi châm kim vào đít ngựa, đến nỗi không biết. Hỏi ai tin được nhỉ? Trung-ương sứ giả mặt hầm hầm chỉ ngư nhân mũ đen:

- Tên khốn kiếp kia! Cách đây bốn ngày, ta đang ngồi ăn ở tửu lầu Đông-phong, mi mang đến tấm biển, cùng một chậu cúc cực lớn. Trên tấm biển có nhiều chữ kỳ dị, thách đố ai đọc được, mi sẽ biếu chậu cúc. Ta vô tình vì tính hiếu kỳ, đứng dậy quan sát cho kỹ. Không ngờ lúc ngồi xuống, thì trên ghế, ai đã để một miếng gỗ, với ba cái kim chổng ngược. Ta ngồi xuống, bị kim đâm đau thấu tâm can. Ta đoán chắc mi với tên để kim cùng bàn kế hại ta. Ngư nhân mũ đen cười khành khách:

- Trời đất ôi! Oan ôi là oan. Tôi có ba đầu sáu tay đâu mà đi trêu vị chánh sứ của bang Nhật-hồ. Tôi quả có mang bảng, mang cúc đi thách thiên hạ thực. Còn ai bỏ kim vào ghế hại chánh sứ tôi nào biết. Tây-phương sứ giả bảo bốn ngư nhân:

- Bọn mi muốn sống, đừng can thiệp vào truyện bản bang. Bằng không ta bất chấp dư luận lớn hiếp nhỏ, mà giết chúng bay ngay tại đây. Ngư nhân mũ đỏ cười lớn:

- Tôi cũng muốn xa lánh truyện của quý bang, ngặt vì chúng tôi là con dân Đại-Việt, quyết không để cho ai giết người vô cớ trên đất Việt. Bắc-phương sứ giả quát lên:

- Đây thuộc Quảng-Đông lộ, lãnh thổ Đại-Tống. Bọn man mọi Việt mi không có quyền gì cả. Ngư nhân mũ đỏ lắc đầu:

- Ông sứ giả dốt bỏ mẹ đi ý. Vùng này trước thuộc Văn-lang, sau thuộc Âu-lạc, rồi Lĩnh-Nam. Thuận-Thiên hoàng đế kế tục tổ tiên, cai trị thiên hạ, thì đất này thuộc Đại-Việt. Trung-ương sứ giả đưa mắt cho Đông-phương sứ giả:

- Sư đệ cứ ra tay đi. Gã áo xanh vung tay phát chưởng. Chưởng của y hùng hậu hơn Chu An-Bình nhiều. Ngư nhân mũ đỏ lạng người đi tránh. Không biết bằng cách nào, y xê dịch người ra sau địch thủ, rồi chĩa tay điểm đến véo một chỉ vào cổ Đông-phương sứ giả. Lạ thay, Đông-phương sứ giả trúng một chỉ nhẹ nhàng, mà người lảo đảo ngã xuống. Ngư nhân mũ đỏ vác Đông-phương sứ giả lao mình chạy. Bốn ngư nhân còn lại đồng tung lên một nắm bột trắng bay mịt mờ. Ba sứ giả Trung-ương, Tây-phương, Bắc-phương sợ phấn độc, vội vung chưởng gạt, cùng nhảy lên cao tránh đám bụi. Khi bọn y ra khỏi vòng bụi, bốn ngư nhân đã biến vào đêm tối. Trung-ương sứ giả hô lớn:

- Nhị đệ ở đây canh giữ ngũ đệ, cùng Đỗ muội. Tam đệ cùng ta mau đuổi theo chúng. Hai người vọt mình theo bốn ngư nhân.

Chương 20: Dư Âm Bạch-đằng

Dư âm Bạch-Đằng -- -

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cùng chắp tay hành lễ:

- Lý Mỹ-Linh, Thân Thiệu-Thái xin ra mắt hậu duệ của Ngô đại-vương. Mong tỷ tỷ thứ cho tội quấy rầy.

Nữ lang đáp lễ, rồi chỉ về phía ngư nhân chạy:

- Chúng ta mau đuổi theo.

Mỹ-Linh mỉm cười, nhìn lên trời, đôi thần ưng bay lượn không xa làm bao:

- Tỷ tỷ đừng sợ mất tích bốn người này. Họ vẫn ở phía trước kia, chưa đi xa đâu. Mà dù có xa, chúng ta cũng tìm cược. Khi họ muốn trêu chúng ta, thì chúng ta cứ ngồi đây, khắc họ tự dẫn thân tới.

Nữ lang nhìn xuống suối, rồi lại mơ màng ngắm trăng:

- Đêm thanh trắng sáng đẹp thế này, bỏ qua thực uổng. Vậy mời Công-chúa, Giáo-chủ xuống suối, chúng ta ngắm trăng hầu chờ bốn ngư nhân.

Ba người chọn ba tảng đá bên giòng suối. Mỹ-Linh, nữ lang tháo dầy, ngâm chân xuống nước. Thiệu-Thái hỏi:

- Tỷ tỷ! Tỷ tỷ khéo chọn khung cảnh u nhã này để ở, thực còn hơn tu tiên. Có điều, đường từ đây ra trấn hơi xa.

Nữ lang ngửa mặt nhìn trăng, thở dài não nùng:

- Giáo chủ đang bận quốc sự, thì muốn sống yên tĩnh. Còn ngược lại tôi đang ở trong hoàn cảnh cá chậu chim lồng, lại muốn thoát khỏi cảnh này. Sự thực, tôi nào có muốn giam mình trong rừng đâu. Chẳng qua do hoàn cảnh bất đắc dĩ mà thôi.

Mỹ-Linh ngập ngừng:

- Nghĩa là???

- Tôi không tự làm chủ được, mà bị người ta kiềm chế.

Mỹ-Linh muốn nữ lang tự mình nói ra, nên nàng đưa mắt cho Thiệu-Thái ngụ ý bảo chàng yên lặng. Quả nhiên nữ lang nhìn trăng một lúc rồi thở dài:

- Để tôi thuật hoàn cảnh của mình cho giáo chủ cùng công chúa nghe.

Nữ lang vục tay xuống suối. Nước bắn tung toé lên, như những thanh vàng óng ánh, rồi thuật:

_Tôi họ Ngô tên Cẩm-Thi, thuộc giòng dõi Ngô vương tộc Việt. Tổ phụ tôi, nhân dẹp Kiều Công-Tiễn, phá Nam-Hán ở sông Bạch-Đằng, lập nền chính thống Đại Việt vào năm Kỷ-Hợi (939). Như các vị biết, tộc Việt bị nhà Đông Hán đem quân nghiêng nước sang đánh. Vua Trưng tuẫn quốc ở Cẩm-khê. Trải hai trăm lẻ năm năm sau, Triệu nương lại khởi binh ở Cửu-chân, bị Ngô dẹp. Từ đấy, tộc Việt chìm đắm trong đêm dài vô tận. Mãi hai trăm chín mươi sáu năm dài, vua Lý Nam-Đế mới khởi nghiệp, lập ra nhà tiền Lý vào năm Giáp-Tý (544). Đến năm Nhâm-Tuất (602) lại bị Tùy diệt. Rồi năm Nhâm-Tuất (722) Mai Hắc-Đế khởi binh, nhưng chỉ như tia lửa lóe lên trong đêm dài. Qua sáu mươi chín năm sau, Bố-Cái đại vương khởi binh vào năm Tân-Mùi (791), rồi cũng không được bao nhiêu năm. Nối tiếp, họ Khúc, họ Dương tuy có khởi binh, song vẫn chỉ là chức quan của Trung-quốc. Phải đợi đến cao tổ phụ tôi, mới thực sự tạo dựng một triều đại mới.

Mỹ-Linh thuộc làu giai đoạn lịch sử này:

- Cứ như quan thái sử bản triều chép, Ngô vương húy Quyền, tướng như sư tử, vai như gấu, lưng như hổ, uy mãnh không ai bì kịp. Vương xuất thân đệ tử của đại vương Dương Diên-Nghệ. Được Dương vương tuyển làm phò mã. Nhân Kiều Công-Tiễn ám sát Dương vương. Ngô vương dấy binh trả hận. Kiều Công-Tiễn sai sứ sang cầu cứu Nam-Hán. Nam-Hán sai Thái-tử Hoằng-Thao đem quân cứu Tiện. Ngô vương đại phá quân Nam-Hán ở sông Bạch-Đằng, giết Hoằng-Thao. Ngài lên ngôi vương, lập triều đình, đặt quan chức. Tộc Việt lại phục hưng thành một quốc gia có chính thống.

Cẩm-Thi gật đầu:

- Công-chúa bác học thực! Sau khi thành đại nghiệp, cao tổ tôi chỉ ở ngôi được sáu năm, rồi băng hà (945). Khi người hấp hối, có ủy thác con côi Xương-Ngập cho em vợ tên Dương Tam-Kha. Không ngờ Tam-Kha cướp ngôi của cháu. Xương-Ngập chạy trốn về Nam-sách. Sáu năm sau, tổ phụ tôi húy Xương-Văn đã lớn. Người xuất lĩnh quần thần đuổi Tam-Kha, được anh hùng tôn làm Nam-Tấn vương. Bấy giờ anh người tên Xương-Ngập xuất hiện. Người cho đón về. Hai anh em cùng coi triều chính.

Nữ lang nhìn lên trời, như nhớ lại công đức tổ tiên, rồi tiếp:

- Năm Ất-Sửu (965), tổ phụ tôi thấy thế nước suy vi, mà bên Trung-nguyên, nhà Tống thống nhất đất nước. Tôi không nhớ bấy giờ đã được mấy năm.

Mỹ-Linh tính đốt ngón tay:

- Bấy giờ bên Trung-quốc là niên hiệu Càn-đức thứ ba, đời vua Tống Thái-tổ.

- Phải rồi! Tổ phụ tôi sai hai vị đại thần, cùng phụ thân tôi sang sứ nước Ngô-Việt, bàn nhau đào kho tàng Tần-Hán lên, làm phương tiện kiến quốc.

Thiệu-Thái ngạc nhiên:

- Kho tàng Tần-Hán ở Quảng-Đông, sao triều Ngô không đến Quảng-Đông đào lên, mà phải sai sứ sang Ngô-Việt?

Nữ lang lắc đầu:

- Giáo-chủ quên sử rồi! Quảng-Đông lộ, tức chỗ chúng ta ngồi đây, hồi đó thuộc nước Ngô-Việt, rồi Nam-Hán. Nguyên sau khi vua Trưng tuẫn quốc, hào kiệt Tượng-quận nổi lên lập ra nước Đại-lý. Hào kiệt Nam-hải, Quế-lâm lập ra Ngô-Việt. Hào kiệt Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-Nam lập ra Đại-Việt.

Mỹ-Linh gật đầu:

- Tôi nghe, khi Thái-tử của Nam-tấn vương cùng hai đại thần ra khỏi biên cương, ở nhà vương băng. Trong nước lâm tình trạng mười hai sứ quân. Rồi sau sử không nói rõ việc đào kho tàng đi đến đâu.

Nữ lang buồn bã:

- Vì ở Đại-Việt, Ngô triều mất, hai vị đại thần thấy nếu mình đem vụ kho tàng ra, không chừng bị triều Ngô-Việt hại là khác. Vì vậy hai vị, một văn, một võ đem phụ thân tôi tiềm ẩn ở trong thung lũng này, âm thầm tìm kho tàng. Nhưng... nhưng tìm kiếm nhiều lần, tốn biết bao tâm huyết, mà có kho tàng ở đâu?

Thiệu-Thái hơi có vẻ tin lý luận của Ngô Cẩm-Thi:

- Tại hạ cũng nghĩ như vậy. Dường như thời vua Trưng, ba vị tài trí nhất thời bấy giờ là Phương-Dung, Trưng Nhị, Vĩnh-Hoa bàn nhau đặt ra câu truyện kho tàng với ngụ ý gì, trải qua gần nghìn năm, đời đời lưu truyền miệng, bị thất truyền chăng?

Cẩm-Thi nhăn mặt:

- Khổ một điều thời bấy giờ vua Trưng truyền chép Lĩnh-Nam vũ kinh, Dụng-binh yếu chỉ, mật dụ kho tàng chung với nhau. Có tất cả mười bản. Khi vua Trưng tuẫn quốc, không biết mười bản đó lưu truyền ở những địa phương nào, vào tay gia nào, phái nào. Mà hiện nay, bên Trung-nguyên từ Lưu hậu, Bình-Nam vương, cho đến bang Nhật-Hồ đều gửi người về tìm. Bên Đại-Việt, thì Lạc-long giáo, bên Chiêm-thành phái Phật-thệ cũng có người đến tìm. Ôi kho tàng ở đâu không biết, mà máu đổ thành sông, thành ao rồi! Chính phụ thân tôi, có bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, Dụng binh yếu chỉ cùng mật dụ kho tàng, mà khi giữ chức Phụ-quốc thái úy, đã đem hàng chục vạn binh tướng, lật từng viên đá, từng gốc cây tìm, nào có thấy?

Mỹ-Linh tính đốt ngón tay, rồi nói:

- Sử chép, Thái-tử của Nam-tấn vương húy Xương-Anh, mới mười lăm tuổi. Nếu người còn tại thế, năm nay đúng bẩy mươi bẩy tuổi. Như vậy tỷ tỷ là con của người?

Ngô Cẩm-Thi gật đầu:

- Hai vị cựu thần cho người về đón vợ con qua, rồi ẩn ở đây, dạy phụ thân tôi. Phụ thân tôi kết hôn với con gái vị quan võ. Tôi là con út của người. Tất cả ẩn nhẫn, chờ ngày hồi cố quốc, tái lập nền chính thống. Nhưng trong khi đó, ở Đại-Việt, vua Đinh dẹp mười hai sứ quân, rồi vua Lê kế sự nghiệp tổ tiên đánh Tống. Và gần đây, triều Lý đem nhân nghiã trị dân. Vì vậy, phụ thân tôi, cùng con cháu hai đại thần bỏ ý định về nước tranh ngôi vua. Vì làm như thế, chỉ giúp thêm cho Tống mang quân sang đánh, chẳng hoá ra chúng tôi cũng giống như Kiều Công-Tiễn hay sao?

Thiệu-Thái ngắt lời:

- Tôi nghe, Ngô vương vốn xuất thân phái Cửu-chân. Như vậy võ công cô nương là võ công Cửu-chân mới phải. Ban nãy cô nương xử dụng thế khinh thân đuổi theo ngư nhân lại thuộc phái Khúc-giang. Không biết bên trong còn có uẩn khúc gì không?

- Giáo chủ minh mẫn thực. Cao tổ nhà tôi, Ngô vương tìm được bộ Lĩnh-Nam vũ kinh bản của phái Tản-viên. Nhân người thuộc đệ tử Cửu-chân, nên biết hết thuật ngữ phái này, do đó luyện thành. Khi tổ phụ tôi sai phụ thân tôi sang Ngô-Việt, người trao bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, cùng mật ngữ cho. Ngược lại vị võ quan theo phu thân tôi thuộc phái Khúc-giang, nên ông biiết mật ngữ phái này, rồi chiếu theo vũ kinh, luyện cũng thành. Tôi được phụ thân luyện cho võ công Cửu-chân, thân mẫu luyện cho võ công Khúc-giang.

Cẩm-Thi tiếp:

- Khi anh hùng hào kiệt tộc Việt khởi nghiệp từ Khúc-giang, tái lập nước Ngô-Việt, tôn họ Tiền lên làm vua. Phụ thân tôi cùng con cháu hai di thần Ngô triều, gạt bỏ hết những gì mưu tái lập sự nghiệp tổ tiên ở Đại-Việt. Tất cả cùng hào kiệt tộc Việt đứng dậy. Do đó triều đại Ngô-Việt tái lập. Phụ thân tôi được vua Ngô-Việt phong làm Tả tướng quốc, phụ quốc thái úy, quản Khu-mật viện, tước Khúc-giang vương. Con cháu hai vị cựu thần Ngô triều, một được phong Thái-phó, Đồng bình chương sự, tước Thường-sơn công, kiêm binh bộ thượng thư. Một được phong Thái-bảo, Bình-chương sự kiêm lại bộ thượng thư, tước Hành-sơn công.

Mỹ-Linh gật đầu tỏ ra hiểu biết:

- Giai đoạn này, quan thái sử bản triều có chép. Thì ra khi cầm gươm khởi nghĩa, Ngô bá bá không giữ tên cũ, mà đổi thành Ngô Quảng-Thiên. Còn con cháu hai vị đại thần, một tên Đào Tường-Phúc một tên Chu Bội-Sơn.

- Đúng thế! triều Ngô-Việt thấy mình chiếm vùng Quế-lâm, Nam-hải thời Lĩnh-Nam, như vậy chỉ mới đòi được phần đất phía Bắc thời vua Trưng. Anh hùng Ngô-Việt muốn kết hợp với anh hùng Tượng-quận nay thành nước Đại-Lý. Anh hùng Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-Nam, nay thành Đại-Việt. Cả ba thống nhất, thì chúng ta sẽ trở lại nước hùng mạnh như thời Lĩnh-Nam.

Thiệu-Thái suýt xoa:

- Chí khí các bậc tiền nhân thực vĩ đại. Nếu như việc đó thành, chúng ta tiến tới thống nhất tộc Việt, tức nhóm Việt-Thường trốn lạnh vào Nam, nay thành Chiêm-thành, Chân-lạp, Xiêm-la, Lão-qua. Sau đó tạo hạnh phúc cho dân như thời vua Hùng, vua Trưng, thực là truyện thống khoái kim cổ... Tỷ tỷ! Sao việc đó lại bỏ dở?

- Đâu có bỏ dở? Bấy giờ bên Đại-Việt vua Đinh mới thống nhất đất nước. Lòng người chưa yên, nội trị bấp bênh, kho lẫm trống rỗng, chỉ mong giữ vững cơ đồ cũng may lắm rồi. Cho nên khi sứ thần Ngô-Việt sang triều kiến. Vua Đinh hứa rằng nếu Tống xâm lăng Ngô-Việt, Đại-Việt sẽ đánh trở lên, để chia thế lực Tống. Còn bên Đại-lý Đoàn Tố-Thuận mới lên ngôi, tuổi còn trẻ. Trong triều lại thiếu người hùng tâm tráng trí, kết cuộc vẫn mong bảo vệ bờ cõi.

Tuy biết rằng cuộc thống nhất tộc Việt của anh hùng Ngô-Việt không thành, nhưng Thiệu-Thái, Mỹ-Linh vẫn hồi họp theo dõi.

Thiệu-Thái lắc đầu:

- Như vậy thì đại cuộc hỏng mất rồi! Triều Tống vốn yếu hèn run sợ trước các nước phía Bắc, nên kỳ vọng vào những gì ở phương Nam. Họ thấy anh hùng Ngô-Việt sáng chói, tất dồn nỗ lực đánh Ngô-Việt trước. Ngô-Việt mới lập, quân chưa tinh, tướng chưa đủ kinh nghiệm, nội trị lỏng lẻo, quốc dụng thiếu thốn. E cự không lại.

- Đúng thế. Bấy giờ là niên hiệu Thái-bình hưng quốc thứ ba đời Tống Thái-tông. Bên Đại-Việt, thuộc niên hiệu Thái-bình thứ chín của vua Đinh. Vua Đinh truất phế con trưởng là Nam-Việt vương Đinh Liễn, lập con thứ Hạng Lang làm Thái-tử. Nam-Việt vương giết Hạng Lang, rồi Đỗ Thích ám sát vua Đinh cùng Nam-Việt vương. Đúng lúc đó Tống đem đại binh đánh Ngô-Việt.

Mỹ-Linh than:

- Giặc ngoài luôn luôn để hàng nghìn mắt, hàng vạn tai nghe ngóng động tĩnh của mình. Hễ mình có biến cố bất lợi, lập tức họ đem quân qua. Tỷ tỷ! Tôi không thấy sử gia chép cuộc kháng chiến chống Tống của Ngô-Việt ra sao. Xin tỷ tỷ thuật chi tiết cho anh em chúng tôi được rõ.

Cẩm-Thi thở dài:

- Tống sai sứ sang triều Ngô-Việt, bắt phải tuân theo ba điều kiện:

Một, bỏ quốc hiệu Ngô-Việt, đổi thành quận Giao-châu. Bỏ niên hiệu, chỉ dùng niên hiệu Tống.

Hai là vua Ngô-Việt phải đến Biện-kinh triều kiến Tống đế, nhận sắc phong làm Ngô-Việt quận vương.

Thứ ba, phải chịu binh dịch.

Tống sẽ cử trọng binh xuống trấn đóng. Quân đội có sẵn đặt dưới quyền thống lĩnh của Khu-mật viện Tống triều.

Thiệu-Thái nổi giận:

- Như vậy có khác chi đầu hàng. Tôi chắc triều đình Ngô-Việt không chịu.

Ngô Cẩm-Thi rơm rớm nước mắt:

- Thế là trong triều Ngô-Việt chia làm hai phe. Phe chủ chiến gồm phụ thân tôi, cùng với Đào Tường-Phúc, Chu Bội-Sơn và các tướng thuộc con em đệ tử phái Khúc-giang. Phe chủ hoà gồm hầu hết các quan còn lại. Quan trọng nhất họ Tiền, đang ở ngôi vua, lại chủ hoà. Đa số đại thần chủ hoà gốc người Hoa.

Mỹ-Linh ngồi bật dậy:

- Các quan trong triều, nhiều người gốc Hoa lắm sao?

- Ba phần tư!

- Sao kỳ vậy?

- Công-chúa hiểu cho. Ngay từ thời vua Trưng, cách đây gần nghìn năm, người Hoa đã chiếm phân nửa dân Nam-hải rồi. Huống hồ sau gần nghìn năm Bắc thuộc, số người Việt còn lại không làm bao. Người Hoa, người Việt ở vùng Lưỡng-Quảng coi Ngô-Việt cũng như Bắc-Hán, Nam-Đường... nghiã là người Hoa nổi lên chiếm giang sơn, chứ không phải do tộc Việt quật khởi... Sau ba ngày luận bàn, phụ thân tôi cùng hai vị sư thúc Đào, Chu, con em đệ tử Khúc-giang đồng từ chức, lui về ẩn trong thôn dã, để triều Ngô-Việt chịu sắc phong của Tống. Đại binh Tống tiến vào. Vua cùng đại thần ra đón. Tướng Tống cho phục binh bắt vua cùng đại thần Ngô-Việt đem về Biện-kinh. Mỗi người đều được phong chức tước thực lớn, nhưng không trao cho quyền bính. Các võ quan gốc Hán được xung vào đạo quân đánh vua Lê Đại-Hành, còn gốc người Việt được chuyển lên phía Bắc đánh Bắc-Hán.

- Thế là hỏng đại cuộc. Dân chúng, quan lại các nơi chịu tuân phục ư?

- Tống Thái-tông rất khôn ngoan. Phàm quan lại địa phương, văn võ đều được thăng một trật, vẫn cho giữ chức vụ cũ. Các quan Hán từ trước đến giờ đều nghĩ rằng họ làm quan với ông vua Việt ở một góc biên thùy, chẳng khác chi giặc cỏ. Nay họ được làm mệnh quan đại triều. Họ cầu mà không được.

Mỹ-Linh thở dài:

- Bấy giờ dường như tỷ tỷ chưa ra đời thì phải?

- Đúng thế. Khi Tống chiếm Ngô-Việt, vua Thái-tông sai sứ đến đây mời phụ thân cùng Đào, Chu nhị thúc ra làm quan. Cả ba người đều từ chối, xin cho được yên vui với cỏ cây. Cả ba hứa làm những ngoan dân. Tống Thái-tông đang bận đánh Đại-Việt, Bắc-Hán. Trong triều có biến, giáng chức Tần-vương Đình-Mỹ. Bắc phải đối phó với Liêu cường thịnh, Tây-Hạ nhận sắc phong của Liêu. Vì vậy họ để cho phụ thân tôi được yên.

Mỹ-Linh lắc đầu:

- Hỏng! Cái thế ấy e lão bá nguy đến trong sớm tối. Hỏng! Hỏng to rồi!

Ngô Cẩm-Thi kinh ngạc:

- Công chúa đoán ra được ư?

- Cũng dễ thôi. Bá bá cùng hai vị Đào, Chu chủ chiến, mà phải qui ẩn. Khi Ngô-Việt mất nước, ít ra phân nửa sĩ dân trong nước phẫn hận việc Tống trở mặt. Tất họ hướng về ba vị bá bá. Dù muốn dù không, ba vị lại mưu dựng lại nghiệp cũ. Phất cờ giữa giai đoạn thịnh trị của Tống, chẳng khác gì tự tử.

Cẩm-Thi buồn rầu:

- Đúng thế. Niên hiệu Càn-hưng nguyên niên đời vua Chân-tông nhà Tống, nhằm niên hiệu Thuận-Thiên thứ mười ba bên Đại-Việt (1022), vua Chân-tông băng. Thái tử còn nhỏ tuổi, vua di chiếu cho Lưu hoàng hậu quyền xử trị việc nước. Ủy cho hoàng đệ Triệu Nguyên-Nghiễm cải danh Triệu Thành cầm binh quyền. Lưu hậu cùng Bình-Nam vương Triệu Thành có nhiều tham vọng, nên cho chiêu mộ võ lâm thiên hạ. Phái nào theo, được trọng dụng. Phái nào chống, bị diệt vong.

- Đối với phái Khúc-giang, Lưu hậu chiêu dụ hay Triệu Thành chiêu dụ?

- Lưu hậu! Phụ thân cùng hai vị Đào, Chu sư thúc quyết liệt từ chối. Người tổ chức anh hùng đại hội, bàn truyện khởi binh. Giữa đại hội anh hùng ở Hổ-môn, bị nội phản. Tống đem quân vây bắt hết. Song thân cùng ba anh tôi bị đem về Biện-kinh. Công chúa có biết tại sao, với tội phản như vậy, mà triều Tống lại không giết song thân tôi?

Mỹ-Linh chợt động tâm cơ:

- Khi hai vị bị nội phản, ắt kẻ nội phản phải thân tín lắm. Đã thân tín, dĩ nhiên chúng biết các ngài có trong tay bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, Dụng-binh yếu chỉ cùng bản đồ kho tàng. Chúng chẳng dại gì mà giết các người. Chúng để các người cung khai cho chúng hết bí mật, rồi mới giết.

Cẩm-Thi mặt nhợt nhạt:

- Công chúa biết hết rồi ư?

- Không, tôi đoán vậy thôi! Tôi đoán chắc các ngài không chịu khai. Vì khai ra, sẽ bị giết. Sau khi khai bị giết thì khai làm gì? Cứ để vậy, còn hy vọng sống. Hoặc giả bộ Lĩnh-Nam vũ kinh và Dụng-binh yếu chỉ đã mất rồi cũng nên.

Thiệu-Thái hỏi:

- Cô nương có biết kẻ nội phản là ai không? Chúng ta phải tìm chúng mà tru diệt, băm vằm ra từng mảnh cho hả dạ.

Cẩm-Thi mơ màng nhìn trăng:

- Kể bội phản thuộc hàng võ lâm cao thủ, tài trí vô song vào bậc nhất bậc nhì Hoa-Việt hiện nay. Nếu đủ bản lĩnh, phụ thân tôi đã tru diệt chúng rồi. Bản lĩnh người đâu có tầm thường, mà đành ôm hận bị quản chế ở Biện-kinh.

Chợt mắt nàng chiếu ra tia hàn quang sáng chói:

- Giáo chủ! Ừ nhỉ tại sao tôi không nhờ Giáo-chủ đứng ra chủ trì công đạo vụ này! Phải rồi, trong thiên hạ ngoài Lạc-long giáo, phái Đông-a, Tiêu-sơn, không ai có thể giải cái nghìn thu hận của gia phụ.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đưa mắt nhìn nhau như cùng nói với nhau:

- Võ công Cẩm-Thi đâu kém gì bọn trưởng lão Lạc-long giáo? Thế thì võ công Ngô Quảng-Thiên hẳn ghê gớm lắm. Cả hai chỉ bị ước thúc miệng, ngoài ra không hề bị canh coi gì cả. Tại sao hai người không âm thầm trốn về Đại-Việt. Tống triều có phái đại binh cũng không tìm ra được. Như vậy không chừng họ bị khống chế bằng Chu-sa ngũ độc chưởng cũng nên? Có thể kẻ nội phản thuộc bang Nhật-hồ Trung-quốc mới có thế lực đó.

Mỹ-Linh tự nhủ:

- Kẻ nội phản ắt là người Việt trong đám con em từ bên Đại-Việt qua. Nếu họ phản, tất dùng thuốc độc hại Ngô Quảng-Thiên. Chứ bản lĩnh của ông, khi bị vây, ông thừa sức trốn đi, âm thầm gây lại thế lực. Kẻ nội phản vì danh hay vì lợi? Nếu vì chút danh, thì sau đó hẳn được Tống triều phong chức tước lớn. Tại sao ta chưa từng nghe thấy có người Việt nào được Tống phong quan tước cả. Vậy ắt vì lợi. Mà lợi gì? Chắc chắn phải lớn lắm, mới khiến cho họ bán rẻ lương tâm như vậy.

Mỹ-Linh ngồi bật dậy:

- Kẻ nội phản mưu cướp bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, Dụng-binh yếu chỉ cùng bản đồ kho tàng ư? Chúng đánh thuốc mê Ngô bá bá, rồi cướp đi chăng?

Ngô Cẩm-Thi giật bắn người dậy:

- Đúng thế. Vì bản đồ kho tàng. Chứ hai bộ sách kia họ cũng có.

Mỹ-Linh thở dài:

- Con người ta dù thế nào chăng nữa, cũng không xa được cái nguồn gốc mình. Vua quan Tống, hành sự gì cũng qui về Nho. Triều đình Việt qui về chủ đạo tộc Việt. Những người học Hồng-thiết kinh dù ở dâu, dù ở hoàn cảnh nào họ cũng hành sự theo Hồng-thiết kinh: Không tín, chẳng nghĩa, vô tình, xảo quyệt, bạc ác. Có phải kẻ nội phản thuộc bang Nhật-hồ Trung-quốc không?

Ngô Cẩm-Thi lắc đầu:

- Không! Họ là người Việt.

Thiệu-Thái kinh hoàng:

- Họ là ai Không lẽ là Lê Ba, Vũ Nhất-Trụ?

Ngô Cẩm-Thi lắc đầu:

- Giáo chủ nghĩ kỹ một tý sẽ tìm ra ngay.

Mỹ-Linh ngồi bật dậy:

- Tôi tìm ra rồi! Họ là Tả, Hữu hộ pháp Hồng-thiết giáo Đại-Việt.

Ngô Cẩm-Thi trả lời bằng cái gật đầu nhẹ nhàng.

Thiệu-Thái chợt nhớ ra: Sau khi lên làm giáo chủ, chàng được Lê Đức trình bày cho biết tổ chức Hồng-thiết giáo. Trên cao nhất có giáo chủ. Kế đến tả, hữu hộ pháp. Thấp hơn nữa có ngũ sứ và mười trưởng lão. Khi Nhật-Hồ lão nhân lập Hồng-thiết giáo Đại-Việt, kết hợp với bẩy võ lâm cao thủ trẻ tuổi. Lão tự làm giáo chủ. Phong cho hai người tài kiêm văn võ làm tả, hữu hộ pháp. Năm người còn lại làm ngũ sứ. Tả, Hữu hộ pháp thống lĩnh giáo chúng tộc Việt từ hồ Động-đình xuống đến Bắc-biên. Tức lãnh thổ Lĩnh-Nam cũ thuộc Quế-lâm, Nam-hải. Ngũ-sứ thống lĩnh giáo chúng Đại-lý, Chiêm-thành, Chân-lạp, Lão-qua, Xiêm-la. Mỗi người coi như làm giáo chủ một địa phận.

Thiệu-Thái hỏi tên bẩy người, Lê Đức cho biết: Bẩy người đó tuy ngang tuổi với mười trưởng lão. Nhưng họ ở vai sư đệ Nhật-Hồ lão nhân, chứ không phải đệ tử lão. Họ được học Hồng-thiết tâm pháp, nên có thể giải độc Chu-sa vĩnh viễn. Nhật-Hồ lão nhân không cho đệ tử biết danh tính bẩy người này. Bẩy người hành sự rất kỳ bí. Lâu ngày gần như họ ly khai với Hồng-thiết giáo Đại-Việt. Nhưng sau cùng Lê Đức cũng biết được. Tả, hữu hộ pháp tên Đào Tường-Phúc, Chu Bội-Sơn. Ngũ sứ là Nguyễn San, Bun-Thành, Khiếu Tam-Bản, Nguyễn Tuyết-Minh, Sử-vạn Na-vượng.

Ngô Cẩm-Thi mơ màng nhìn trăng:
- Họ chính là hai người thân tín nất của gia phụ, tức Đào Tường-Phúc, Chu Bội-Sơn.

- Ái chà!

- Nguyên Đào, Chu với gia phụ có mối liên hệ từ mấy đời, đem nhau từ Đại-Việt sang, cùng chung mưu thống nhất tộc Việt. Gia phụ chủ trương dùng chủ đạo tộc Việt, dựng lại nước như thời vua Trưng. Chu, Đào âm thầm theo Nhật-Hồ lão nhân, nhập Hồng-thiết giáo, rồi khuyến dụ gia phụ theo. Gia phụ cự tuyệt, vì như thế là đi vào đường tà ma, giết chủ đạo tộc Việt, thì còn mong gì tái lập Lĩnh-Nam nữa. Thế rồi hai vị Chu, Đào âm thầm hoạt động trong bóng tối. Cho tới lúc hội họp bàn khởi binh, thì hầu hết các hào kiệt trong buổi họp đều theo Hồng-thiết giáo. Họ muốn Hồng-thiết giáo đứng lên lãnh đạo cuộc khởi binh. Gia phụ chống đối. Thế là gây cuộc động thủ. Giữa lúc đôi bên đại chiến, thì thiết kị Tống xuất hiện. Đám Hồng-thiết hợp với binh Tống, nên phía hào kiệt lớp bị bắt, lớp bị giết. Song thân tôi bị trúng Chu-sa ngũ độc chưởng.

Ngô Cẩm-Thi nghiến răng:

- Thì ra Hồng-thiết giáo muốn độc quyền khởi binh. Họ không ngần ngại mượn tay Tống trừ khử hào kiệt Việt. Tống với Hồng-thiết ước hẹn nhau: Tống giúp Hồng-thiết giáo diệt hào kiệt. Ngược lại Hồng-thiết nhường cho Tống kho tàng. Vì vậy gia phụ, với tôi đều bị quản chế, mỗi năm họ phát cho một viên thuốc giải Chu-sa ngũ độc, cho đến khi gia phụ khai ra bản đồ kho tàng thì thôi.

Thiệu-Thái như người mơ ngủ mới tỉnh. Chàng hỏi:

- Sau khi diệt lão bá với hào kiệt. Tống quay ra diệt Hồng-thiết giáo của Chu, Đào. Vì vậy cho đến nay họ tuyệt tích giang hồ?

- Đúng thế! Hai lão đổi họ, cải tên đi. Đào Tường-Phúc đổi tên thành Tôn Đức-Khắc. Chu Bội-Sơn đổi tên thành Lê Lục-Vũ. Cả hai theo Lưu hậu, ẩn hiện không chừng.

Mỹ-Linh thấy Ngô Cẩm-Thi nói nàng bị trúng Chu-sa ngũ độc, rồi bị quản chế. Thế mà nay nàng biết Thiệu-Thái có thể trị độc cho nàng, mà nàng không cầu khẩn. Như vậy bên trong có ẩn dấu sự thực cũng nên. Vì vậy nàng dùng Lăng-không truyền ngữ nói với Thiệu-Thái cứ lờ vụ giải Chu-sa độc đi. Nếu sự thực nàng bị trúng độc này ắt sẽ cầu khẩn.

Thiệu-Thái tội nghiệp cho Cẩm-Thi:

- Tỷ tỷ ở trong thung lũng này gần mười năm nay ư?

- Đúng thế. Hơn mười năm nay, tôi bị giam lỏng ở đây. Lưu hậu cho sứ giả nói rằng: Nếu tôi rời khỏi vùng Khúc-giang trong vòng ba ngày, lập tức song thân tôi ở Biện-kinh bị đem ra chặt đầu.

Mỹ-Linh thở dài:

- Lưu hậu gớm thực! Bà ta tra khảo hai vị tiền bối về kho tàng, về vũ kinh, về binh thư không được. Bà ta giả nhân, giả nghĩa tha cô nương sống trong thung lũng, rồi cho người theo dõi. Như vậy may mới tìm ra manh mối những thứ bà ta muốn.

Cẩm-Thi nhìn trước, nhìn sau:

- Không chừng chúng ta ngồi đây nói truyện với nhau, người của Lưu hậu rình rập nghe trộm cũng nên. Tôi chẳng biết gì về kho tàng, cũng không có vũ kinh, binh thư. Họ rình mò, cho họ rình mò.

Mỹ-Linh thấy đôi chim ưng vẫn bay lượn bình thường. Nàng nói:

- Bây giờ không có ai rình, nếu có lát nữa mới xẩy ra được.

Thiệu-Thái hỏi:

-_Tỷ tỷ chỉ ở trong thung lũng, mà sao biết hết truyện Đại-Việt, truyện ngư nhân ngoài trấn?

Cẩm-Thi ngồi ngay ngắn lại:

- Tôi bị giam lỏng thực. Tuy nhiên vẫn liên lạc với hào kiệt khắp vùng Quảng-Đông lộ, nên theo được tình hình Đại-Việt cũng như ngoài trấn. Đêm nay, thung lũng này sẽ có cuộc chém giết nhau đến máu thành sông mất.

Mỹ-Linh kinh ngạc:

- Phe nào với phe nào giết nhau vậy?

- Nhiều lắm. Lát nữa có đại hội bang Nhật-hồ trên đỉnh Tuyệt-phong. Bang Nhật-hồ theo Lưu hậu. Rồi Định-vương Triệu Nguyên-Nghiễm ẩn tế dưới tên Bình-Nam vương Triệu-Thành. Phía Đại-Việt có Lạc-long giáo, Khu-mật viện cùng các đại môn phái. Nguyên hôm nay là ngày mười ba tháng mười một. Chỉ còn hai hôm nữa, đúng nửa đêm, cửa kho tàng mở. Vì vậy ai cũng tranh dành chiếm núi. Nhưng chiếm chỉ để mà chiếm. Núi lớn thế này, biết cửa ở đâu mà tìm?

Chợt tiếng chim ưng ré trên không, rồi đâm bổ về phía bên kia suối. Mỹ-Linh nói sẽ:

- Có người tới đó. Ta tạm nấp vào bụi hoa.

Ba người nấp vào bụi hoa. Phía bên kia có ba người đang đuổi theo một người. Người chạy trước, rõ ràng là đàn bà. Mụ ta tới bờ suối, lội tràn sang. Ba người đuổi cũng lội suối theo.

Người chạy trước, vừa sang bên này suối, Thiệu-Thái nhận ra mụ chính Đỗ Lệ-Thanh. Còn ba người đuổi theo, hai người đi đầu gồm Nguyên-Hạnh, Cao Thạch-Phụng, một người là Chu An-Bình.

Thình lình Lệ-Thanh vấp vào hòn đá ngã chúi xuống. Ba người kia đuổi theo vừa kịp. Cao Thạch-Phụng dí kiếm vào cổ Đỗ Lệ-Thanh, miệng thị quát lên the thé:

- Chung qui ta cũng bắt được người. Không ngờ hôm nay người lại chết dưới kiếm ta ở đây. Thôi, đừng có tiếc thương nữa!

Đỗ Lệ-Thanh cười nhạt:

- Con tiện nhân. Mi cứ giết ta đi. Ta há sợ chết sao?

Mụ dơ kiếm lên, định chém xuống. Chu An-Bình vung kiếm gạt:

- Túc-không Quan-âm! Không thể hạ sát người này được. Cần giữ y thị lại, vì y thị là người duy nhất còn thuộc Hồng thiết tâm pháp. Luyện Hồng-thiết tâm pháp, mới giải hoàn toàn Chu-sa ngũ độc chưởng. Cũng chính y thị giữ bí mật phép luyện thuốc giải tất cả độc tố trong Hồng-thiết kinh.

Nguyên-Hạnh cúi xuống nắm cổ áo Đỗ Lệ-Thanh nhắc mụ lên khỏi suối. Tới bờ, y liệng mụ xuống đất. Đỗ Lệ-Thanh trở mình một cái, mụ phóng vào người Cao Thạch-Phụng một chưởng. Mỹ-Linh nhận ra chiêu chưởng đó thuộc chưởng Cửu-chân, nhưng xử dụng bằng nội lực âm nhu của phái Mê-linh mà nàng dạy mụ.

Bình một cái, Cao Thạch-Phụng bay bổng ra xa, rơi xuống mỏm đá dưới sối. Nhanh như chớp, Đỗ Lệ-Thanh lạng người chĩa một chỉ vào ngực Nguyên-Hạnh. Nguyên-Hạnh không trở tay kịp, y bị trúng chỉ đến bộp một tiếng, người lảo đảo, ngã ngồi xuống đất.

Đỗ Lệ-Thanh không nhân nhượng, mụ vọt người lên cao. Ở trên cao mụ đánh xuống một chưởng, trúng giữa ngực Cao Thạch-Phụng. Bình một tiếng, người Thạch-Phụng bay vọt lên bờ suối. Mụ trở mình một cái, đáp xuống yên lành.

Mỹ-Linh kinh ngạc:

- Không hiểu sao, mụ trúng hai chưởng của Đỗ phu nhân, nặng như vậy, mà dường như vô sự?

Bỗng Thạch-Phụng ối một tiếng, người lảo đảo như say rượu. Rồi hai tiếng, ba tiếng ối liên tiếp. Người mụ đảo bên trái, nghiêng bên phải. Tiếp theo, mụ rú lên dài liên miên bất tuyệt, rung động cả rừng núi.

Đỗ Lệ-Thanh ngửa mặt lên trời cười lên một tràng dài ghê rợn.

- A, ha ha! Cái hận mười năm, nay ta mới trả được.

Mụ quay lại Nguyên-Hạnh:

- Hồ Dương-Bá! Mi tính sao đây?

Nguyên-Hạnh run lẩy bẩy:

- Sư muội! Sư muội tha cho sư huynh một phen. Từ nay, vợ chồng nối lại duyên xưa chẳng đẹp lắm ru?

- Đẹp với không đẹp! Mi giam ta hơn mười năm trong Hồng-hương mật cốc còn đẹp nào bằng nữa?

Mụ nghiến răng vung tay, vù vù hai tiếng như gió thoảng qua người Nguyên-Hạnh. Y rùng mình một cái, ngồi dậy:

- Đa tạ sư muội.

Tiếng muội vừa ra khỏi miệng, y lảo lảo, rồi hét lên be be như con dê bị chọc tiết.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái thấy tình trạng y giống hệt Đỗ Xích-Thập, khi bị Trần Tự-An đẩy độc tố trở về cơ thể, hôm đại hội Thăng-long. Y hú lên lanh lảnh, nhảy chồm chồm như con khỉ đột.

Đỗ Lệ-Thanh khoanh tay, ngồi trên tảng đá, mụ cười khoan khoái, nói với Chu An-Bình:

- Sư đệ! Sư đệ coi trò chơi này có náo nhiệt không?

Chu An-Bình hỏi:

- Hôm đại hội Thăng-long, đệ ẩn thân trong đám quần chúng, thấy Nhật-Hồ, Nhất-Trụ, Xích-Thập dùng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng đánh người, bị người đẩy chất độc trở lại, thành điên loạn. Nhưng... Hồ sư huynh đâu có đánh sư tỷ, mà bị sư tỷ đẩy độc tố trở lại cơ thể?

Đỗ Lệ-Thanh cười nhạt:

- Không có gì lạ cả. Ta nhân học thuật của phái Đông-a, rồi biến chế đi. Phái Đông-a đẩy độc tố trở lại kẻ đánh mình, còn ta, ta phóng độc tố chạy ngược kinh mạch, kết qủa cũng như nhau. Cái đó gọi là di hoa, tiếp mộc.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nghe mụ nói, cùng nghĩ như nhau:

- Đỗ phu nhân thông tuệ khác thường. Từ võ công Đông-a, bà biến đổi thành thứ võ công mới, dễ luyện, dễ xử dụng hơn nhiều.

Nguyên-Hạnh, Thạch-Phụng hò hét, hú, nhảy nhót một lúc, cả hai đã mệt nhừ. Đỗ Lệ-Thanh quay lại định kết liễu tính mệnh hai kẻ thù, thì từ phía bên kia suối, có tiếng nói lớn:

- Mẹ! Mẹ tha cho bố một phen.

Tiếp theo hai nhà sư vọt mình sang đỡ Nguyên-Hạnh dậy. Mỹ-Linh nhận ra Hạnh-Chân, Hạnh-Như ở chùa Sơn-tĩnh.

Hạnh-Chân ôm Nguyên-Hạnh. Hạnh-Như ôm Thạch-Phụng, rồi chạy biến vào bóng đêm.

Đỗ Lệ-Thanh hỏi Chu An-Bình:

- Chu sư đệ! Người mặc quần áo đỏ, thì ra người được phong Nam-phương sứ giả trong Ngũ-sứ của bản bang. Người tính sao?

Chu An-Bình chậm rãi trả lời:

- Đại sư ca sai tiểu đệ muôn dặm sang Đại-Việt tìm sư tỷ. Tiểu đệ những tưởng sư tỷ lưu lạc đâu. Nào ngờ trong đại hội Lộc-hà, mới biết sư huynh chính thị Nguyên-Hạnh. Vợ Nguyên-Hạnh không phải sư tỷ, mà là còn đượi Thạch-Phụng. Trong đại hội, sư tỷ xuất hiện, đệ mới biết sư tỷ vẫn còn trên thế gian, hơn nữa làm người thân tín của công chúa Bình-Dương cùng giáo chủ Lạc-long giáo. Từ đấy, đệ theo dõi, mong tiếp xúc với sư tỷ. Hôm nay mới toại nguyện.

Đỗ Lệ-Thanh thở dài thườn thượt:

- Toại nguyện! Giá như ta bị Nguyên-Hạnh giết trên đài, hôm đại hội, hẳn người sung sướng Tạ ơn trời Phật, mụ sư tỷ chết đi cho rảnh mắt.

Chu An-Bình cười lớn:

- Sư tỷ khéo diểu tiểu đệ. Tiểu đệ lần mò được biết kế hoạch Bình-Nam vương vờ đi thuyền Đại-Việt, đợi khi đến Hổ-môn sẽ để Phạm Trọng-Yêm bắt sống, đem vào bờ, rồi tới đây tìm kho vàng. Tiểu đệ đoán chừng công chúa Bình-Dương cũng khám ra mưu ấy, chắc sẽ đến Khúc-giang. Công chúa Bình-Dương đến Khúc-giang, ắt sư tỷ cũng đến theo. Vì vậy đệ đến đây rình sẵn. May đâu gặp sư tỷ. Sư tỷ nghĩ coi, vừa rồi nếu đệ không phóng phấn độc vào người Cao Thạch-Phụng với Nguyên-Hạnh, liệu sư tỷ có thắng chúng dễ dàng vậy chăng?

- Đúng thế. Đặng đại ca nghĩ rằng phải chi mình biết Hồng-thiết tâm pháp, giải trừ độc chất vĩnh viễn cho bà, khiến bà nhập bản bang. Bà dùng Chu-sa độc chưởng khống chế hết quần thần. Quần thần, phần sợ uy quyền, phần sợ Chu-sa độc chưởng, hỏi ai dám chống bà. Ta đứng trong bóng tối giúp bà nắm quyền bính. Bà sẽ trao hết quan chức cho anh em bản bang. Như thế trên thực tế là Tống triều, mà hoá ra bản bang cai trị Thiên-hạ.
- Vì thế Đặng đại ca phái người đi tìm ta phải không? Trong tay người có chiếu chỉ của Lưu hậu. Khi người tìm thấy ta, dùng võ công khống chế. Nếu thắng ta, người bắt trao Hồng-thiết tâm pháp. Còn bại, người đưa chiếu chỉ cho vua Lý, nói ta là khâm phạm của Thiên-triều. Họ Lý phải bắt ta trao cho người mang về Trung-nguyên.

Chu An-Bình nghe Đỗ Lệ-Thanh nói toẹt ra âm mưu của y. Mặt y tái đi như gà cắt tiết:

- Sư tỷ nói quá, làm gì có truyện đó.

Đỗ Lệ-Thanh cười nhạt. Mụ thuật lại tất cả những điều chú cháu An-Bình nói với nhau hôm ở trong rừng Trường-yên, cùng hành động của y khi giúp Đại-lý ... ra một lượt. Rồi mụ cười the thé:

- Đặng Đại-Bằng bất quá là đệ tử của phụ thân ta. Đáng lẽ khi y quy tụ giáo chúng, phải cứu mẫu thân ta cùng anh em họ hàng ta ra khỏi Biện-kinh. Đây y để nguyên, không lý gì tới. Rồi bây giờ cần đến Hồng-thiết tâm pháp, y cho người đi tìm ta, bắt phải khai. Hừ! Đỗ Lệ-Thanh này đâu có dễ dàng để cho người khống chế? Người thử mở bọc, đưa mật chiếu của Lưu hậu ra mà coi. Người sẽ thấy một kỳ quan.

Chu An-Bình nghe Đỗ Lệ-Thanh nói, chân tay y bủn rủn ra. Y định nhận tội, rồi cười trừ cho qua. Nhưng dù sao, y cũng là đệ tử Hồng-thiết giáo, xảo quyệt, ăn cháo đái bát, lưu manh vô tận.

Y nghĩ thầm:

- Ta cứ chối biệt vụ chiếu chỉ của Lưu hậu cho xong.

Nghĩ vậy y cười khành khạch:

- Sư tỷ lầm rồi. Hôm ấy, vì thấy có người của Hồng-hương thiếu niên phục gần đó, nên đệ bịa ra truyện chiếu chỉ của Lưu hậu để dọa chúng, chứ làm gì có truyện đó.

Đỗ Lệ-Thanh nổi giận:

- Mi còn chối ư? Trong khi mi đi trên thuyền với bọn Đại-lý. Khu-mật viện Đại-Việt cho người lên thuyền chúng trộm hết thư tín, giấy tờ, tài liệu. Trong đó có cả phép chế Chu-sa phấn độc, mà bản bang mới tìm ra, thay thế Chu-sa độc chưởng.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nghe Chu An-Bình, Đỗ Lệ-Thanh đối đáp, hai người tỉnh ngộ:

- Hôm gặp Đỗ phu nhân, mình thấy bà chỉ biết xử dụng Chu-sa ngũ độc chưởng. Sau tự nhiên thấy bà biết phóng độc phấn như bọn Chu An-Bình, mình không thắc mắc gì. Thì ra hôm đệ tử Thiên-trường trộm được tài liệu, thư tín trong thuyền Đại-lý, Thanh-Mai thấy có tập chép kỷ yếu về bang Nhật-hồ Trung-nguyên, trao cho Đỗ phu nhân. Đỗ phu nhân theo đó chế ra phấn độc.

Mụ móc trong bọc ống trúc nhỏ, rồi mở nắp, kéo một tờ giấy, miệng cười khành khạch:

- Cái này là cái gì đây.

Chu An-Bình nhận ra tờ chiếu của Lưu hậu, y đánh trống lảng:

- Chúng ta đều học Hồng-thiết kinh. Hồng-thiết kinh dạy rằng: Lật lừa, xảo trá, nói rồi chối, giết cha mẹ, hại thầy bạn... thuộc bản chất của giáo chúng mà! Sư tỷ quên sao? Sư tỷ ơi! Sư tỷ hãy vì bản bang, trao Hồng-thiết tâm pháp cho tiểu đệ, đem về trình đại ca, hầu làm rạng danh bản bang.

Đỗ Lệ-Thanh lắc đầu:

- Ta bị giam hơn mười năm, nhục nhã có thừa. Sau nhờ Thân thế tử cùng công chúa Bình-Dương cứu ta ra. Hai vị lại dùng lễ đối đãi với ta bằng tất cả tấm lòng thương mến, kính yêu. Ta... ta đã quyết tâm theo người đến chết. Sư đệ! Người về nói với Đặng đại ca rằng Đỗ Lệ-Thanh chết rồi. Nay được tái sinh, làm con dân họ Thân, họ Lý. Ta nguyện không làm lợi cho bản bang, cũng không làm hại bản bang. Thôi, người đi đi.

Lời nói của Đỗ Lệ-Thanh làm Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cùng cảm động:

- Đỗ phu nhân thực là người trung hậu, không phụ lòng chúng ta trọng đãi bấy lâu.

Bỗng có tiếng cười ha hả, rồi bốn phía xuất hiện bốn người, quần áo vàng, trắng, đen, xanh, vây Đỗ Lệ-Thanh vào giữa. Đỗ Lệ-Thanh hơi chột dạ, song mụ vẫn cương quyết:

- Hay lắm, Chu sư đệ, thì ra người là một trong ngũ vị sứ giả bản bang. Từ hôm mới gặp người, ta thấy người luôn mặc quần áo mầu đỏ, ta tưởng chẳng qua sự thường. Nào ngờ người lên tới chức Nam-phương sứ giả. Hay lắm, Ngũ-sứ cứ tấn công đi. Ta há sợ sao?

Người mặc quần áo vàng cười nhạt:

- Đỗ sư muội, bất cứ người nào chống lại lệnh bang chủ đều bị xử tử hình. Từ nãy đến giờ, Chu sư đệ truyền lệnh của bang chủ, sư muội không những không tuân, còn nói lời mạt sát vô lễ. Song nghĩ tình sư muội là con gái bang chủ tiền nhiệm, chúng ta có chỗ châm trước. Sư muội mau đem Hồng-thiết tâm pháp trao cho chúng ta.

Đỗ Lệ-Thanh vẫn bướng:

- Ngũ sứ muốn, cứ xuất chiêu. Các người có giỏi, hãy giết ra đi. Ta chết rồi, vĩnh viễn không bao giờ các người tìm ra Hồng-thiết tâm pháp nữa.

Trung-ương sứ giả tức người mặc quần áo vàng cười nhạt:

- Điều đó đâu có khó gì? Nam-phương sứ giả Chu hiền đệ hãy lĩnh giáo võ công của Đỗ sư muội đi!

Suốt thời gian qua, Thiệu-Thái sống cạnh Đỗ Lệ-Thanh. Trên xưng hô, một bên là chủ, một bên là tớ. Trên thực tế, chàng đối xử với bà như một người cô, người dì. Bà chăm sóc chàng từng ly từng tý. Bà lại cố vấn cho chàng với Mỹ-Linh. Bây giờ thấy bà bị năm người uy hiếp, chàng định nhảy ra đánh đuổi chúng đi. Nhưng Mỹ-Linh ra hiệu bảo chàng cứ chờ xem sao đã.

Chu An-Bình phóng chưởng tấn công Đỗ Lệ-Thanh. Chưởng của y cực kỳ hùng hậu. Mỹ-Linh kinh ngạc không ít, vì nàng đã thấy y đấu với hai nhà sư Trí-Nhật, Trí-Nguyệt, bản lĩnh của y tuy cao, nhưng không thể đạt tới trình độ này.

Đỗ Lệ-Thanh lùi một bước, phóng ra chiêu Kình-ngư quá hải, trong Cửu-chân chưởng pháp. Mỹ-Linh thấy chưởng lực của bà tinh diệu, nàng khen thầm:

- Đỗ phu nhân quả là thiên tài. Hôm nọ, mình thấy Tôn Đản dạy bà pho Thiết-kình phi chưởng, mình không chú ý lắm. Bây giờ nhìn bà xuất thủ thực không thua bất cứ đệ tử nào của bản môn.

Chu An-Bình không biết tính chất khắc chế của chưởng Cửu-chân. Y tiến lên một bước, tăng sức mạnh cho chiêu thức của mình. Bình một tiếng. Đỗ Lệ-Thanh lui liền ba bước. Trong khi Chu An-Bình đứng nguyên. Trên nét mặt của y hiện ra vẻ kinh hãi. Trong khi Đỗ Lệ-Thanh phát chiêu ra tay trái, chuyển sang chiêu Đông-hải lưu phong của phái Đông-a do Tự-Mai dạy bà.

Chu An-Bình thấy chiêu đầu của Đỗ Lệ-Thanh hung dữ, khắc chế với chiêu số, cùng nội công của y. Y chưa hết kinh hoàng, thì chiêu thứ nhì đã ập tới. Y tưởng đâu chiêu này cũng như chiêu trước. Y vội xuất Chu-sa độc chưởng phản công. Chưởng của y phát ra có mùi hôi tanh khủng khiếp. Hai chưởng chạm nhau bình một tiếng. Đỗ Lệ-Thanh vẫn lùi hai bước để bảo vệ thế tấn. Trong khi Chu An-Bình kinh hãi tự hỏi:

- Chiêu vừa rồi là chiêu gì, mà kình lực như có như không. Độc công của mình cao hơn mụ nhiều, mà dường như mụ không hề hấn gì. Trong khi tay mình cảm thấy nặng chĩu. Kỳ thực?

Trong khi y tần ngần, Lệ-Thanh tấn công tiếp bằng hai chiêu Cửu-chân, khiến Chu An-Bình phải lùi liền hai bước, tránh né, rồi y trả lại bằng hai chiêu Chu-sa độc chưởng cực kỳ hùng hậu. Đỗ Lệ-Thanh xuất hai chiêu Phong hồi hải để rồi chuyển sang chiêu Cuồng phong lộ lãng cũng của phái Đông-a. Sau khi hai chưởng giao nhau, tay Chu An-Bình càng thêm nặng chĩu.

Mỹ-Linh nói thầm vào tai Thiệu-Thái:

- Chỉ một chiêu nữa, tên An-Bình ắt lạc bại.

- Tại sao?

- Đỗ phu nhân áp dụng phương pháp của sư bá Trần Tự-An, đẩy chất độc về người y.

Đến đây Chu An-Bình đánh ra một chưởng với tất cả bình sinh công lực. Trái với những chiêu trước, Đỗ Lệ-Thanh lùi lại. Lần này bà tiến lên ba bước, đẩy cả hai chưởng về trước, đó là chiêu Đông ba hợp bích của phái Đông-a. Vù một tiếng, bốn chưởng chạm nhau. Đỗ Lệ-Thanh bắn vọt lên không. Ở trên không, bà lộn liền ba vòng, rồi đáp xuống an nhàn. Trong Khi An-Bình lảo đảo lùi lại.

Trưng-ương sứ giả hỏi An-Bình:

- Ngũ đệ! Cái gì vậy?

An-Bình im lặng không trả lời. Vì sau chiêu vừa rồi, y thấy trong ngực như nghẹn thở. Y cố nín hơi. Song chỉ được một vài khắc, y oẹ một tiếng, miệng phun máu xối xả. Biết sự bất ổn, y ngồi xuống xếp chân, nghiến răng vận công.

Tây-phương sứ giả, tức gã áo trắng, tiến đến bắt mạch cho An-Bình. Mặt y tỏ ra nét kinh sợ. Y hất hàm hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

- Đỗ sư muội! Người sang Giao-chỉ, học võ công tà môn hại huynh đệ trong bang ư?

Đỗ Lệ-Thanh cười nhạt:

- Khi rời Trung-nguyên, ta mới chỉ là cô gái hai mươi tuổi. Võ công, nội lực đều tầm thường. Vì thế trong khi ở Đại-Việt ta phải học thêm võ công Lĩnh-Nam. Vừa rồi An-Bình dùng võ công thượng thừa trấn bang tấn công ta. Nếu ta dùng võ công bản bang chống lại, có khác gì trứng chọi với đá? Buộc lòng ta phải dùng võ công Lĩnh-Nam tự vệ.

Thình lình An-Bình ối lên một tiếng, rồi y run run như người bị lạnh. Trung-ương sứ giả chạy lại hỏi:

- Ngũ đệ! Sao vậy?

- Bị trúng Chu-sa độc chưởng.

Trưng-ương sứ giả nhăn mặt, tự nghĩ:

- Bản lĩnh độc công Đỗ Lệ-Thanh không làm bao, sao y thị có thể truyền vào người An-Bình?

Y hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

- Đỗ muội! Người dùng độc chưởng đánh sứ giả của bang chủ, người có biết hậu quả sẽ như thế nào không?

Đỗ Lệ-Thanh cười nhạt:

- Trung-ương sứ giả của bản bang mà sao hồ đồ lắm vậy? Võ công Lĩnh-Nam, hầu hết đều đường đường chính chính. Họ làm gì biết độc chưởng mà dạy muội? Vừa rồi ngũ đệ dùng độc chưởng hại ta. Ta chống trả, rồi đẩy những gì ngũ đệ đánh ta vào người y mà thôi.

Gã áo vàng bảo gã áo trắng:

- Nhị đệ! Người lĩnh giáo mấy chiêu của Đỗ sư muội đi.

Đỗ Lệ-Thanh nói mát:

- Từ khi bản bang thành lập đến giờ, Ngũ-sứ được luyện độc công tới trình độ cao nhất, sờ vào tay bất cứ ai, người đó cũng mất mạng. Khi thừa lệnh bang chủ đi thanh trừng phản đồ, chỉ một chiêu, phản đồ mất mạng. Thế mà sao bây giờ Ngũ-sứ lại đau đớn thế kia? Phải chăng giáo chủ không còn xứng đáng nữa?

Gã áo trắng không nói không rằng, y phát chưởng tấn công. Mỹ-Linh nhận ra chưởng của y là Võ-đang chưởng. Nàng nhủ thầm:

- Trong các môn phái Trung-nguyên, võ công Võ-đang thiên về âm nhu, lấy Dịch-kinh làm căn bản, biến hoá khôn lường. Không biết Đỗ phu nhân có chống lại được không?

Đỗ Lệ-Thanh thấy chưởng của y chưa tới, mà bà muốn ngộp thở. Bà phát chiêu Phục-ngưu thần chưởng, mà Bảo-Hoà dạy bà. Bình một tiếng, người bà bay vọt về sau đến hơn trượng. Toàn thân bà như tê dại.

Tây-phương sứ giả như không muốn ra tay vội. Y đứng chờ cho Đỗ Lệ-Thanh phục hồi công lực rồi mới đánh tiếp.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nhìn nhau, như cùng muốn nói:

- Công lực tên này không thua Đại-Việt ngũ long làm bao.

Đỗ Lệ-Thanh từ từ đứng dậy. Mụ biết muôn ngàn lần mình không phải đối thủ của đệ nhị sứ giả bản bang. Mụ cười nhạt:

- Tây phương sứ giả xuất thân nhân vật thứ nhì sau chưởng môn Võ-đang có khác, công lực quả tuyệt vời. Nhưng, ta nhất định không khai bí quyết luyện Hồng-thiết mật công. Thử xem người có giết được ta không?

Tây-phương sứ giả cười nhạt:

- Sư muội! Sư muội không khai, ta cũng chẳng ép. Ta mời sư muội theo chúng ta đến ra mắt Đặng bang chủ một lần.

- Ta không đi.

Tây-phương sứ giả tung ra một cái gói. Gói là tấm lụa. Lạ thay tấm lục cuộn tròn Đỗ Lệ-Thanh lại. Y lại ném ra sợi dây trong tay . Sợi dây cuốn tròn Đỗ Lệ-Thanh. Y giật tay một cái, Đỗ Lệ-Thanh bay bổng lên cao. Y cười:

- Ta bọc sư muội bằng vải nhung thế này chắc không ai phản đối.

Thình lình có tiếng nói ngay bên cạnh:

- Ta phản đối!

Rồi một người cầm cái cần câu vung lên veo véo. Sợi dây cuốn Đỗ Lệ-Thanh đứt rời ra. Mụ rơi từ tay Tây-phương sứ giả xuống đất. Trong khi đó cần câu rung liên tiếp, cái phao đập vun vút vào người Tây-phương sứ giả, khiến y phải nhảy lùi lại.

Bốn người đồng xuất hiện đứng xung quanh Đỗ Lệ-Thanh. Họ chính là bốn ngư nhân.

Trung-ương sứ giả nạt lớn:

- Bốn tên ôn vật kia! Suốt mấy hôm nay, bọn mi phá chúng ta không biết bao nhiêu mà kể. Hôm nay ta cho bọn mi về chầu ông bà ông vải.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cho đến Ngũ-sứ, Ngô Cẩm-Thi đều giật mình kinh hãi, vì bản lĩnh họ đâu có tầm thường, mà bốn ngư nhân đến hồi nào, họ không khám phá ra. Mỹ-Linh nhìn lên trời: Đôi chim ưng vẫn bay lững lờ, mà sao bốn ngư nhân xuất hiện, chúng không báo cho nàng biết?

Đỗ Lệ-Thanh đứng dậy, mụ đã phục hồi công lực.

Ngư nhân mũ đỏ cười khành khạch:

- Năm vị là Ngũ-sứ của bang Nhật-hồ Trung-quốc, mà sao hồ đồ quá vậy? Anh em tại hạ dù gan to bằng trời cũng không dám vuốt râu hùm. Chẳng hay anh em tại hạ đã làm gì để Ngũ-sứ phải nổi giận?

Bắc-phương sứ giả chỉ mặt ngư nhân mũ trắng:

- Cách đây ba ngày, ta đang ngồi ăn uống ở tửu lầu Thái-bình, thì tên khốn kiếp kia vờ đến hỏi thăm đường, rồi thừa cơ bỏ mấy miếng cứt trâu vào bát canh nấu nấm hương. Sau đó y bỏ đi. Ta... ta vô tình gắp lên ăn, hôi thối chịu không được.

Ngư nhân mũ trắng cười khúc khích:

- Bản lĩnh Bắc-phương sứ giả cao thâm biết chừng nào, mà tôi bỏ phân trâu vào bát canh lại không biết, thực một kỳ tích thiên hạ. Tôi nghĩ, có lẽ người thích ăn phân trâu để luyện độc công e đúng hơn.

Cả bốn ngư nhân đều cười ồ lên. Bắc-phương sứ giả chỉ vào ngư nhân mũ xanh:

- Ta biết bọn oắt con nhà mi ắt có người lớn đứng sau nên chưa muốn ra tay. Tiếp theo Đông-phương sứ giả, tứ đệ của ta trong khi cỡi ngựa vào trấn, chính mi vờ chen lấn, rồi vuốt tay vào mông ngựa, sau đó bỏ đi. Con ngựa của tứ đệ thình lình phi nước đại. Tứ đệ giật cương thế nào cũng không được. Con ngựa phi như điên như khùng, cuối cùng kiệt lực, nó ngã lăn ra. Tứ đệ xem lại, thì ra mi đã đâm vào mông nó một cái kim. Đầu kim tẩm thuốc độc, khiến con ngựa ngứa quá, chịu không nổi nên phi nước đại.

Bốn ngư nhân cười ồ lên. Ngư nhân mũ xanh thè lưỡi ra nhát:

- Sứ giả nói lạ. Luật vua Hùng, vua Trưng định rằng, buộc tội phải có chứng. Bản lĩnh Đông-phương sứ giả biết dường nào, mà tôi châm kim vào đít ngựa, đến nỗi không biết. Hỏi ai tin được nhỉ?

Trung-ương sứ giả mặt hầm hầm chỉ ngư nhân mũ đen:

- Tên khốn kiếp kia! Cách đây bốn ngày, ta đang ngồi ăn ở tửu lầu Đông-phong, mi mang đến tấm biển, cùng một chậu cúc cực lớn. Trên tấm biển có nhiều chữ kỳ dị, thách đố ai đọc được, mi sẽ biếu chậu cúc. Ta vô tình vì tính hiếu kỳ, đứng dậy quan sát cho kỹ. Không ngờ lúc ngồi xuống, thì trên ghế, ai đã để một miếng gỗ, với ba cái kim chổng ngược. Ta ngồi xuống, bị kim đâm đau thấu tâm can. Ta đoán chắc mi với tên để kim cùng bàn kế hại ta.

Ngư nhân mũ đen cười khành khách:

- Trời đất ôi! Oan ôi là oan. Tôi có ba đầu sáu tay đâu mà đi trêu vị chánh sứ của bang Nhật-hồ. Tôi quả có mang bảng, mang cúc đi thách thiên hạ thực. Còn ai bỏ kim vào ghế hại chánh sứ tôi nào biết.

Tây-phương sứ giả bảo bốn ngư nhân:

- Bọn mi muốn sống, đừng can thiệp vào truyện bản bang. Bằng không ta bất chấp dư luận lớn hiếp nhỏ, mà giết chúng bay ngay tại đây.

Ngư nhân mũ đỏ cười lớn:

- Tôi cũng muốn xa lánh truyện của quý bang, ngặt vì chúng tôi là con dân Đại-Việt, quyết không để cho ai giết người vô cớ trên đất Việt.

Bắc-phương sứ giả quát lên:

- Đây thuộc Quảng-Đông lộ, lãnh thổ Đại-Tống. Bọn man mọi Việt mi không có quyền gì cả.

Ngư nhân mũ đỏ lắc đầu:

- Ông sứ giả dốt bỏ mẹ đi ý. Vùng này trước thuộc Văn-lang, sau thuộc Âu-lạc, rồi Lĩnh-Nam. Thuận-Thiên hoàng đế kế tục tổ tiên, cai trị thiên hạ, thì đất này thuộc Đại-Việt.

Trung-ương sứ giả đưa mắt cho Đông-phương sứ giả:

- Sư đệ cứ ra tay đi.

Gã áo xanh vung tay phát chưởng. Chưởng của y hùng hậu hơn Chu An-Bình nhiều. Ngư nhân mũ đỏ lạng người đi tránh. Không biết bằng cách nào, y xê dịch người ra sau địch thủ, rồi chĩa tay điểm đến véo một chỉ vào cổ Đông-phương sứ giả. Lạ thay, Đông-phương sứ giả trúng một chỉ nhẹ nhàng, mà người lảo đảo ngã xuống. Ngư nhân mũ đỏ vác Đông-phương sứ giả lao mình chạy. Bốn ngư nhân còn lại đồng tung lên một nắm bột trắng bay mịt mờ.

Ba sứ giả Trung-ương, Tây-phương, Bắc-phương sợ phấn độc, vội vung chưởng gạt, cùng nhảy lên cao tránh đám bụi. Khi bọn y ra khỏi vòng bụi, bốn ngư nhân đã biến vào đêm tối.

Trung-ương sứ giả hô lớn:

- Nhị đệ ở đây canh giữ ngũ đệ, cùng Đỗ muội. Tam đệ cùng ta mau đuổi theo chúng.

Hai người vọt mình theo bốn ngư nhân.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau