ANH HÙNG BẮC CƯƠNG

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau

Chương con truyện Anh hùng bắc cương - Chương 11 - Chương 15

Chương 11: Kho Tàng Tần-hán

Kho tàng Tần-Hán - -

Sau đại hội, Thiệu-Thái, Mỹ-Linh, Bảo-Hoà, Thanh-Mai cùng các trưởng lão Lạc-long giáo dẫn giáo chúng về tổng đàn. Bây giờ Thiệu-Thái mới biết tổng đàn Lạc-long giáo đặt ở bãi Ngọc-thụy.

Đường Lộc-hà, Hội-phụ về Thăng-long không xa. Khoảng hơn giờ tới nơi. Thời bấy giờ đường Lộc-hà đi Ngọc-thụy phải vòng qua Hồ-Tây, vượt sông Hồng. Khi còn cách bờ sông Hồng hơn hai dặm, viên chưởng quản đạo Thăng-long đến trước Thiệu-Thái chắp tay:

- Khải tấu giáo chủ, bến sông bị thủy quân phong tỏa. Viên đô đốc chỉ huy nói, y có nhiệm vụ giữ bến đò. Mọi việc qua đò đều cấm chỉ. Phải có lệnh của quan tổng trấn Thăng-long, y mới dám cho đi. Xin giáo chủ định liệu.

Thiệu-Thái tiến tới phía bờ sông Hồng. Viên đô đốc không phải ai xa lạ, mà chính thị Đoàn Thông. Thanh-Mai chắp tay hướng Đoàn Thông:

- Sư huynh! Sư huynh trấn ở đây ư?

- Sư muội! Lâu quá không gặp sư muội. Càng ngày sư muội càng xinh đẹp hơn trước. Võ công sư muội đến trình độ ta không ngờ tới.

Tự-An có tất cả chín đệ tử. Đoàn Thông là một trong chín người đó. Y hiện giữ chức đô đốc hạm đội Động-đình. Trước đây, giữa phái Đông-a với Lý triều có nhiều xung đột, vì vậy tiến trình của y đầy chông gai. Bây giờ y thấy sư phụ hòa với triều đình. Hơn nữa Thanh-Mai sắp làm Vương-phi của thượng cấp đầu lĩnh y. Y mừng vô hạn.

Thanh-Mai nhìn dưới sông: Thủy quân dàn ra nghiêm chỉnh, bao vây bãi Ngọc-thụy. Xa xa, bên kia bờ vẫn còn kéo cờ Hồng-thiết giáo. Giáo chúng gươm đao sáng ngời đi đi, lại lại tuần phòng.

Đoàn Thông thấy Mỹ-Linh, y vội hành lễ. Mỹ-Linh hỏi:

- Đô đốc được lệnh bao vây từ bao giờ?

- Khải tấu Công-chúa, thần được lệnh đem thủy đội tuần tiễu từ mười hôm. Lệnh ban ra rằng, khi giáo chúng lên đường dự đại hội, lập tức phong toả mặt sông Hồng, sông Đuống. Phía bộ, tướng Nguyễn Duệ vây Thượng-cát, Ngọc-lâm. Còn Vũ vệ thường thị Hà Việt đem thị vệ bất thần chiếm lầu Động-đình.

Thiệu-Thái kinh hoảng:

- Thế hai bên có giao tranh không? Bao nhiêu người chết, bị thương?

- Thưa Thế-tử không. Thần nhận chỉ dụ phong toả, tránh giao tranh. Mới hồi nãy được lệnh rằng khi Công-chúa cùng Thế-tử về đến, trình Công-chúa một mật lệnh.

Nói rồi Đoàn Thông kính cẩn trao cho Mỹ-Linh một bao thơ. Mỹ-Linh mở ra xem. Trong có mười tờ giấy ghi chép lệnh của Khai-Quốc vương. Mỹ-Linh đọc xong, trao cho Thanh-Mai, Thiệu-Thái cùng thi hành.

Thiệu-Thái nói với mọi người:

- Cậu hai ra lệnh cho tôi giải quyết truyện Lạc-long giáo, rồi phải chầu mạ mạ ngay. Thôi chúng ta qua sông.

Mỹ-Linh nói với các trưởng lão:

- Trước đây, nhất cử nhất động của Hồng-thiết giáo, Khu-mật viện đều biết hết. Cho nên đã trù liệu kế sách đánh úp tổng đàn. Nếu như trong đại hội, Hồng-thiết giáo làm loạn, tổng đàn bị ba mặt giáp công. Phía trụ sở các đạo ở quận huyện cũng bao vây tương tự. Bây giờ Hồng-thiết giáo thành Lạc-long giáo, mọi truyện tốt đẹp. Các trưởng lão đừng lo.

Nàng bảo Đoàn Thông:

- Phiền đô đốc cho chiến thuyền chở giáo chúng sang Ngọc-thụy.

Phạm Trạch vui vẻ:

- Nhờ ân đức của giáo chủ, biến đổi hết. Nếu giáo chủ không lên ngôi, e giữa bản giáo với quan quân có cuộc hỗn chiến. Mà phần thất bại tất về anh em giáo chúng.

Đoàn Thông tiếp lời Phạm Trạch:

- Phạm tưởng lão chỉ biết một mà không biết hai. Sáng nay, tư thất tất cả các trưởng lão, quản giáo cấp huyện, cũng bị bao vây. Trong Thanh-hóa, quân sĩ chiếm chùa Sơn-tĩnh. Lực lượng thiếu niên Hồng-hương được tập trung chứng kiến quan quân khám xét Hồng-hương mật cốc. Triều đình giải cứu được hơn trăm thiếu nữ bị giam làm cây thuốc.

Thuyền tới bờ Ngọc-thụy. Đám giáo chúng thấy các trưởng lão đi bằng chiến thuyền. Họ mở to mắt, đầy vẻ kinh ngạc. Một giáo chúng nói:

- Thưa các vị trưởng lão. Sáng nay, giáo chủ cùng các vị ra đi một lát, quan quân chiếm lầu Động-đình. Bốn phía bị bao vây. Bọn thuộc hạ chuẩn bị nghinh chiến. Nhưng quan quân không tấn công.

Lê Đức vẫy tay:

- Các người đâu về đó. Quan quân không làm khó dễ mình nữa đâu.

Về đến tổng đàn. Lê Đức kính cẩn mời Thiệu-Thái ngồi vào ngôi giáo chủ. Bảo-Hòa, Thanh-Mai ngồi hai bên tả hữu. Kế đến các trưởng lão.

Thiệu-Thái thở dài:

- Trong cuộc chiến vừa qua các trưởng lão Lê Ba, Nguyễn Chí, Phạm Hổ, Hoàng Liên qua đời. Xin hãy thu nhặt hài cốt đưa về nguyên quán chôn cất. Trưởng lão thứ mười Hoàng Liên đã có trưởng lão Ngô Bách-Vân thay thế. Nay cứ để nguyên. Còn ngôi vị trưởng lão Lê Ba, sẽ do Đào Nhất-Bách kế tiếp. Đào Nhị-Bách thay trưởng lão Nguyễn Chí. Đào Tam-Bách thay trưởng lão Phạm Hổ. Trưởng lão Vũ Nhất-Trụ tuy theo Bố-Đại hoà thượng vân du thắng cảnh, ngôi vị trưởng lão vẫn giữ nguyên.

Chàng ngừng một lát, tiếp:

- Thuận-Thiên hoàng-đế ban chỉ đại xá thiên hạ. Chắc giờ này quan quân không còn bao vây các cơ sở của chúng ta. Gia đình các vị hẳn cũng được thảnh thơi.

Từ trước đến nay, Lê Đức giữ nhiệm vụ thiết kế, tổ chức của Hồng-thiết giáo. Y lên tiếng:

Trình giáo chủ. Khi Nhật-Hồ lão nhân tổ chức đại hội hồ Động-đình thành lập bản giáo có một trăm hào kiệt theo. Người phong cho bẩy vị làm Tả, Hữu hộ pháp, ngũ Sứ. Tả, Hữu hộ pháp cùng ngũ Sứ mỗi vị phụ trách tổ chức giáo tại một vùng. Bẩy vùng là Quế-lâm, Nam-hải, Đại-lý, Chiêm-thành, Chân-lạp, Lão-qua, Xiêm-la. Bảy mươi hào kiệt được phong trưởng lão của bẩy vùng. Mỗi vùng mười vị. Còn lại hai mươi ba vị thuộc hộ đồng giáo vụ trung ương. Sau dần dần tuẫn giáo, người mới cử anh em chúng tôi vào thay thế. Cho đến nay chỉ còn mười người. Vì vậy bản giáo có cơ sở khắp Quế-lâm, Nam-hải, Đại-lý, Chiêm-thành, Chân-lạp, Lão-qua, Xiêm-la càng mạnh hơn. Theo chủ trương của triều đình, không nên gây hấn với các nước lân bang. Như vậy những tổ chức ấy giữ nguyên hay giải tán?

Thiệu-Thái đưa mắt nhìn Thanh-Mai, Bảo-Hòa hỏi ý kiến. Bảo-Hòa suy nghĩ một lúc, rồi đứng dậy nói:

- Lạc-Long giáo của chúng ta không phải tổ chức chính sự, triều đình. Đạo Phật từ Tây-trúc vào Lĩnh-Nam, Trung-nguyên được. Lạc-Long giáo cũng có thể truyền đi khắp nơi. Lạc-Long giáo thờ các vua Phục-Hy, Thần-Nông, Kinh-Dương, Lạc-Long cùng các anh hùng của tộc Việt. Tôn chỉ chính lấy hiếu, nghĩa, làm căn bản. Lạc-long giáo cần phải truyền bá rộng rãi. Có điều mỗi nơi, tùy hoàn cảnh địa phương, có thay đổi chút ít.

Nàng ngừng lại một lúc, tiếp:

- Huống hồ khi xưa Quốc-tổ, Quốc-mẫu sinh trăm con, trao cho mỗi con khai hoang, qui dân lập quốc một vùng. Trải qua mấy nghìn năm, nay phân ra làm sáu nước cùng vùng Lưỡng-quảng. Tuy tiếng nói khác nhau, nhưng phong tục tương đồng. Tất cả đều thờ Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Các nước thuộc tộc Việt hiện chưa xâu xé nhau, nhưng người Tống lúc nào cũng tìm đủ cách xúi dục chúng ta tương tàn, hầu lực yếu đi, họ mang quân sang chiếm. Giữa sáu nước, chỉ Lạc-long giáo có thể làm điểm qui tụ tinh thần đoàn kết cùng hoà giải xung đột. Vậy không những ta phải giữ nguyên, mà cần phát triển thêm ra.

Thiệu-Thái hỏi:

- Bản nhân muốn biết danh tính của Tã, Hữu hộ pháp, cùng ngũ Sứ. Hành trạng của các vị ấy ra sao?

Lê Đức đáp:

- Tả hộ pháp là Đào Tường-Phúc. Hữu hộ giáo là Chu Bội-Sơn. Đào tả hộ pháp xuất thân phái Cửu-chân. Chu hữu hộ pháp xuất thân phái Khúc-giang. Cả hai vị võ công không thua gì Nhật-Hồ lão nhân. Còn ngũ sứ gồm Nguyễn San, Bun Thành, Nguyễn Thúy-Minh, Sử-vạn Na-vượng, Khiếu Tam Bản. Cả bẩy vị đều là sư đệ của Nhật-Hồ lão nhân, nên luyện thành Hồng-thiết tâm kinh. Đào làm giáo chủ vùng Quảng-Tây, Đàm-châu, Quế-châu. Chu làm giáo chủ vùng Ngô-Việt, Quảng-Đông. Còn lại Sử trấn Lão-qua, Bun trấn Xiêm, Khiếu trấn Chân. Nguyễn San trấn Chiêm đã qua đời. Nguyễn Thúy-Minh trấn Đại-lý, hiện mất tin tức.

Đặng Trường hỏi:

- Thưa giáo chủ. Hiện bản giáo có mấy vấn đề cần giải quyết. Vấn đề thứ nhất, tối quan trọng. Mai này có cuộc thí võ của triều đình, chọn người làm tướng. Vấn đề thứ nhì, cứ như lời Triệu Thành, năm tới đây Tống mở võ đài ở Biện-kinh. Không biết bản giáo đối với việc này ra sao? Vấn đề thứ ba cũng không kém quan trọng. Hiện nay anh hùng thiên hạ đang hăm hở tìm kho tàng Tần-Hán cùng Âu-Việt. Bản giáo có tham dự không?

Thiệu-Thái tuy được vua Bà Bắc-biên huấn luyện thuật lãnh đạo từ nhỏ. Nhưng chàng bị đặt vào ngôi giáo chủ trong tình trạng ngoài sự dự liệu. Bây giờ phải giải quyết ba vấn đề trọng đại, chưa dám đưa ra đường lối hành động. Chàng hỏi ngược lại:

- Xin các vị cho biết ý kiến.

Chàng nhấn mạnh:

- Đầu tiên bàn việc tuyển võ của Đại-Việt đã. Trước đây trưởng lão Hoàng Văn cho bốn đệ tử dự tuyển. Trưởng lão Hoàng Liên bốn. Trưởng lão Đỗ Xích-Thập hai. Như vậy chúng ta có tới mười người ứng thí. Không biết bản lĩnh anh em đó thế nào? Hơn năm trước, trong âm mưu trường kỳ mai phục, Triệu Thành lệnh khiến chân tay của y như Nguyên-Hạnh, Hoàng Văn, Hoàng Liên, Đỗ Xích-Thập cho đệ tử dự thi võ của triều đình. Nếu trúng tuyển, các đệ tử ấy đương nhiên trở thành tướng cầm quân. Khi Tống đem binh qua, những tướng ấy sẽ làm nội ứng. Việc họ bàn với nhau ở Cổ-loa, Thiệu-Thái, Mỹ-Linh nghe được. Bây giờ Thiệu-Thái hỏi đến. Bọn Hoàng Văn, Xích-Thập vừa kinh ngạc, vừa thẹn thùng.

Mỹ-Linh biết thế, nàng đỡ cho chúng:

- Trước kia, các đệ tử thuộc Hồng-thiết giáo, một loại tà ma ngoại đạo. Còn bây giờ, họ đương nhiên thành đệ tử Lạc-long giáo, một tôn giáo chính đạo nhất Đại-Việt. Tôi mong đệ tử của các vị sẽ đạt được kết quả. Dù không trúng cách, tôi cũng đề bạt họ vào những chức vụ xứng đáng.

Thiệu-Thái tiếp lời Mỹ-Linh:

- Mai đã là ngày thi tuyển rồi. Vậy đêm nay Mỹ-Linh chỉ điểm cho bốn đệ tử của cố trưởng lão Hoàng Liên. Bảo-Hòa phụ trách hai đệ tử của Đỗ trưởng lão. Còn bốn đệ tử của Hoàng Văn trưởng lão, xin...mợ hai giúp dùm. À quên, tối nay mợ hai bận. Thôi được bản nhân sẽ làm việc đó.

Thiệu-Thái vốn chậm chạp, khi truyền lệnh cho Mỹ-Linh, Bảo-Hoà chàng dám. Nay phải truyền lệnh cho Thanh-Mai, chàng không biết nói gọi nàng như thế nào cho đúng. Trong đầu óc chàng loé lên tia sáng: Thanh-Mai sắp thành vương phi Khai-Quốc vương, chàng phải gọi nàng bằng mợ. Vì vậy chàng tuôn ra tiếng mợ hai.

Thanh-Mai biết rằng, tối hôm nay Thuận-Thiên hoàng-đế cùng ba vị Hoàng-hậu đãi yến Thiên-trường ngũ kiệt ở điện Long-thụy. Trong thiếp nói rõ ngoài Thiên-trường ngũ kiệt, Thuận-Thiên cửu hùng ra, không có ai khác. Thanh-Mai hiểu rằng Hoàng-đế muốn đưa lời chính thức cầu hôn cho Khai-Quốc vương. Tuy biết vậy, nghe Thiệu-Thái gọi bằng mợ, nàng vẫn ngượng.

Thanh-Mai đánh trống lảng:

- Bây giờ tới vấn đề võ đài Biện-kinh.

Đào Nhất-Bách truyền giáo ở biên giới lâu ngày. Y hiểu biết tình hình bên Tống. Y phát biểu:

- Thưa giáo chủ cùng quý trưởng lão. Trước khi bàn về võ đài Biện-kinh. Chúng ta cần phân tích tình hình bên Tống trước đã. Sau đó nghiên cứu tình hình các nước khác. Cuối cùng, chúng ta tùy theo triều đình Đại-Việt, rồi mới có thể quyết định. Thuộc hạ thấy việc này thỉnh ý Khai-Quốc vương, hầu thống nhất hành động. Vậy chỉ còn vấn đề kho tàng mà thôi. Vấn đề kho tàng, từ trước đến giờ trưởng lão Lê Đức vẫn phụ trách. Xin tưởng lão trình bầy cùng giáo chủ.

Lê Đức đứng dậy. Y lấy ra cuốn trục bằng lụa, vẽ bản đỗ Trung-quốc, Đại-Việt, Đại-lý treo lên. Y chỉ lên trục lụa nói:

- Thưa giáo chủ, trước kia nhà Chu diệt vua Trụ, lên ngôi vua. Vua Võ vương thu được kho tàng rất lớn. Nhà Chu làm vua trải tám trăm năm, hơn nghìn chư hầu tiến cống. Kho tàng thêm giầu có, súc tích. Tần diệt Chu, cùng các chư hầu, kho tàng càng chồng chất lên. Vua Cao tổ nhà Hán đánh vào Hàm-dương, cướp lấy kho tàng đó của con trai Thủy-Hoàng, đem về Trường-an. Từ đấy kho tàng mang tên kho tàng Thủy-Hoàng. Cao tổ sai Tiêu Hà xây điện Vị-ương, dưới nền cất chôn kho tàng Thủy-Hoàng.

Thiệu-Thái hỏi:

- Tôi nghe nhà Tây-Hán làm vua trên hai trăm năm, thôn tính hàng chục nước nhỏ, cướp tài vật của người ta đem về. Lại nữa, các chư hầu tiến cống. Tích sản ấy đâu có nhỏ? Vậy ngoài kho tàng Tần Thủy-Hoàng, ắt còn kho tàng Tây-Hán. Kho tàng ấy sau đi đâu?

Từ lúc được Thiệu-Thái cứu trị Chu-sa độc chưởng, tuy bề ngoài Lê Đức tôn phục vị tân giáo chủ trẻ tuổi. Nhưng trong lòng, y vẫn coi chàng như trẻ con. Bây giờ thấy chàng đặt câu hỏi, tỏ ra mẫn tiệp vô cùng. Trên gương mặt y hiện ra nét kính phục. Y có biết đâu, truyện kho tàng Trung-quốc thời Tần-Hán, chàng đã được Khai-Quốc vương thuật cho nghe nhiều lần. Tuy chàng ít chú ý. Nhưng cũng biết lờ mờ, không đến nỗi mù tịt.

Lê Đức cung kính tiếp:

- Giáo chủ thực minh mẫn. Tây-Hán trải hai trăm năm, được các chư hầu tiến cống, cũng như ăn cướp của các nước nhỏ. Họ cất giữ thành một kho tàng nữa. Kho tàng này mang tên Tây-Hán. Sau hơn hai trăm năm cai trị, kho tàng ấy nhiều vô kể. Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán. Y biết mình không đức, khó tranh giữ giang sơn lâu dài. Y đem châu báu của nhà Tây-Hán cùng đào kho tàng ở nền điện Vị-ương lên, rồi đem chôn cất một nơi bí mật. Thành ra kho tàng này mang tên kho tàng Tần-Hán.

Mỹ-Linh đã biết rất tường tận vụ này. Tuy vậy nàng muốn thử xem Lê Đức có thực tình với Lạc-long giáo không, nàng hỏi:

- Giai đoạn ấy tôi cũng nghe qua. Lúc Phan Sùng tức Xích-Mi giúp Cảnh-Thủy hoàng đế đánh Vương Mãng. Y tiến vào Trường-an. Thấy kho tàng Tần-Hán lớn quá. Y nảy ra tham tâm, sai thủ hạ đem chôn ở vùng hồ Động-đình. Sau khi chôn, y cho giết hết bọn quân lính để bảo mật. Cuối cùng dường như kho tàng Tần-Hán lọt vào tay vua Trưng?

Lê Đức gật đầu:

- Lời công chúa tuyên phán rất đúng. Vua Quang-Vũ nhà Hán được anh hùng giúp sức trung hưng đại nghiệp. Nghiêm-Sơn, Đặng Vũ đem quân tiến đánh Trường-sa. Xích Mi bại. Trước khi xuất trận lần cuối, y gọi một tỳ nữ, mà bình sinh y rất sủng ái đến trao cho bản đồ nơi cất kho tàng cùng Ngọc-tỷ truyền quốc. Y đâu ngờ tỳ nữ đó chính là liệt nữ Lĩnh-Nam Trần Thiếu-Lan. Lúc Trưng Nhị, Phật Nguyệt, Hồ Đề, Trần Năng đem quân đánh Trường-sa. Trần Thiếu-Lan trao bản đồ nơi cất kho tàng Tần-Hán cho Trưng Nhị. Các anh hùng thời ấy mở bản đồ ra. Thì ôi thôi bên trong chỉ đầy chữ số với một ít địa danh, chứ không có bản đồ. Công chúa có biết về sau ra sao không?

Mỹ-Linh mỉm cười:

- Tên Xích-My rất khôn ngoan. Y khắc bản đồ nơi cất kho tàng vào tấm đồng, rồi cắt ra thành mười sáu thẻ. Y lại đúc hai con gấu bằng đồng đen rỗng bụng. Trong bụng mỗi con, y bỏ vào tám thẻ đồng, rồi trao cho hai con trai, mỗi người một con gấu, để sau này hai anh em phải hợp nhau lại mới có thể tìm ra nơi cất báu vật. Như vậy vẫn chưa cho rằng đủ. Y sợ sau này lỡ hai con gấu đó lạc vào tay người khác thì sao? Cho nên trên bản đồ y ghi chú địa danh bằng chữ số. Như một y ghi vào chỗ Tương-giang, hai y ghi vào chỗ Trường-sa. Song tuy trao gấu cho hai con, mà y chưa trao cho mật số đó.

Nàng ngừng lại nhìn Lê-Đức, rồi tiếp:

- Lúc biết mình sắp gặp nguy. Y chép tất cả những chữ số, tương quan với địa danh trao cho liệt nữ Thiếu-Lan. Bà Thiếu-Lan trao cho Trưng-Nhị. Nhưng trong khi đó hai con gấu cất tám thẻ đồng bản đồ lọt vào tay Thiên-ưng lục tướng. Trưng Nhị, Thiên-ưng lục tướng họp với nhau, tìm ra nơi cất kho tàng chính là một căn nhà hầm dưới đáy hồ Động-đình. Đường hầm vào đáy hồ nằm trên một cù lao. Tôi chỉ biết đến đây. Lê trưởng lão chắc biết nhiều hơn.

Hồi còn thơ, Mỹ-Linh đã nghe phụ vương nói nhiều về kho tàng Tần-Hán, song nàng không mấy chú ý. Lúc về phủ Khai-Quốc vương, hàng ngày nàng được dọc những phúc trình của các nơi gửi về Khu-mật viện, nên nàng biết rất rõ chi tiết.

Đại để thiên hạ có hai kho tàng lớn. Một mang tên Âu-Việt, một mang tên Tần-Hán. Khi nghe Lê Đức trình bày về kho tàng Tần-Hán, nàng thuận miệng nói ra hết những gì mình biết về nguồn gốc kho tàng Tần-Hán đã thuật ở trên.

Còn kho tàng Âu-Việt, có liên hệ rất nhiều đến lịch sử Đại-Việt. Truyền sử nói rằng Quốc-tổ, Quốc-mẫu cho trăm hoàng tử đi qui dân lập ấp. Mỗi năm các hoàng tử về chầu một lần. Tục lệ định rằng, các hoàng tử phải mang những gì trân quý nhất dâng phụ hoàng. Quốc-tổ truyền cất bảo vật vào kho tàng. Trải suốt hơn hai nghìn năm triều đại Hồng-Bàng, các lạc hầu, lạc tướng dâng lên vua không biết bao nhiêu vàng ngọc châu báu mà kể. Kho tàng mang tên Văn-lang.

Đến đời vua Hùng thứ tám mươi tám, vì vua hôn ám, rượu chè quá độ. Anh hùng các nơi tôn một lạc hầu tên Thục-Phán lên làm thủ lĩnh, diệt vua Hùng, thành lập triều đại Âu-lạc. Trong trận chiến cuồi cùng. Phò mã Sơn-Tinh tuy võ công vô địch, nhưng chỉ giữ kinh đô được hai tháng. Biết rằng kinh đô trước sau cũng thất thủ. Phò mã Sơn-Tinh cho chở kho tàng Văn-lang đem lên vùng Tản-Viên cất dấu. Tương truyền kho tàng ấy phải chở đến mười xe ngựa mới hết.

Khi đoàn xe chở kho tàng sắp tới núi Tản-Viên, Sơn-Tinh gặp đạo quân phục kích của Vạn-tín hầu Lý Thân. Lý Thân với Sơn-Tinh đấu với nhau trong suốt ba ngày bất phân thắng bại. Sau Lý Thân thấy không thể thắng nổi Phục-ngưu thần chưởng. Ông nhân Phục-ngưu thần chưởng, chế ra chưởng pháp âm nhu khắc chế với dương cương. Vì vậy Sơn-Tinh bị bại, bỏ chạy lên núi Tản-Viên. Lý Thân cướp được kho tàng Văn-lang.

Lý Thân đem kho tàng chôn ở một nơi rất bí mật. Sau đó con cháu Lý Thân lập ra phái Long-biên. Người chưởng môn phái Long-biên luôn giữ bí mật về nơi chôn cất kho tàng Văn-lang.

Vua An-Dương cai trị Âu-lạc tuy không lâu, nhưng các lạc hầu, lạc tướng dâng hiến không thiếu gì vàng bạc, châu báu. Ngài cất ở thành Cổ-loa. Trong thời Âu-lạc, bên Trung-quốc trải qua thời kỳ thất quốc tranh hùng. Nhà Tần diệt sáu nước, thống nhất Trung-nguyên. Mỗi khi một nước bị diệt, con cháu vua chúa, đại thần sợ bị giết. Họ mang theo bảo vật, trốn xuống Âu-lạc xin kiều ngụ. Những bảo vật đó, họ dâng cho vua An-Dương. Hoặc bán đi làm kế sinh nhai. Các lạc hầu, lạc tướng mua, dâng cho vua. Vua An-Dương có kho tàng Âu-lạc vĩ đại, chôn dấu vào cùng nơi với kho tàng Văn-lang, gọi chung bằng danh tự kho tàng Âu-lạc.

Triệu Đà chiếm Âu-lạc, kho tàng ấy thuộc về y. Họ Triệu đem kho tàng Âu-lạc cất về Phiên-ngung. Họ Triệu cai trị nước Nam-Việt một thời gian dài, lại thu được không biết bao nhiêu của quý, thành kho tàng Nam-Việt. Họ Triệu cất kho tàng Nam-Việt vào cùng nơi kho tàng Âu-lạc, gọi bằng tên kho tàng Âu-Việt. Khi Lữ Gia giết Cù-Thị, Thiếu-Quý. Vua Hán sai bọn Lỗ Bác-Đức đem quân chiếm Nam-Việt. Kho Âu-Việt ấy lọt vào tay Trường-sa vương nhà Hán. Hồi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, Thiên-sơn thất hùng nổi lên tranh thiên hạ. Công-tôn Thiệu đem quân đánh Trường-sa. Thiệu đem chở về cất ở thành Bạch-đế.

Thời Lĩnh-Nam, Trưng Nhi, Phật Nguyệt, Trần Năng, Hồ Đề đem quân trợ Hán đánh Thục, chiếm Xuyên-khẩu. Đại tư mã Hán Đặng Vũ hứa rằng ai vào Bạch-đế đầu tiên, sẽ thưởng cho kho tàng Âu-Việt trong tay Công-tôn Thiệu. Trận đánh sau đó, Thiên-ưng lục tướng lọt vào Bạch-đế đầu tiên, bắt sống Công-tôn Thiệu. Đặng Vũ giữ lời hứa tặng kho tàng ấy cho Lục-tướng. Hồ Đề sai em là Hồ Hác chở về Tản-viên chôn cất. Nơi chôn cất chỉ có Hồ Đề, Hồ Hác, Trưng Nhị, Nguyễn Phương-Dung biết.

Sau khi vua Trưng tuẫn quốc, Bắc-bình vương Đào Kỳ cùng Vương-phi Phương-Dung trấn thủ Long-biên. Lúc biết thế nước suy vi, không giữ nổi thành nữa, vương cùng Vương-phi bàn nhau giao con cùng bộ Lĩnh-Nam vũ kinh cho vợ chồng sư đệ Sún-Rỗ. Vương phi ghé tai Sún Rỗ nói cho biết nơi chôn cất kho tàng Âu-Việt.

Sún-Rỗ, Sa-Giang khắc bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, Dụng-binh yếu chỉ vào hầm đá dưới đền thờ Nhâm Diệm, Tích Quang. Cả hai đã di chúc cho con cháu mình, cùng con của Bắc-bình vương là Đào Tử-Khâm, Đào Tường-Qui. Trong giòng dõi họ Đào đều giữ bí mật về hầm đá. Nhưng đến đời thứ mười tám, người trưởng tộc chết bất đắc kỳ tử, thành ra bí mật hầm đá trở thành tuyệt tích.

Suốt nghìn năm qua, võ lâm Lĩnh-Nam cho rằng bộ Lĩnh-Nam vũ kinh, Dụng-binh yếu chỉ cùng kho tàng Âu-Việt chỉ là huyền thoại. Cho đến hôm Mỹ-Linh, Bảo-Hoà, Thanh-Mai lọt vào hầm đá. Mỹ-Linh học thuộc hết các bia. Nhưng nàng tuyệt không thấy ghi chép nơi chôn cất kho tàng Âu-Việt kia.

Tại đại hội võ lâm ở Lộc-hà. Sư thái Tịnh-Tuệ truyền chức chưởng môn cho Mỹ-Linh, trao tay nàng một cuốn sách dày. Bà thuật cho nàng biết rằng sách chép ba phần khác nhau. Phần thứ nhất tiểu sử các vị chưởng môn tiền nhiệm. Phần thứ nhì ghi chú tất cả bí quyết võ công. Phần thứ ba chép về bí mật kho tàng thời Tần-Hán, Âu-Việt. Cả ba phần đều chép bằng thuật ngữ đặc biệt, gồm tới ba trăm tiếng. Bà đọc vào tai nàng bài quyết, giải thích những thuật ngữ đó.

Đúng ra Mỹ-Linh nói rõ thêm những điều nàng biết về hai kho tàng trên. Nhưng nàng tự nghĩ:

- Mấy ông trưởng lão Hồng-thiết này xảo quyệt vô cùng. Mình không nên nói hết, để xem họ trình bầy có đúng như bí mật mình có không?

Nàng hỏi:

- Đấy, những điều tôi nghe Vương mẫu thuật về kho tàng Tần-Hán, Âu-Việt giống như truyện cổ tích. Không ngờ lại là sự thực. Hồng-thiết giáo đã nhiều năm sưu tầm, hẳn trưởng lão tìm ra được nơi cất hai kho tàng đó.

Lê Đức thấy Mỹ-Linh ngây thơ, y tưởng thực. Y tiếp:

- Vua Trưng thành đại nghiệp, ngài sai công chúa Yên-Lãng Trần Năng lên đào kho tàng Tần-Hán mang về Giao-chỉ. Khi đoàn chuyên chở đến Khúc-giang thì gặp đoàn cao thủ của Mã thái hậu đánh cướp. Công chúa Yên-Lãng vội sai chôn vào một hang núi, rồi lấp cửa hang lại. Nay kho tàng ấy ở trong vùng Quảng-Đông. Vì vậy thuộc hạ tổ chức giáo chúng ở đây rất chặt. Anh em đã bới từng hốc đá, từng gốc cây, cuối cùng đã tìm ra manh mối, chỉ còn chờ lệnh giáo chủ, sẽ cho khai quật.

Mỹ-Linh thấy Lê Đức có đôi chút thực thà. Nàng hỏi:

- Dường như truyện kho tàng Tần-Hán chôn tại Khúc-giang ai cũng biết. Tại sao mấy nghìn năm nay, người ta phải chờ đúng ngày rằm, giờ Tý, tháng mười một, năm Đinh-Mão mới đổ xô nhau tìm kiếm? Có gì lạ không?

Lê Đức trả lời bằng cái lắc đầu:

- Thuộc hạ phụ trách vụ này trên năm mươi năm qua, nghĩ đến nát óc mà không ra. Chỉ biết truyền thuyết nói: Cứ sáu mươi năm, tức một hoa giáp, nhằm ngày rằm, giờ Tý, tháng mười một, năm Đinh-Mão, cửa hang chôn cất mới mở ra một lần mà thôi. Nếu năm nay, không ai tìm ra, phải sáu mươi năm nữa mới trở lại tìm được.

Y ngừng lại một lúc, rồi đưa mắt nhìn Bảo-Hòa, Mỹ-Linh:

- Kho tàng Âu-Việt hiện chôn trên núi Tản-viên. Nhưng núi Tản lớn như thế, biết đâu mà tìm. Từ xưa đến giờ, phái Tản-viên, Mê-linh cùng giữ bí mật nơi chôn cất. Nếu hai phái hợp lại với nhau thì tìm ra. Song hai chưởng môn chưa bao giờ đồng ý về việc: Đào lên, ai sẽ được hưởng. Vì vậy kho tàng vẫn nằm trong lòng núi. Nay công chúa Bình-Dương lĩnh chưởng môn phái Mê-linh. Quận chúa Bảo-Hòa lĩnh chưởng môn phái Tản-viên vốn cùng huyết tộc. Xin hai vị mau hợp nhau, đào lên.

Mỹ-Linh lắc đầu:

- Kho tàng Âu-Việt không phải của phái Mê-linh hay Tản-viên, mà thuộc về con dân tộc Việt. Tôi nghĩ chỉ đại hội võ lâm mới có quyền quyết định mà thôi.

Thiệu-Thái đưa mắt hỏi Thanh-Mai:

- Quảng-Đông vốn thuộc đất cũ của tộc Việt. Chúng ta cần tìm kho tàng Tần-Hán đào lên đem về bán đi, hầu kiến thiết Đại-Việt. Xin mợ cho biết chúng ta phải làm gì?

Thanh-Mai suy nghĩ một lúc rồi tiếp:

- Việc này triều đình Đại-Việt không thể dính vào. Chúng ta lấy cớ đi hành hương đền thờ công chúa Thánh-Thiên, Gia-Hưng ở Quảng-Đông, rồi nhân đó tìm kho tàng, mới không bị lộ. Tôi nghĩ giáo chủ nên đích thân cầm đầu. Tôi với Bảo-Hòa lĩnh chức tả, hữu hộ pháp đương nhiên phải tháp tùng. Ta mời thêm người của Khu-mật viện, của năm đại môn phái phái Mê-linh, Đông-a, Sài-sơn, Tiêu-sơn, làm như toàn thể võ lâm Lĩnh-Nam đi hành hương. Còn bản giáo ai đi, ai ở xin giáo chủ định liệu.

Thiệu-Thái gật đầu:

- Vậy thế này. Bản giáo mới cải tổ toàn diện. Các vị trưởng lão cao niên nên đi thăm, tổ chức lại cơ sở ở các trấn, các huyện, ban bố đường lối mới đến giáo chúng. Trưởng lão Đặng Trường đi vùng Thiên-trường, Trường-yên, Thăng-long. Trưởng lão Hoàng Văn phụ trách giáo chúng bên Xiêm-la, Lão-qua, Chân-lạp, Chiêm-thành. Trưởng lão Xích-Thập đi vùng Bắc Thăng-long tới biên giới Trung-quốc. Trưởng lão Ngô Bách-Vân đến vùng Thanh-hoá, Nghệ-an. Trưởng lão Đào Nhị-Bách phụ trách vùng Đại-lý. Trưởng-lão Đào Tam-Bách phụ trách vùng Quảng-Tây. Còn trưởng lão Lê Đức, Đào Nhất-Bách tháp tùng bản nhân.

Một giáo chúng vào kính cẩn hành lễ với Mỹ-Linh:

- Khải tấu Công-chúa. Có chỉ dụ của Khai-Thiên vương gửi cho Công-chúa.

Y trình ra phong thư. Mỹ-Linh sửa y phục ngay ngắn, cung kính xé bao thư ra đọc. Liếc qua, nàng bỏ thư vào túi, nói với Thiệu-Thái:

- Phụ vương gọi em về khẩn cấp có truyện riêng. Trong thư người nói chỉ mình em về, không muốn cho bất cứ ai theo.

Mỹ-Linh lên ngựa hướng thành Thăng-long. Ngựa phi như gió, lát sau, nàng đã về tới vương phủ. Viên thị vệ canh cổng thấy nàng, cúi rạp người xuống hành lễ. Gặp thị nữ hầu hạ nàng hồi nhỏ, nét mặt tỏ ra lo âu. Nàng hỏi:

- Phụ vương hiện ở đâu?

- Tâu Công-chúa, Vương-gia ở thư phòng. Công chúa về mau, nhà có sự.

- Cái gì đã xẩy ra?

- Vương-phi bỏ đi mất từ sáng đến giờ.

Nghe tin dữ, Mỹ-Linh gia tăng cước lực. Bước vào thư phòng, thấy nét mặt phụ vương đăm chiêu ủ rũ. Nàng cúi đầu hành đại lễ. Khai-Thiên vương chỉ ghế: - Con ngồi đó!

Mỹ-Linh ngồi xuống. Không khí trong phòng thực lạnh lẽo. Một lúc sau Vương mới ngửng lên nhìn con:

- Vương mẫu con bị Hồng-thiết giáo đánh Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng đau đớn, rồi mê đi. Ta tưởng chết, đem chôn. Nào ngờ chúng giam Vương-mẫu con lại mưu đồ hại ta. Hôm rồi con với Thiệu-Thái cứu Vương-mẫu đem về. Đúng lý ra ta cật vấn để hiểu rõ ngọn ngành. Nhưng chú hai bảo rằng Vương-mẫu trải qua mấy năm bị giam cầm, tinh thần thất thường. Người yêu cầu ta không nên nhắc tới việc này. Vì vậy ta không hỏi đến. Mặc dầu trong lòng ta đầy nghi vấn.

Vương móc trong bọc ra tờ giấy:

- Hôm đại hội, ta mới biết vợ Trần Tự-An, Lê Long-Mang và Vương-phi Đông-Chinh vương bị Hồng-thiết giáo bắt giam dưới hầm dùng làm cây thuốc. Vì vậy Chu Vân-Nga, Cao Huyền-Nga, Vũ Thiếu-Nhung chưa muốn tự tử, chẳng qua họ chờ dịp trả thù. Chu Vân-Nga, Cao Huyền-Nga, Vũ Thiếu-Nhung nhân lúc chúng đấu nội lực, lên đài nói lời dâm đãng để hại chúng, dù biết rằng sẽ bị chúng giết. Ngay khi đó ta đoán Vương-mẫu con cũng như Vũ Thiếu-Nhung ắt cùng một hoàn cảnh. Có đúng thế không?

Mỹ-Linh khẽ gật đầu. Khai-Thiên vương lầm lì:

- Vân-Nga, Huyền-Nga tìm cách trả thù, rồi chết để tạ lòng chồng, chứng tỏ họ bị cưỡng ép, nhưng không tự tử để bảo toàn danh tiết. Nay tìm cái chết hầu tự xử tội mình. Như vậy mới phải đạo lý. Vũ Thiếu-Nhung tự tử để đền tội.

Vương thở dài:

- Sau đại hội trở về, ta cật vấn Vương-mẫu. Người chỉ khóc. Đêm qua người bỏ đi mất, để lại cho ta mấy lời tạ từ rất tối nghĩa. Con đọc để biết.

Mỹ-Linh cầm tờ giấy đọc:

Vương gia.

Thiếp được vương gia cực kỳ sủng ái, có với nhau bốn mặt con. Chẳng may số kiếp thiếp chẳng ra gì, mới xẩy ra vụ Hoàng Văn đánh thiếp một Chu-sa độc chưởng, rồi đem giam xuống hầm.

Nghĩ mình ô uế, không còn muốn sống nữa. Tuy nhiên tình mẫu tử khó dứt. Thiếp theo Mỹ-Linh về nhìn các con lần cuối rồi ra đi. Dù phụ hoàng đã ban chỉ ân xá, thiếp quyết tìm bọn Hồng-thiết trả thù. Trả được rồi thiếp sẽ tự xử. Trả không được, thiếp bị chúng giết, coi như thiếp đền tội.

Khóc hết nước mắt, mong Vương-gia bảo trọng.

Triệu Liên-Hương.

Khai-Thiên vương tiếp tờ giấy hỏi:

- Con phải kể hết sự thực cho ta nghe về việc này.

Mỹ-Linh biết không đừng được. Nàng thuật lại diễn tiến những gì thấy ở nhà Hoàng Văn, dưới hầm Cổ-loa, cùng tại Ngọc-thụy một lượt. Vương nghe xong đập tay xuống bàn:

- Dù ta có là Bồ-tát cũng không thể tha thứ cho tên Hoàng Văn. Vương mẫu con càng đáng trách. Khi bị chúng làm nhục, phải tự tử ngay, để bảo toàn danh tiết, chứ có đâu sống với chúng như thú vật? Ta thực không ngờ trong bẩy Vương-phi, ta sủng ái Vương-mẫu con đặc biệt. Thế mà lâm sự Vương-mẫu con lại không có chút danh tiết nào.

Mỹ-Linh quỳ xuống:

- Phụ vương! Bất cứ ai trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng cũng bị đau đớn đến chết đi sống lại. Sau bốn mươi chín ngày, kiệt lực ngất đi, rồi được cứu tỉnh, lương tri mất hết. Vì vậy không phải riêng Vương-mẫu, mà tất cả những người khác đều mơ mơ màng màng, đâu còn biết gì đến luân lý, đạo đức nữa mà tự tử? Xin phụ vương xét lại.

Vương gật đầu:

- Ta không tin như thế. Thôi được! Con thử nghĩ xem Vương-mẫu con đi đâu?

- Cứ như thư này, người đi tìm Hoàng Văn, giết y để trả thù. Với võ công của Vương-mẫu, con e không thể đến gần y, chứ đừng nói giết hắn. Xin phụ vương cho con đi tìm người ngay, để tránh nguy hiểm.

Khai-Thiên vương hỏi:

- Thiệu-Thái đâu rồi? Ta không ngờ ta đẻ ra con. Mà con cùng Thiệu-Thái, Bảo-Hòa kết đảng với chú hai, dành ngôi trừ quân của ta. Con thử nghĩ xem, mai này phụ hoàng băng hà. Chú hai đương nhiên làm Vua. Ta là anh, mà phải cúi đầu quỳ lạy xưng thần, thực nhục biết bao?

Mỹ-Linh biết trong lòng phụ-vương đang cực kỳ phẫn hận. Nàng muốn phân trần rằng chú hai đâu có tranh dành ngôi Vua? Chẳng qua hoàn cảnh đưa đến mà thôi. Nhưng nàng biết mình càng phân trần, e phụ vương càng nổi lôi đình. Vì vậy nàng cúi đầu im lặng.

Vương vỗ hai tay vào nhau:

- Kể từ nay, ta cấm chỉ con gần thằng Thiệu-Thái. Nếu trái lời, ta chém đầu cả hai đứa. Thôi, con hãy đi tìm Vương-mẫu cho mau. Dù thấy, dù không, chiều nay cũng phải về đây. Thôi con ra!

Mỹ-Linh cúi lạy, rồi ra ngoài. Lòng nàng se lại. Nào truyện Vương-mẫu, nào truyện duyên tình. Gặp hai em Kim-Thành, Trường-Ninh đang chơi với Nhật-Tôn. Nhật-Tôn thấy Mỹ-Linh , nó chạy lại ôm lấy nàng, rồi oà lên khóc:

- Chị Mỹ-Linh! Mẹ đâu rồi? Mẹ lại chết nữa rồi phải không?

Mỹ-Linh bế bổng em lên. Nàng xoa đầu nó:

- Không, mẹ không chết đâu. Lát mẹ sẽ về với em.

Nhật-Tôn nín ngay. Nhưng nó vẫn ôm lấy cổ Mỹ-Linh:

- Chị Mỹ-Linh! Chị đừng bỏ em nghe. Em sợ lắm. Em muốn ở cạnh chị.

Mỹ-Linh thấy Nhật-Tôn có linh tính, cảm biết trước một sự việc không lành. Nàng vẫy Kim-Thành, Trường-Ninh vào khuê phòng, đóng cửa lại, rồi hỏi:

- Chị thực đoảng. Là con lớn nhất trong nhà, mà không thường trực ở vương phủ. Tình hình mấy hôm nay ra sao?

Kim-Thành kể:

- Sau đêm chị đánh bại Hoàng Văn, rồi Vương mẫu sống lại, các bà Phi đổi hẳn thái độ với chúng em. Mọi khi Đinh-phi gây sự với bọn em không ngừng, bây giờ bà ấy ngọt với em như mía lùi. Mai-phi, Vương-phi mọi khi hay gây sự với Đinh-phi, bây giờ trầm ngâm cả ngày không nói.

- Còn chị em Hồng-Phúc?

- Bọn chúng sợ chúng em như sợ cọp. Nhưng chỉ được mấy ngày. Hôm qua nó đổi hẳn thái độ, hỗn láo với chúng em. Nó theo sát Vương-mẫu như bóng với hình. Tối đến, nó vào phòng Vương-mẫu, đóng cửa lại, rồi hai người nói với nhau truyện gì không rõ. Đến gần nửa đêm nó mới ra.

Trường-Ninh tiếp:

- Sau đó bọn em xin vào thăm Vương-mẫu, người khóc, bảo rằng không được khỏe. Sáng nay, khám phá ra vụ Vương-mẫu bỏ đi, để thư lại cho phụ vương.

Kim-Thành hỏi Mỹ-Linh:

- Chị thử nghĩ xem, có thể nào Hồng-Phúc liên quan đến vụ ra đi của Vương-mẫu không?

- Chị ngờ rằng có!

Mỹ-Linh chú ý thấy ngoài cửa sổ có người núp nghe trộm. Vì y quy tức, nên hơi thở như tơ. Tuy vậy nàng cũng nhận ra. Thình lình nàng lên tiếng:

- Chị em chúng tôi đang nói truyện riêng. Người là ai, mà lại núp nghe trộm?

Nói rồi nàng cầm cái nghiên mực trước mặt liệng ra cửa sổ. Nàng vận dương kình. Cái nghiên mực kêu rít lên, hướng vào một người mặc theo lối nông dân, đầu trùm khăn kín, chỉ để hở đôi mắt sáng như sao.

Người này thấy bị lộ hình tích, vùng bỏ chạy. Nhưng cái nghiên đã bay tới lưng y. Y vọt người lên cao tránh khỏi. Cái nghiên trúng vào con lân bằng đá trong vườn hoa. Bốp một tiếng, đầu con lân vỡ tan ra cùng với cái nghiên.

Mỹ-Linh vọt người theo. Nàng dùng một thức cầm long công của phái Tiêu-sơn chụp vai người kia. Người kia trầm người xuống tránh khỏi. Tay y vung chưởng phản công. Chưởng phong của y cực kỳ trầm trọng. Mỹ-Linh gạt tay đỡ. Nàng nhận ra chiêu Thiên-vương chưởng của phái Sài-sơn tên gọi Lôi đả Ân-tặc. Bộp một tiếng, nàng cảm thấy cánh tay tê rần, vội nhảy lùi một bước. Trong khi người kia cũng lùi lại, đứng nhìn nàng.

Qua một chiêu, Mỹ-Linh nhận thấy võ công đối phương rất cao thâm. Có lẽ ngang với Đại-Việt ngũ long, hơn bọn trưởng lão của Hồng-thiết giáo nhiều. Nàng nghĩ rất nhanh:

- Với võ công người này, thực tìm lai lịch cũng không khó.

Nàng tỏ vẻ khách khí:

- Tôn giá là ai? Giá lâm vương-phủ có việc gì? Cứ như thân thủ cùng bản lĩnh tôn giá thực hiếm có trên đời. Xin tôn giá bỏ khăn che mặt ra được không?

Người ấy không nói, không rằng, vẫy tay cho Trường-Ninh, Kim-Thành lùi lại, rồi thủ thế như muốn phát chiêu. Mỹ-Linh mỉm cười:

- Tôn giá muốn khảo nghiệm võ công ta ư? Được! Xin mời.

Người ấy không nhân nhượng phát chưởng tấn công Mỹ-Linh. Mỹ-Linh lùi một bước, vận Vô-ngã tướng Thiền-công, phát chiêu Tiêu-sơn tượng đầu chưởng. Bình một tiếng lớn. Mỹ-Linh bật lui liền hai bước. Người kia cũng lùi lại, phát ra tiếng kêu:

- Ái chà!

Qua một chiêu, Mỹ-Linh thấy nội lực của người ấy rất ảo diệu. Một phần hơi giống Đông-a, một phần hơi giống Tiêu-sơn, lại có một phần giống Cửu-chân. Nàng vẫy tay:

- Thôi, một chiêu, biết nhau như vậy cũng đủ rồi. Mời tôn giá vào chơi, chúng ta cùng đàm đạo.

Thời bấy giờ Nho-giáo tương đối đã có chỗ đứng trong xã hội, luân lý, luật pháp rất khắt khe với phụ nữ. Mỹ-Linh được phong Công-chúa, đúng ra nàng phải ở khuê phòng. Hàng ngày chỉ được tiếp xúc với cung nữ, hoặc thái giám. Vì theo Khai-Quốc vương, nàng ra ngoài, thuộc trường hợp hãn hữu. Bây giờ một thích khách lạ, mà nàng dám lên tiếng mời vào nhà chơi, thực vượt ra khỏi ý nghĩ của Kim-Thành, Trường-Ninh.

Người bịt mặt tần ngần một tý, rồi theo Mỹ-Linh vào trong nhà khách. Mỹ-Linh sai cung nữ pha trà, nàng khoan thai hỏi:

- Xin tôn giá cho biết cao danh quý tính.

Biết không đừng được, người ấy lột mũ, bỏ khăn ra. Mỹ-Linh bật lên tiếng à, người ấy là Trần Thông-Mai, anh của Thanh-Mai, Tự-Mai.

- Thì ra Trần đại-công tử. Chắc công tử biết tôi với chị Thanh-Mai cùng Tự-Mai kết huynh đệ rồi phải không? Chúng ta như con cùng nhà. Công tử giá lâm có điều chi dạy bảo? Tại sao phải núp ngoài cửa sổ?

Thông-Mai không mặc quần áo Như-Lai như hôm đại hội. Chàng mặc thường phục của nông dân. Chàng ngồi ngay ngắn lại, rồi nói:

- Hôm đại hội võ lâm, công chúa mới thấy tôi lần đầu. Nhưng tôi đã thấy công chúa nhiều lần. Tôi gặp công chúa ngay từ hôm giỗ Lệ-Hải bà vương. Từ đấy, tôi theo sát Công-chúa, cùng Thanh-Mai, Bảo-Hoà. Tất cả mọi việc Công-chúa với Thanh-Mai làm, tôi đều biết hết.

- Thế công-tử có đến Vạn-thảo sơn trang không?
- Có. Vì Công-chúa cùng Thanh-Mai đi đâu cũng bị bọn gian tế của Tống theo dõi. Khu-mật viện tuy có nhiều người, biết mọi hoạt động của bọn Triệu Thành, nhưng không ngờ đến việc chính bọn Triệu Thành lại bị bọn Tống của Lưu hậu rình rập. Chúng theo Công-chúa, đến Khu-mật viện cũng không hay. Trong khi chúng bị tôi theo dõi... Hôm nay, tôi đến đây để nói với Công-chúa một việc.

- Xin công tử dạy cho.

Thông-Mai tỏ vẻ bẽn lẽn:

- Truyện của tôi với Bảo-Hòa.

Mỹ-Linh sống gần Bảo-Hòa hơn năm qua. Nàng đã biết mối tình của bà chị họ với »tiểu hoà thượng» này. Nghe Thông-Mai nói, Mỹ-Linh mỉm cười rất tươi:

- Tiểu sư phụ. Người không làm hòa thượng nữa ư?

Bị Mỹ-Linh trêu, Thông-Mai trở nên dụt dè:

- Công-chúa hiểu cho. Phật giáo có muôn vàn pháp môn. Khi tôi xin thọ giới, đã khấn rằng: Do mẫu thân bị nghiệp quả biết bao kiếp trước. Vì vậy tôi tu cho đến khi gặp lại người. Dù đưới tuyền đài. Nay tôi gặp lại thân mẫu, nên xin trở về trần.

Kim-Thành đã nghe nói nhiều về duyên tình của nhà sư bí mật với Bảo-Hòa. Sau đại hội Lộc-hà, nhà sư bí mật hiển lộ thành Trần Thông-Mai. Nàng xen vào hỏi:

- Trần công tử này! Thế tình cảm giữa công tử với chị Bảo-Hòa nảy ra từ lúc nào? Hoa tình nở trong lòng ai trước?

- Về phía Bảo-Hòa tôi không rõ. Hồi đầu, tôi lên Bắc-biên theo dõi hành tung Lê Ba. Vì tôi nghi chính y hãm hại mẫu thân tôi. Trong khi đó, tôi bắt gặp nào Xích-Thập, nào Hoàng Văn mật nghị với bọn Tống. Trong bóng tối, tôi biết Bảo-Hòa, Thiệu-Cực cũng theo dõi họ.

Chàng ngừng lại thở dài:

- Bảo-Hòa gặp tôi, trêu ghẹo tôi đủ thứ, tôi không giận mà còn cảm thấy thích thú. Cho đến khi.... Cho đến khi Bảo-Hòa nói : Về thưa với mạ mạ hỏi tôi làm chồng. Trong lòng tôi trấn động.

Kim-Thành cười hớn hở:

- Hoa tình nở từ đó phải không?

- Đúng thế.

Kim-Thành hỏi tiếp:

- Lúc công tử cứu chị Bảo-Hòa ở Thanh-hóa. Công-tử ôm chị ấy trong tay. Thế mà chân tay không run ư?

- Run chứ. Người tôi như tê liệt vậy. Cũng từ ngày đó, Bảo-Hòa đi đâu, tôi theo sát như bóng với hình.

Mỹ-Linh không muốn em khai thác truyện thầm kín của Thông-Mai, nàng hỏi sang truyện khác:

- Duyên cớ nào, công-tử lại học trọn bộ Thiên-vương chưởng?

Thông-Mai được Mỹ-Linh cứu thoát khỏi vòng vây Kim-Thành. Chàng mừng quá:

-- Tôi theo dõi Lê Ba. Lê Ba lấy trộm Thiên-vương mật dụ chép lại dấu một chỗ. Nhưng y chỉ có bài quyết, mật ngữ, mà không có phần chép chiêu số, nên luyện không thành. Tôi trộm tập sách của y. Cho đến hôm vào hầm đá, tôi sao toàn bộ võ kinh thời Lĩnh-Nam. Tính tò mò, tôi luyện thử, cũng không thành công. Giữa lúc đó, một người xuất hiện. Người ấy nói rằng nếu tôi muốn luyện hết võ công Sài-sơn người ấy truyền cho. Nhưng tôi phải nhận lời giết một tên ác bá.

Kim-Thành gật đầu:

- Y chính là Lê Ba phải không?

- Đúng vậy. Người ấy cho tôi biết Thiên-vương mật dụ mà Lê Ba có trong tay, rồi bị tôi ăn trộm lại là sách giả. Vì vậy tôi luyện mà không kết quả. Sách thực, thì các chưởng môn truyền khẩu cho nhau mà thôi. Tôi được người truyền mật dụ thực cho, luyện thành võ công Sài-sơn.

- Người đó là ai vậy?

- Là sư huynh của Lê Ba.

Kim-Thành hỏi tiếp:

- Hôm trước nghe Thuận-Tông, Thiện-Lãm kể, dường như công tử giết cả nhà tên Đặng Đức-Kềnh. Vì ngay tại phạm trường có cái nón tu lờ của công tử. Ai cũng bảo công-tử tàn nhẫn quá đáng.

Thông-Mai cau mặt:

- Đúng! Chính tôi đã ra tay. Tên đầu bò liếm, mắt cá chuối này phát thệ không bao giờ phạm tội với bà Phượng-Ánh. Thế rồi tôi đi, nó lại đánh bà. Hỏi sao tôi không tính toán cho sạch sổ? Nói quả thực tôi ra tay có hơi tàn bạo. Song theo Khổng-tử: Sát nhất nhân vạn nhân cụ. Có vậy, bọn đầu trâu mặt ngựa theo con điếm già Anh-Tần mới ngán tôi.

Mỹ-Linh biết Thông-Mai đến đây vì truyện Bảo-Hòa:

- Chuyện công tử với Bảo-Hòa, công tử tính sao?

Thông-Mai thở dài:

- Chính vì vậy, tôi mới phải nhờ Công-chúa giúp cho một tay.

Mỹ-Linh vốn cực kỳ thông minh. Nàng nhìn ra cái khó khăn của Thông-Mai:

- Công tử với chị Bảo-Hòa đã hẹn ước với nhau rồi chăng?

Thông-Mai nhanh nhẹn gật đầu. Kim-Thành mỉm cười:

- Hơi khó đấy. Cô tôi đã hứa gả Bảo-Hòa cho Hưng Long. Việc này có ông nội tôi chủ trương. Tuy vậy công-tử có mấy cái lọng che cho, còn sợ gì. Cứ làm tới đi.

- Quận chúa bảo lọng đó gồm những ai?

- Thứ nhất thím hai Thanh-Mai. Nhất định thím phải giúp công tử. Ông nội với chú hai cưc kỳ sủng ái thím Thanh-Mai. Như vậy nhiều hy vọng lắm. Lại nữa theo dân gian, đổi hột, lấy hạt thím Thanh-Mai làm Vương-phi phủ Khai-Thiên, đổi lấy Bảo-Hòa làm dâu Đông-a. Đẹp lắm chứ. Công tử vốn thông minh chắc biết điều đó rồi. Việc công tử tới đây, mục đích nhờ bà Mỹ-Linh nhà tôi nói với Thái-cô. Thái-cô ngỏ lời một tiếng, chú Thừa-Quý với cô tôi hẳn răm rắp nghe theo. Có đúng thế không?

Thông-Mai giật mình, không ngờ Kim-Thành thông minh đâu kém Mỹ-Linh, đoán được ý chàng. Chàng lái sang truyện khác:

- Công-chúa có biết, hiện Vương-mẫu ở đâu? Tình trạng ra sao không?

Nghe nói đến mẹ. Mỹ-Linh run lên:

- Tôi cầu xin công tử cho biết thêm tin tức Vương-mẫu. Tôi nguyện không quên ơn.

- Công-chúa cần phải phân biệt hai loại gian tế của Tống. Một loại do Triệu Thành sai sang, hoặc thu dụng. Một loại do Lưu hậu quản trị. Bọn do Triệu Thành, Khai-Quốc vương đã biết hết. Còn bọn do Lưu hậu trực tiếp điều khiển, dường như Khu-mật viện chưa biết gì!

Mỹ-Linh rùng mình:

- Lời công tử khiến tôi như người mù được mở mắt. Bọn Nguyên-Hạnh, Đỗ Xích-Thập, Hoàng Liên, Nùng Dân-Phú, Chế Ma Thanh, Phủ Văn do Triệu Thành điều động, đều đã bị phá tan. Còn bọn do Lưu hậu là ???

- Đàm Can cùng đám con cái y. Trong triều còn Dực-Thánh vương, Hoàng Văn cùng một số chúa khê động Bắc-biên nữa. Trong khi đó Khu-mật viện lại cho rằng bọn này cũng của Triệu Thành.

- Như vậy Triệu Thành bị Lưu hậu nghi ngờ ư?

- Đúng thế!

Kim-Thành rất chú tâm đến việc Vương-mẫu ra đi, nàng hỏi:

- Theo như công tử nói, Vương-mẫu của tôi bị hại, không do Hồng-thiết giáo, mà do bọn Tống gây ra?

Thông-Mai gật đầu:

- Đúng như Quận-chúa đoán. Tôi nghĩ Khu-mật viện chỉ biết những kế hoạch do bọn Triệu Thành phá mình, chứ không biết rõ chủ trương của Lưu hậu.

Kim-Thành cực kỳ tôn kính Khai-Quốc vương, nàng hỏi lại:

- Chẳng lẽ chú hai tôi cũng không biết ư?

- Tôi nói Khu-mật viện không biết, chứ không nói Khai-Quốc vương không biết. Có lẽ Vương sợ trong Khu-mật viện có bọn gian tế của Đàm Can hoặc Dực-Thánh vương, vì vậy Vương giữ lại một bí mật.

Mỹ-Linh đã tìm ra được một chút ánh sáng:

- Tôi thử đoán xem có đúng không nghe. Lưu hậu ngồi ở Biện-kinh, vì vậy bà ta không biết rõ tình hình Đại-Việt. Bà nghĩ rằng chỉ cần đưa một người nào đó vô tài, bất đức lên làm Vua nước ta, hầu mặt Nam được yên, cũng đủ thỏa mãn rồi. Vì vậy bà ta móc nối với Dực-Thánh vương, hứa hẹn sẽ giúp ông khi ông phản nghịch cướp ngôi vua. Khi em cướp ngôi vua của anh, tất trong hoàng tộc chia hai phe chém giết nhau giống như hồi vua Lê Ngọa-triều. Cuối cùng một phe thắng lên làm vua, sĩ dân không phục, tinh lực hoàng tộc kiệt quệ. Bấy giờ bà ta đem quân sang đánh. Bọn Đàm Can, Hoàng Văn làm nội ứng bên trong, ắt thành công.

- Gần đúng như công chúa nghĩ. Công chúa chỉ biết có một nửa kế hoạch của Lưu hậu. Một nửa nữa như sau: Bà ta lợi dụng Hoàng Văn, Đặng Trường khống chế hầu hết các Vương-phi, phu-nhân Thượng thư, tướng sĩ. Đợi khi khởi sự sẽ xui chồng nhập cuộc. Một nửa theo phe này, một nửa theo phe kia chém giết lẫn nhau. Phe nào cũng tưởng mình chém giết tận mạng đối thủ, coi như lập công với Lưu hậu. Nào ngờ cả hai cùng bị lừa.

Mỹ-Linh kinh hoàng:

- Lưu hậu thâm độc hơn Triệu Thành nhiều. Còn Triệu Thành, y đã từng ra ngoài, hiểu rõ tình hình hơn. Y biết rằng khống chế vua Đại-Việt cũng chưa đủ. Dù vua có tồi tệ, nhưng võ lâm đoàn kết như hồi Lê Hoàn, cũng thừa sức chống xâm lăng. Vì vậy y trực tiếp chia rẽ võ lâm bằng cách hứa giúp Hồng-Sơn đại phu hưng diệt, kế tuyệt. Trong khi đó y dùng bọn trưởng lão Hồng-thiết giáo khống chế phu nhân chưởng môn phái Đông-a, Sài-sơn, cùng cài người vào phái Tản-viên, Mê-linh, Tiêu-sơn.

- Xét cho kỹ, kế hoạch của Triệu Thành dễ thành công. Khi y thành công cai trị Đại-Việt không khó,. Vì các võ phái sau một hồi chém giết nhau, bấy giờ cao thủ chết hết. Bậc con cháu sẽ thù nghịch nhau, chém giết nhau đến kiếp nào mới thôi. Cũng may các tôn sư đã khám phá ra, hoá giải được.

Trường-Ninh thở dài:

- Như thế Đàm Can, Hoàng Văn, Đặng Trường cũng như Dực-Thánh vương chỉ bị khám phá một nửa. Nay họ bỏ Hồng-thiết giáo, theo Lạc-long giáo. Ai cũng tưởng họ hối cải. Nhưng sự thực họ vẫn âm thầm làm việc cho Lưu-hậu. Vương-mẫu tôi ra đi, hẳn có liên hệ đến bọn này?

Thông-Mai gật đầu:

- Đúng thế. Vương-phi bị Hồng-thiết giáo làm nhục, chỉ có Khai-Quốc vương với Thuận-Thiên cửu hùng biết. Điều ta cần phải soi sáng, như sau: Thế sao Đinh phi cùng quận chúa Hồng-Phúc cũng biết.

Trường-Ninh lắc đầu:

- Tôi không tin. Việc Vương-mẫu bị làm nhục, vừa rồi công tử nói tôi mới hay, sao Đinh-phi cùng Hồng-Phúc biết được?

Thông-Mai bât lên tiếng cười lớn:

- Thế mới lạ. Tối qua Hồng-Phúc vào phòng Vương-phi nói toẹt ra hết. Hồng-Phúc khuyên Vương-phi nên tự tử, hoặc ra đi, để bảo toàn cho vương gia cùng con cái. Quận chúa nên biết rằng nếu việc Vương phi bị làm nhục lộ ra, Vương-gia ắt bị đuổi khỏi hoàng thành về dân dã. Vì vậy Vương-phi mới ra đi.

Mỹ-Linh vốn cực kỳ thông minh, nàng bật lên tiếng à rồi nói:

- Vậy có thể chính Đinh-phi hay Hồng-Phúc bị Hoàng Văn khống chế. Hoàng Văn biết rằng trước đây y không chế Vương-mẫu, việc đã bại lộ, dùng Vương-mẫu không được nữa. Y phải tìm cách diệt Vương-mẫu, hầu Đinh phi chiếm ngôi Vương-phi. Y tiết lộ hết mọi việc cho Đinh-phi cùng Hồng-Phúc, mượn tay hai người hại Vương-mẫu. Hồng-Phúc nói rõ mọi sự, đưa đến Vương-mẫu tự tử. Như thế Hoàng Văn vẫn có người trong phủ Khai-Thiên làm gian tế cho y.

Thông-Mai trả lời bằng cái gật đầu:

- Phụ thân tôi đoán trước tất cả mọi kế hoạch của chúng, nên sai các đệ tử theo dõi rất kỹ bọn thủ hạ Đàm Can, Hoàng Văn, Đặng Trường cũng như Dực-Thánh vương. Tôi được lệnh theo dõi trong phủ Khai-Thiên. Không may bị Công-chúa khám phá ra tung tích.

Mỹ-Linh cảm động:

- Côi-sơn đại hiệp thực đáng bậc trí tuệ nhất thiên hạ. Người biết hết, vung tay trợ giúp. Này Trần đại công tử. Công tử có coi chúng tôi như Thanh-Mai không?

- Dĩ nhiên tôi coi Công-chúa cùng hai Quận-chúa như Thanh-Mai.

- Vậy công-tử cho chúng tôi gọi bằng đại ca, bằng anh như Thanh-Mai mới có thâm tình.

Thông-Mai cười rất tươi:

- Chà, tôi lại được ba cô em gái vừa thông minh, vừa đẹp như tiên nga, còn gì bằng nữa? Bây giờ chúng ta đi tìm Vương-mẫu.

Kim-Thành hỏi:

- Anh Thông-Mai này. Anh biết mẹ em đi đâu không?

- Bà không đi đâu cả, mà về tổng đàn phái Mê-linh. Mỹ-Linh hiện làm chưởng môn, có thể dùng uy quyền, bắt phái này đưa bà ra.

Có tiếng cung nữ nói vọng vào:

- Hoàng thượng chỉ dụ mời công chúa vào điện Long-thụy hầu yến.

Mỹ-Linh nhìn Thông-Mai mỉm cười:

- Ông nội em thiết yến mời Thiên-trường ngũ kiệt với sự hiện diện của Thuận-Thiên cửu hùng. Anh có biết mục đích không?

Thông-Mai gật đầu mỉm cười:

- Mỹ-Linh được Khai-Quốc vương nhận làm con nuôi phải không? Sau yến này, Mỹ-Linh phải gọi Thanh-Mai bằng mẹ đấy nhá. Như vậy tôi đang là anh Mỹ-Linh bỗng chốc thành bác. Oai gớm!

Mỹ-Linh nhận thấy các đệ tử Đông-a đều có tư thái giống nhau: Đa tài, đa năng, kiến thức quảng bác, tinh thần vị nghĩa cực cao. Nàng nghĩ đến Thanh-Mai thành mẹ mình, mà trong lòng khoan khoái. Nàng lắc đầu cười:

- Chú em đã định trước. Ai giữ vai người ấy. Như chú em với em cùng theo học với thầy Huệ-Sinh, mà phận chú cháu không đổi. Chúng em cùng kết hợp thành Thuận-Thiên cửu hùng, chị Thanh-Mai gọi chú em bằng anh. Em gọi chị ấy bằng sư tỷ. Sau này, không biết chú em định cho em gọi chị Thanh-Mai bằng gì?

Trường-Ninh hỏi Thông-Mai:

- Anh Thông-Mai à! Ông nội em đãi yến phái Đông-a, vậy anh có đi dự không?

- Đi chứ. Bố tôi truyền cho chúng tôi phải tề tựu ở trên con thuyền tại bến Ngự-long, rồi cùng lên đường vào cung. Thôi, tôi phải đi đây. Sau tiệc, chúng ta cùng đi Mê-linh tìm Vương-phi.

Thấp thoáng một cái, Thông-Mai đã vọt qua cửa sổ biến mất.

Mỹ-Linh bảo các em:

- Chị đến Long-thụy bồi yến với ông. Các em ở nhà nhớ hầu hạ phụ vương cho chu đáo.

Nàng sai cung nga thắng xe, rồi lên đường. Vì phủ Khai-Thiên ở ngoài Hoàng-thành, nên Mỹ-Linh phải vượt qua quãng đường khá xa để đến điện Long-thụy. Dọc đường, nàng để ý thấy tên phu xe hoàn toàn lạ mặt. Nàng hỏi:

- Này anh! Anh tên gì? Đến Vương phủ được bao lâu rồi?

Tên phu xe kính cẩn đáp:

- Khải tấu công chúa, hạ thần họ Trịnh tên Thư, mới nhập phủ hơn hai tháng nay. Vì Công-chúa vắng nhà, nên thần chưa được diện kiến.

Mỹ-Linh để ý thấy tên Thư có đôi mắt sáng lấp loáng, chứng tỏ nội công của y không tầm thường. Y đánh xe khác người thường. Người thường mỗi khi vung roi đánh ngựa, tay đưa về trước. Đây tay Thư bất động, y làm thế nào không biết, mà sợi dây da trên đầu roi vọt về trước, rồi tự động co lại. Rõ ràng y xử dụng nội công thượng thừa. Nàng nhủ thầm:

- Giữa Đại-Việt với Tống đang có cuộc chiến tranh tế tác. Tên này không chừng làm gian tế của Tống cũng nên. Ta cứ im lặng, đề phòng mới được.

Xe sắp vào đến cửa Phi-long, đáng lẽ chạy thẳng đến điện Long-thụy, lại rẽ sang cửa Tường-phù. Mỹ-Linh kinh ngạc. Nếu trước đây một năm nàng đã kinh hoàng la lớn lên. Nhưng bây giờ với võ công thâm hậu, nàng lại có chủ ý về tên Thư nên im lặng, không nói gì. Xe vượt qua điện Long-an, đến điện Giảng-võ ngừng lại.

Mỹ-Linh chợt để ý đến sợi dây đỏ trên nút áo cổ của tên Thư. Nàng thở phào yên tâm, vì y là người của Khu-mật viện.

Chương 12: Vạn dặm gian nan

Vạn dặm gian nan - -

Trịnh Thư chỉ vào một con ngựa cột ở gốc cây, nói với Mỹ-Linh:

- Ngựa đã thắng yên cương. Công chúa ra cửa Quảng-phúc, sẽ gặp Thân thế-tử, đễ cùng đi cứu vương phi.

Mỹ-Linh biết vụ này do chú mình xếp đặt. Nàng lên ngựa, theo cửa Quảng-phúc ra khỏi thành. Đi được một quãng, thấy Thiệu-Thái dắt ngựa đứng chờ ở ven đường. Mỹ-Linh mừng rớt nước mắt ra được. Nàng hỏi Thiệu-Thái:

- Anh chờ em lâu chưa?

- Anh vừa tới xong.

- Ai bảo anh tới đây?

- Cậu hai cho người tới gọi anh, bảo đi với em cứu mợ cả. Anh không hiểu gì hết.

Mỹ-Linh thuật mọi chi tiết về mẹ mình cho Thiệu-Thái nghe. Nàng kết luận:

- Chúng ta đi Mê-linh ngay. Có lẽ giờ này mẹ em đã đến đó rồi.

Thiệu-Thái thắc mắc:

- Cứ như trong thư để lại, ắt hẳn mợ đi tìm Hoàng Văn trả thù, chứ có đâu đến tổng đàn phái Mê-linh?

Mỹ-Linh chợt tỉnh ngộ, nhưng nàng vẫn tin lời Trần Thông-Mai :

- Hồi đầu mới nghe anh Thông-Mai nói, em cũng nghĩ như anh. Nhưng anh Thông-Mai khẳng định mẹ đi Mê-linh. Có thể bên trong còn có uẩn khúc gì cũng nên. Vả lại việc này chú hai đã biết tỏ tường, nên người mới bố trí cho chúng mình cùng đi.

Mỹ-Linh chỉ ra phía sông:

- Đi Mê-linh, ta phải vượt sông Hồng sang bờ Bắc. Vậy chúng ta nhờ thủy quân đưa qua.

Hai người ra roi cho ngựa chạy về phía bến Tiềm-long. Tới nơi, viên thủy thủ gác bến nhận ra Mỹ-Linh. Y hành lễ quân cách. Mỹ-Linh truyền lệnh:

- Anh mời viên thuyền trưởng trực gặp tôi.

Viên thuyền trưởng tới. Mỹ-Linh nói:

- Anh cho thuyền chở ngựa với chúng tôi qua sông khẩn cấp.

Viên thuyền trưởng ra lệnh. Một thuyền chở ngựa. Một thuyền chở người. Thuyền rời bến.

Viên thuyền trưởng lấy ra hai túi hành lý, quần áo trao cho Thiệu-Thái.

Mỹ-Linh kinh ngạc hỏi thuyền trưởng:

- Ta bảo người chở ta sang sông. Người đưa quần áo cho ta làm gì đây?

Viên thuyền trưởng cười:

- Công chúa muốn qua sông, cứu vương mẫu, phải thay y phục dân dã, đi đường mới không bị lộ. Chứ công chúa mặc thế này, dọc đường hành sự khó khăn lắm.

Mỹ-Linh kinh ngạc, tự hỏi:

- Ta đi cứu vương mẫu, sao viên thuyền trưởng này cũng biết? Dường như ta đã thấy y ở đâu rồi, dáng dấp y quen quá.

Chợt thấy phía sau cổ y có mụn nốt ruồi son lớn, Mỹ-Linh bật kêu lên:

- Đỗ phu nhân. Phu nhân hoá trang hay quá. Đến tôi với anh Thiệu-Thái cũng nhìn không ra.

Đỗ Lệ-Thanh lấy mực, hồ ra hoá trang Mỹ-Linh thành một thiếu phụ lớn tuổi. Thiệu-Thái thành một trung niên nam tử.

Đỗ Lệ-Thanh bật cười:

- Tiểu tỳ hóa trang, đến vú Hậu cũng không nhìn ra, thế mà công chúa nhận được. Nhãn lực công chúa thực không ai bì kịp.

Mỹ-Linh chỉ vào mụn nốt ruồi đỏ sau cổ Lệ-Thanh:

- Tôi nào có nhận được. May nhờ mụn nốt ruối này đấy chứ.

Mỹ-Linh lấy gương soi, nàng nhăn mặt:

- Sao phu nhân không hoá trang chúng tôi thành đôi trai gái quê?

Đỗ Lệ-Thanh cười lớn:

- Tiểu tỳ không thể hoá trang thế-tử với công-chúa thành nông dân được. Vì chúng ta đi kỳ này phải vượt cả trăm dặm đường, cần cỡi ngựa. Có lẽ phải xử dụng võ công. Xử dụng võ công, ắt công chúa cần kiếm. Có đời nào thôn nữ lại đeo kiếm cỡi ngựa? Nên tốt hơn hết chúng ta hoá trang thành người võ lâm, dễ dàng hơn.

Mụ vỗ tay một cái. Từ trong khoang phía sau, có đôi trai gái chui ra. Mỹ-Linh giật bắn người lên, vì một người chính thị Thân Thiệu-Cực, em Thiệu-Thái. Còn cô gái từ khuôn mặt đến y phục giống nàng như hệt.

Thiệu-Thái ngơ ngác hỏi:

- Thế này là thế nào?

Cô gái dơ tay vẫy mọi người, hay tay xoa vào nhau, cử chỉ đường bệ, giống hệt cô công chúa ở thâm cung:

- Ta là công chúa Bình-Dương, tại sao các người thấy ta không hành lễ? Các người có biết rằng như vậy là phạm tội đại bất kính, phải chặt đầu ư?

Cô gái có dáng điệu, tiếng nói giống hệt Mỹ-Linh. Còn Thiệu-Cực mọi khi mặt bình thường, bây giờ mặt tròn ủng, bụng hơi lớn, dáng diệu phục phịch, người lạ trông sẽ tưởng lầm là Thiệu-Thái.

Thiệu-Cực cười:

- Em có hiểu gì đâu. Sáng nay mạ mạ nhận được thư cậu hai. Mạ mạ bảo em phải lấy ngựa trình diện cậu để nhận lệnh. Trên đường đi sẽ gặp một viên chức thủy quân, nhất nhất nghe lời viên chức này. Em đang trên đường về Thăng-long thì gặp Đỗ phu nhân. Phu nhân đưa em vào ngôi nhà trong một thôn ven đường cùng với cô nương đây. Rồi hoá trang cho bọn em.

Đỗ Lệ-Thanh cười:

- Vương gia ban lệnh bảo tiểu tỳ rằng phải hoá trang cho cô nương đây thành công chúa. Nhị thế-tử thành thế-tử. Hai vị sẽ lên đường về Mê-linh, hầu đánh lạc hướng bọn Tống. Bây giờ nhị thế-tử với cô nương sẽ được đưa sang bên kia bờ, cỡi ngựa đi Mê-linh. Trong khi đó công chúa, thế-tử cùng tiểu tỳ đi cứu vương mẫu.

- Vương mẫu tôi gặp nạn sao?

- Đúng thế. Người không hề trốn đi, cũng không viết thư để lại. Vương phi bị bắt cóc, rồi người ta giả tuồng chữ vương phi viết thư cho vương gia, hầu đánh lạc hướng. Không tin công chúa thử coi lại thư của vương mẫu mà xem.

Mỹ-Linh móc thư ra xem lại. Nàng giật bắn người lên, vì nét chữ trong thư quả có nhiều khác biệt với nét chữ của vương mẫu. Nàng chửi thầm:

- Phụ vương cũng như mình quả thực thiếu tinh tế. Thấy tuồng chữ hơi giống đã vội tin ngay. Chết thực. Nếu không có chú hai, phụ vương với mình như lạc vào trong giấc mơ.

Nàng hỏi:

- Không biết ai bắt cóc vương mẫu tôi, bắt để làm gì?

- Công chúa thử đoán xem?

Nàng vỗ hai tay vào nhau, mắt sáng lên:

- Tôi hiểu rồi! Chúng bắt cóc vương mẫu, sao đó viết thư để lại. Cứ như trong thư, ai cũng đoán vương mẫu tìm Hoàng Văn trả thù. Do vậy phụ vương tin thực, sai tôi đi tìm về. Đi tìm, tôi phải tới nhà Hoàng Văn tra khảo y. Như vậy họ muốn chia rẽ tôi với Hoàng Văn chăng?

Đỗ Lệ-Thanh lắc đầu:

- Nếu muốn chia rẽ công chúa với Hoàng Văn, họ thiếu gì cách, mà phải bầy ra kế này, đôi khi vô hiệu.

Thiệu-Thái nhăn mặt:

- Không lẽ chúng muốn cài bẫy hại Mỹ-Linh?

Ai cũng tưởng Đỗ Lệ-Thanh lắc đầu. Không ngờ mụ gật đầu liền hai cái:

- Họ muốn bắt sống công chúa với thế-tử.

Mỹ-Linh hiểu liền:

- Họ muốn bắt sống hai chúng tôi, rồi ép khai yếu quyết luyện Mê-linh kiếm pháp cùng Mục-ngưu thiền chưởng hẳn?

- Công chúa chỉ mới đoán trúng một nửa. Họ còn muốn bắt sống công chúa với thế-tử để biết nơi chôn cất kho tàng. Vì nơi chôn cất hai kho tàng Tần-Hán, Âu-Việt trên thế gian này chỉ công chúa với thế-tử biết nơi tàng trữ mà thôi. Kho tàng Âu-Việt xưa nay, chưởng môn phái Mê-linh biết chỗ dấu. Kho tàng Tần-Hán chỉ Hồng-thiết giáo, nay thành Lạc-long giáo có bản đồ nơi chôn.

Mỹ-Linh nhảy phắt lên:

- Họ là ai?

- Tống triều. Vì vậy Khai-Quốc vương cho hai vị đây giả trang công chúa cùng thế-tử, lên đường đi Mê-linh, hầu đánh lạc hướng bọn chúng. Vương gia cũng cho làm tài liệu giả, để lỡ hai vị đây bị bắt, trao cho chúng. Chúng theo đó đi tìm, để rồi chẳng được gì cả. Bây giờ chúng ta cho hai vị này lên bờ, lấy ngựa đi Mê-linh.

Thiệu-Thái lo cho em:

- Nếu em tôi bị chúng vây bắt, với võ công của y sao có thể chống nối?

Thiệu-Cực không giống anh. Chàng thuộc loại người tinh minh, mẫn cán. Vì vậy ngay từ năm mười ba tuổi, đã được bố mẹ cho trông coi hệ thống tế tác vùng Bắc-biên. Giống như ngày nay bao gồm cả tình báo quốc nội, quốc ngoại. Ở Bắc-biên, người ta gọi Thiệu-Thái là ông ỉn, vì chàng vốn to béo kềnh càng, tính tình lại chân thật. Còn Thiệu-Cực được gọi là sơn-kiêu tức con cú ở rừng.

Thời cổ, khi ví người xảo quyệt vô lương tâm, người ta gọi là gian-hoạt tức con chồn tinh ma. Khi ví người khôn ngoan, mưu trí, anh hùng, nhưng trông bề ngoài khù khờ, hiền lành, thường gọi là kiêu-hùng hay sơn kiêu. Kiêu là con cú. Con cú thường cúi đầu ủ rũ như người ngủ. Nhưng trong đầu óc, lại thực sáng suốt, mưu trí tuyệt vời.

Nghe anh lo nghĩ cho mình, Thiệu-Cực cảm động:

- Ỉn khỏi lo cho em. Ỉn quên mất rằng mọi đường đi, nước bước của chúng đều bị cậu hai với chúng mình biết rồi hay sao? Ỉn cũng quên mất rằng, trong tâm tư chúng, chúng biết võ công ỉn cao nhất thiên hạ. Kiếm thuật Mỹ-Linh thần sầu quỷ khốc hay sao? Chúng thấy bọn em, tưởng rằng em là ỉn, sư muội đây là Mỹ-Linh. Đến Triệu Khuông-Dẫn sống lại ra lệnh, chúng cũng không dám lại gần bọn em. Chúng chỉ có thể đánh thuốc mê, hay bỏ thuốc độc vào thức ăn. Khi bọn em đề phòng rồi, thì còn sợ gì nữa?

Anh em Thiệu-Thái vốn cùng bố mẹ chung lo quốc sự, nên thường đùa vui với nhau suốt ngày, mà thương yêu nhau vô cùng. Chàng vẫn không yên tâm:

- Cú rừng nói thế, anh tin thế. Song khi chúng chủ tâm bắt anh với Mỹ-Linh, ắt chúng có mưu kế khác thần diệu hơn. Lỡ ra cú rừng với cô nương đây vào tay chúng, e nguy lắm chứ không chơi đâu.

Thiếu nữ giả Mỹ-Linh chỉ vào cái túi bên cạnh, lên tiếng:

- Lợn lo cho em với Thiệu-Cực như vậy cũng phải. Nhưng lợn ơi! Nếu chúng không giám bắt sống em với cú rừng, ắt chúng tìm cách ăn trộm cái túi này. Trong túi có cuốn phổ chép Mê-linh kiếm pháp cùng Mục-ngưu thiền chưởng giả. Cũng có hai cuốn nữa, chép nơi dấu kho tàng Tần-Hán, Âu-Việt cũng giả. Khi ăn cắp xong, chúng cao chạy xa bay ngay. Còn trường hợp cú rừng với em bị bắt, có hai sự kiện xẩy ra.

Mỹ-Linh nghe tiếng thiếu nữ rất quen, nàng suy nghĩ xem đã gặp nàng ở đâu. Thiếu nữ thấy Mỹ-Linh nghĩ không ra, nàng cất tiếng rao dài thườn thượt:

- Ai bún riêu không!

Mỹ-Linh bật kêu lên:

- Thanh-Trúc! Thảo nào tiếng nói trong quá.

Thiếu nữ giả Mỹ-Linh chính là người mang tên Thanh-Trúc, đã được bố trí làm cô hàng bún riêu, đưa Ngô Tích vào lưới của Khu-mật viện tại Vạn-thảo thôn trang. Hôm về Thăng-long, Mỹ-Linh được biết Thanh-Trúc không phải thôn nữ, mà là con quan lễ bộ thượng thư. Quan lễ bộ thượng thư gọi Lập-nguyên hoàng-hậu bằng cô. So vai vế, Thanh-Trúc với Mỹ-Linh ngang vai nhau. Nàng vốn văn hay chữ tốt, lại võ công thâm hậu, cho nên Khai-Quốc vương mới tuyển nàng làm việc cho Khu-mật viện. Để tiện hành động, vương nhận nàng làm con nuôi.

Mỹ-Linh mừng quá, ôm lấy Thanh-Trúc:

- Em giả trang hay quá, đến chị mà cũng không nhận được. Thế hai trường hợp xẩy ra như thế nào?

- Trường hợp thứ nhất, chúng không khám phá ra sự giả mạo của anh Cực với em. Em làm bộ chống đối, rồi trao bản đồ giả cho chúng. Còn chúng khám phá ra sự giả mạo. Em khai rằng hai đứa hoá trang ăn cắp kiếm phổ, chưởng phổ cùng bản đồ. Không may bị chúng bắt được. Tóm lại cả hai trường hợp, chúng đều bị lừa cả.

Mỹ-Linh vẫn lo cho vương mẫu:

- Thế thực sự vương mẫu bị chúng bắt đem đi đâu?

Đỗ Lệ-Thanh đáp:

- Lúc bắt cóc, chúng giả bàn nhau, đem đi Mê-linh, hầu đánh lừa mọi người. Chúng vờ lộ cho Khu-mật viện biết. Chúng nghĩ rằng Khu-mật viện theo chúng đi Mê-linh. Trong khi chúng đem đi nơi khác. Khai-Quốc vương biết thế. Người vờ như trúng kế, bố trí cho thế-tử Thiệu-Cực với cô nương Thanh-Trúc đi Mê-linh làm như trúng kế. Sự thực thì...

Thiệu-Thái nhăn mặt:

- Tôi không hiểu.

Lệ-Thanh giảng giải:

- Xung quanh Thăng-long hiện có đến ba màng lưới săn đuổi nhau. Màng lứơi thứ nhất của Khu-mật viện. Màng lưới thứ nhì của Lạc-long giáo. Màng lưới thứ ba của phái Đông-a. Bọn Tống chỉ biết, cùng đề phòng màng lưới của Khu-mật viện. Còn hai màng lưới kia chúng không biết. Khai-Quốc vương rõ như thế, cứ im lặng, làm như màng lưới Khu-mật viện bị trúng kế. Mặt khác người dùng Thanh cô nương đem lệnh của Thế-tử điều động màng lưới Lạc-long giáo theo dõi chúng. Mặt khác người dùng màng lưới của phái Đông-a hữu hiệu vô cùng.

Mỹ-Linh chợt hiểu:

- Vì vậy mới có truyện anh Thông-Mai giả thám thính phủ Khai-Thiên, rồi quyết đoán vương mẫu đi Mê-linh. Anh ấy thúc chúng tôi đi Mê-linh cứu vương mẫu, vì biết xung quanh chúng tôi có bọn gian tế Tống. Chắc chúng tưởng mình trúng kế, chúng yên tâm hành động, và lọt lưới Khu-mật-viện.

- Đúng vậy! Còn vương mẫu, chúng đem xuống thuyền, đưa về Trung-quốc.

- Để làm gì?

- Công chúa quên mất rằng, hồi còn theo học phái Mê-linh, vương mẫu vốn văn hay chữ tốt, nên được sư thái Tịnh-Tuệ sai chép võ kinh cũng như di thư cất kho tàng. Chúng cần đem vương mẫu theo, hầu khi bắt được di thư kho tàng, chúng bắt viết ra, còn so sánh tuồng chữ.

Thiệu-Thái kinh hoảng:

- À thì ra thế. Không biết khi giả di thư, cậu tôi có nghĩ đến truyện đó không?

Mỹ-Linh ở gần chú lâu ngày, nàng biết nhiều về Khu-mật viện:

- Anh đừng lo. Khi giả mạo, cậu phải kiếm những thứ giấy cũ, rồi tìm người viết cho hay, giả mạo tuồng chữ, đến kẻ viết cũng không nhận ra được.

Thuyền đã cập bến. Thiệu-Cực cùng Thanh-Trúc lên bờ. Đỗ Lệ-Thanh cung tay giả hành lễ quân cách. Mụ nói lớn:

- Chúc công chúa cùng thế-tử mã đáo thành công.

Thiệu-Cực vẫy tay một cái. Hai người lên ngựa, ra roi.

Thuyền vẫn trôi xuôi theo giòng nước. Mỹ-Linh biết mọi sự do chú mình xếp đặt, nên nàng không hỏi xem tại sao thuyền không sang ngang, mà xuôi giòng? Thuyền đi được hơn mười dặm, thì từ phía sau có con thuyền buôn đi cùng chiều. Như muốn vượt qua chiến thuyền.

Đỗ Lệ-Thanh nói:

- Bây giờ chúng ta chờ thuyền kia đi song song, thình lình vọt qua. Nhớ nhắm cửa sổ chuồn vào. Dù người trên thuyền. Dù người đứng trên bờ cũng không thấy được. Công chúa nhớ nhé, Thân thế-tử mang họ Thái tên Thân. Công chúa họ Đỗ tên Linh. Hai vị là anh em con cô cậu. Cả hai theo thuyền buôn sang Trung-quốc học y. Còn tiểu tỳ họ Lý tên Lệ.

Con thuyền buôn từ từ vượt lên. Đỗ Lệ-Thanh nháy mắt, rồi mụ nhảy qua. Thiệu-Thái, Mỹ-Linh nhảy theo. Trong khoang không có một người nào cả.

Chợt có tiếng gõ cửa. Một thiếu niên ngó đầu vào nói bâng quơ:

- Đường có mạch, bức vách có tai.

Mỹ-Linh thấy trên nút áo y có sợi chỉ đỏ, thì biết y làm việc cho Khu-mật viện. Y nháy nàng một cái, rồi rời khỏi khoang thuyền.

Mỹ-Linh hỏi Lệ-Thanh:

- Bây giờ chúng ta phải làm gì?

Đỗ Lệ-Thanh móc trong túi ra một cái hộp trao cho Mỹ-Linh:

- Vương gia truyền tiểu tỳ đệ lên công chúa.

Mỹ-Linh sửa y phục ngay ngắn, cung kính mở hộp ra. Bên trong có trục giấy. Nàng cầm lên đọc, đã kinh ngiệm vụ vương mẫu bị giả mạo nét chữ. Nàng quan sát cẩn thận, thấy đúng chữ của chú, nàng đọc đi đọc lại một lựơt, rồi châm lửa đốt.
Thiệu-Thái biết đây là lệnh của cậu cực kỳ cơ mật nên Mỹ-Linh đọc rồi đốt. Vì vậy chàng không hỏi xem trong cuốn trục Khai-Quốc vương viết gì. Chàng nhìn Mỹ-Linh chờ nàng nói.

Mỹ-Linh nhìn Đỗ Lệ-Thanh cười:

- Chú tôi dặn chúng ta ra biển, rồi hướng lên Bắc. Bấy giờ sẽ có chim ưng trao cho chỉ dụ mới. Trong khi ngồi thuyền buồm, Lý phu nhân dạy bọn tôi luyện lại tiếng vùng Biện-kinh. Chứ chúng tôi nói tiếng Hoa vùng Quảng nghe quê quá.

Đỗ Lệ-Thanh vui vẻ:

- Vậy thì thế này, bây giờ chúng ta bàn truyện. Tiểu tỳ nói câu nào, công tử, tiểu thư theo đó nhẩm lại, chỉ mấy ngày sẽ thành quen ngay.

Mỹ-Linh hỏi:

- Thuyền này có bao nhiêu thủy thủ? Ai là chủ?

- Vương gia cho biết họ thuộc bang Hồng-hà, làm việc cho Khu-mật viện. Trên thuyền có ba mươi người. Gồm mười lăm thủy thủ. Còn lại đều là vợ con họ. Họ chuyên chở mướn, đường Thăng-long sang bên Quảng-Nam, Quảng-Tây. Chúng ta đi với họ, không ai nghì ngờ gì cả. Họ cũng không biết rõ thân phận cùng nhiệm vụ chúng ta. Họ được lệnh tuyệt đối tuân theo chỉ dụ công tử, tiểu thư mà thôi.

Nhớ lời dặn của Khai-Quốc vương

Khi tới chỗ nào, muốn tìm người của Khu-mật viện, cứ gõ vào thành cửa ba tiếng lớn, hai tiếng nhỏ, sẽ có người xuất hiện. Hỏi mật khẩu, sẽ biết vai vế họ. Nàng vận âm kình, gõ tay vào thành cửa. Tiếng kêu tuy nhỏ, nhưng vọng đi rất xa.

Lát sau, một lão già đầu bạc trắng như cước bước vào khoanh tay, hành lễ. Mỹ-Linh hỏi:

- Ông có hoa lan bán không?

Lão già trả lời:

- Không! Tôi chỉ bán hoa đào mà thôi. Tiểu thư mua mấy nhánh?

- Tôi cần mua chín nhánh.

Lão già kính cẩn:

- Tiểu nhân chỉ có hai nhánh.

Nguyên đẳng trật võ quan đời Lý có mười, gồm đô nguyên soái, tiết độ sứ, đại tướng quân, phó nguyên soái, phó tiết độ sứ, phó tướng quân, nội điện chỉ huy sứ, chiêu thảo sứ, thiên tướng, thần tướng. Mỹ-Linh được Khai-Quốc vương cấp binh phù cho, chứng nhận đẳng trật tới thứ chín tức tiết độ sứ. Còn lão già xưng hai nhánh tức thiên tướng. Như vậy cấp của hắn khá cao.

Mỹ-Linh hỏi:

- Lão tiên sinh báo danh tính đi.

- Tiểu nhân họ Vũ tên Hoàn, thuyền trưởng.

- Vũ thuyền-trưởng ngồi xuống đây đi. Vũ thuyền-trưởng tải những gì sang Trung-quốc bán?

Trong mật lệnh, Khai-Quốc vương dặn Mỹ-Linh rằng thuyền trưởng cũng như thủy thủ đều được thông báo rằng nàng với Thiệu-Thái là anh em cô cậu. Cả hai xuất thân văn quan làm võ quan, chỉ biết mấy thế võ phòng thân. Hai anh em giả sang Trung-quốc học thêm về y khoa. Tuyệt nhiên họ không biết thân thế anh em nàng, cũng không biết gì về Đỗ Lệ-Thanh.

Vũ Hoàn kính cẩn:

- Tại hạ vốn thuộc bang Hồng-hà, làm nghề vận tải đường sông từ Thăng-long đi Tuyền-châu. Còn hàng, tùy theo khách đem theo. Tại hạ không buôn bán gì cả.

Đỗ Lệ-Thanh hỏi:

- Đường từ Thăng-long đi Tuyền-châu mất mấy ngà

- Nếu không bị gió Bắc thổi, mất mười ngày. Còn khi có gió Bắc, e đến hơn nửa tháng. Đường đi chia làm nhiều chặng. Chặng đầu tiên Thăng-long, Ngọc-sơn mất một ngày. Thuyền nghỉ nửa ngày cho khách lên, nhận thêm khách xuống. Chặng thứ nhì Ngọc-sơn đi Bạch-đằng. Nghỉ tại Bạch-đằng một ngày, sau đó đi Miếu-sơn mất một ngày rưỡi. Nghỉ ở Miếu-sơn nửa ngày, rồi đi Khâm-châu. Tại Khâm-châu, chờ giấy phép của quan trấn thủ Tống, rồi lên đường đi Hải-nam. Từ Hải-nam đi thẳng Tuyền-châu.

Thiệu-Thái đã từng ở Bắc-biên, chàng thuộc lòng địa thế các châu Trung-quốc giáp giới với khê động Đại-Việt, nên lão Trịnh nói gì chàng không chú ý cho lắm. Chàng hỏi:

- Tôi nghe vùng biển giáp giới Tống, Việt có bọn cướp ở trại Như-hồng thường đón thuyền buôn hãm hại. Trên thuyền ta có đủ lực lượng chống với chúng không?

Lão Vũ tỏ vẻ tự đắc:

- Đối với thuyền khác, bọn chúng dám đánh cướp, chứ đối với thuyền của bản bang, cho ăn vàng bọn chúng cũng không dám. Công tử, tiểu thư đừng lo.

Thiệu-Thái hỏi:

- Trên thuyền có bọn nào cần đề phòng không?

- Tất cả đều phải đề phòng. Tài công chính là con trưởng của lão tên Vũ Ngọc. Hiện có tới hơn hai trăm khách đi Trung-nguyên. Tăng có, tục có, nam có, nữ có. Võ công cao có, võ công thấp có. Tồt hơn hết ba vị cứ ở trong khoang thì hơn hết.

Nói rồi lão từ tạ lui bước.

Thiệu-Thái, Mỹ-Linh mở cửa sổ nhìn ra sông. Nước sông Hồng chảy siết, thuyền trôi mau như tên bắn. Đỗ Lệ-Thanh bàn:

- Chúng ta đang ở trên tầng cao nhất của con đò. Tầng này chỉ có ba phòng. Phòng cho tài công ngồi lái ở chính giữa. Phòng bên phải của thuyền trưởng. Chúng ta ở phòng bên trái. Tất cả khách đi thuyền đều ở tầng giữa. Tầng dưới cùng chất hàng. Tiểu tỳ nghĩ chủ nhân nên đục một lỗ, nhìn xuống xem bên dưới có những ai, hầu đề phòng.

Mỹ-Linh tuy đã đi ra ngoài, kinh lịch nhiều. Song nàng được giáo huấn rất kỹ trong tinh thần Nho, Phật. Thấy Lệ-Thanh đề nghị hợp lý, nhưng thân phận nàng, một công chúa, cha mẹ trăm họ, có đâu đi rình rập người dân?

Nàng chưa kịp cản, thì Đỗ Lệ-Thanh đã chỉ vào một chỗ ván gần cửa sổ, bảo Thiệu-Thái:

- Chủ nhân vận Thiền-công vào ngón tay chỏ rồi khoan chỗ này, chúng ta dễ dàng nằm dài mà quan sát.

Thiệu-Thái hít hơi, chiã ngón tay chỏ quay mấy vòng. Ván thuyền bị khoan tan thành mùn. Đúng ra với công lực của chàng, chỉ cần chọc một cái, đừng nói ván thuyền, đến gạch, đá cũng thủng. Nhưng vì chàng sợ chọc mạnh, mùn rơi xuống dưới, ắt bị lộ hình tích.

Chàng vừa khoan, vừa móc mùn lên. Lát sau, ván thuyền thủng một lỗ nhỏ. Đỗ Lệ-Thanh nằm dài ra, ghé mắt nhìn xuống dưới. Quan sát một lát, mụ ngừng lại, lấy tay bịt lỗ rồi nói:

- Chủ nhân! Bên dưới có tới bốn mươi hàng ghế. Mỗi hàng chia làm hai dẫy, tổng cộng tám mươi ghế. Có tất cả ba trăm năm mươi người ngồi. Đông thực!

Mỹ-Linh tỏ vẻ không hài lòng:

- Phu nhân! Hãy lấy giấy bịt lỗ đó lại. Mình có nhiều truyện phải bàn.

Trước câu nói dịu dàng, uy nghiêm của Mỹ-Linh, Đỗ Lệ-Thanh líu ríu tuân theo. Mỹ-Linh hỏi:

- Đỗ phu nhân! Phu nhân mang theo bao nhiêu loại thuốc? Có thuốc tê, thuốc mê không?

Lệ-Thanh mỉm cười:

- Thưa công chúa, không thiếu thứ nào cả.

Thủy thủ mang cơm lên. Cơm canh khá thịnh soạn. Ba người ăn xong, leo lên dường nằm ngủ. Ba ngày trôi qua, ngửi hơi gió tanh tanh, Mỹ-Linh biết mình đang đi trên biển.

Chợt Thiệu-Thái chỉ ra ngoài cửa sổ. Mỹ-Linh nhìn theo: trên trời, hai con chim ưng bay lượn trên đầu một con thuyền buôn khác đang đi trước thuyền bang Hồng-hà khoảng vài dặm. Thiệu-Thái đặt nghi vấn:

- Không biết chim ưng hoang hay của Khu-mật viện. Con thuyền kia của ai? Chúng ta cho thuyền vượt lên ngang, quan sát mới biết được.

Ba người ra ngoài sàn thuyền đứng nhìn trời. Mỹ-Linh thấy tài công chính thiếu niên đón mình ban nãy, mà thuyền trưởng Vũ Hoàn giới thiệu y là con lão tên Vũ Ngọc. Nàng bảo y:

- Anh cho thuyền lướt mau lên một chút. Khi đi ngang thuyền kia, thì cho chạy chậm lại, song song với chúng.

Thiếu niên gật đầu. Y kéo mạnh hai sơi dây buồm. Con thuyền lập tức tăng tốc độ. Phút chốc đuổi kịp con thuyền trước mặt. Y nhìn con thuyền kia, nói sẽ:

- Thuyền kia của bang Đông-hải. Họ cũng làm nghề vận tải, song chạy đường Thăng-long, Thanh-hóa, Nghệ-an, Chiêm-thành, Chân-lạp, Xiêm-la.

Mỹ-Linh nhìn con thuyền bang Đông-hải, hỏi:

- Vũ huynh đệ. Sao người biết thuyền kia của bang Đông-hải?

Ngọc tỏ vẻ hiểu biết:

- Thưa tiểu thư, các thuyền chuyên chở đều vẽ hình, để thủy quân từ xa nhận được. Thuyền của Đại-Việt, trên hai bên mũi, vẽ con mắt cực lớn. Thuyền của Trung-quốc, vẽ vòng Bát-quái. Trên cột buồm cao nhất treo ba lá cờ. Một lá của quốc gia trên đỉnh cao nhất. Lá thứ nhì của bang, hội hay hãng buôn. Như con thuyền kia, chỏm có lá cờ Đại-Việt. Thấp hơn một chút có lá cờ mầu vàng, với hình mặt trời mọc. Ở giữa có hình con chim hải âu tung cánh.

Y chỉ lên cột buồm thuyền mình:

-- Còn như thuyền ta, trên đỉnh cũng treo cờ Đại-Việt. Cột thấp hơn treo cờ mầu xanh, có hình chim ưng tung cánh.

Mỹ-Linh được biết bang Đông-hải vốn thuộc chính phái. Bang trưởng tên Hùng Cơ. Gốc bang Đông-hải do các tướng thủy quân thời Lĩnh-Nam lập ra.

Nguyên sau khi vua Trưng tuẫn quốc, rồi đô đốc Trần Quốc, Tử-Vân, Giao Chi trước sau cũng bị hại. Chư tướng không chịu phục người Hán, chiếm cứ các đảo Đông-hải, tự lập thành bang. Nay vẫn sống ngoài vòng cương toả.

Người trên thuyền bang Đông-hải dơ tay vẫy. Vũ-Ngọc cũng vẫy tay lại. Thiệu-Thái thấy quả hai con chim ưng bay lượn trên trời hơi giống chim của Khu-mật viện do Bắc-biên cung cấp. Chàng chợt nhớ ra:

- Phải rồi, chim ưng kia của dì An-Quốc với phò mã Đào-cam-Mộc. Không biết hai vị đó cho chim theo dõi thuyền bang Đông-hải để làm gì? Trong thuyền có nhân vật nào kỳ lạ không?

Chàng bảo Vũ Ngọc:

- Người cho thuyền chạy sau thuyền bang Đông-hải khoảng một dặm.

Hai con thuyền, một trước, một sau, hướng về phía Đông. Bỗng từ phía hạ lưu, hai con thuyền cực lớn, dàn ra ngang sông. Mỹ-Linh chú ý, thấy trên cột buồm có lá đại kỳ, trên vẽ hình con rồng uốn khúc. Ở giữa có con chim âu tung cánh. Nàng biết đó là kỳ hiệu của thủy quân Đại-Việt

Một thủy thủ đứng trên đài, cầm cờ mầu đỏ phất qua phất lại, ngụ ý ra lệnh cho con thuyền của bang Đông-hải với con thuyền bang Hồng-hà ngừng lại. Hai con thuyền bang đang lướt sóng, cánh buồm lớn từ từ hạ xuống. Con thuyền chạy chậm hẳn lại. Khi còn cách chiến hạm hơn hai dặm, cánh buồm nhỏ quay ngược chiều, cản gió, làm con thuyền chậm dần, chậm dần rồi đứng lại. Một viên thủy thủ cầm loa nói vọng sang:

- Phiền thuyền quý bang ngừng lại. Chúng tôi được lệnh tuần tiễu, kiểm soát hành khách trước khi thuyền lên Bắc. Xin quý khách đâu ngồi nguyên đó, không chạy lộn xộn, để quan binh làm việc.

Dường như quen thuộc với nhiệm vụ. Hai chiến hạm kè song song với hai thuyền buôn. Năm thủy thủ cùng đẩy một tấm ván làm cầu, bắc ngang giữa chiến thuyền với thuyền mình.

Từ trên chiến thuyền, một đội quan binh hai mươi người, do viên đội trưởng chỉ huy, leo cầu tiến sang. Phía sau có năm người mặc quần áo theo lối văn quan. Mỹ-Linh nói nhỏ:

- Năm văn quan kia làm việc tại ty Thương-bạc, có nhiệm vụ thu thuế.

Thuyền trưởng dẫn đội thủy quân vào trong khoang kiểm soát thẻ bài hành khách. Trong khi đó năm viên Thương-bạc kiểm soát các bao hành lý. Khi kiểm đến Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, viên đội trưởng thấy nàng với Đỗ-lệ-Thanh đeo kiếm, y phóng một cái nhìn khắp người, rồi vẫy cho đám thủy thủ tiếp tục lui xuống dưới kiểm soát.

Đám thủy thủ đi rồi, nhanh như chớp, viên đội trưởng móc trong túi ra một ống tre nhỏ sẽ đặt vào tay Thiệu-Thái. Y dơ ngón tay như hành lễ, sau đó theo đồng đội xuống dưới khoang.

Thiệu-Thái đưa mắt cho Mỹ-Linh, rồi vào khoang thuyền, mở ống tre. Bên trong có mẩu giấy viết mấy chữ. Mỹ-Linh nhận ra bút tích của chú:

Bất cứ trường hợp nào cũng không được lộ hình tích. Tuyệt đối cấm xử dụng võ công. Chỉ trường hợp nguy đến tính mệnh mới được phản ứng. Có tin tức gì, sai chim ưng đưa thư. Ta phải dùng chim ưng của Vạn-hoa sơn trang, hầu đánh lạc hướng chúng .

Dưới vẽ bông sen, Mỹ-Linh biết đó là biểu hiệu của Khai-Quốc vương. Khi mới vào thuyền, Mỹ-Linh nhận cuốn trục do Đỗ Lệ-Thanh trao cho. Trong trục Khai-Quốc vương cho biết vương phi Khai-Thiên hiện bị bọn Tống áp tải bằng đường thủy về Trung-quốc. Vương biết rất rõ đường đi nước bước của chúng. Nếu muốn giải thoát, vương chỉ việc sai một chiến thuyền chặn bắt. Nhưng vương muốn dùng bà chị dâu lập một chút công lao với Đại-Việt, hầu Thuận-Thiên hoàng đế ban chỉ ân xá đặc biệt cho bà cái tội ô danh thất tiết. Như vậy mới cứu được Khai-Thiên vương.

Khi bà trên đường bị giải về Trung-nguyên, Khai-Quốc vương sẽ dùng người Khu-mật viện chuyển thư cho bà, dặn bà cách thức lừa bọn Tống đến một chỗ thực lạ đào kho tàng. Trong khi đó, nhóm Đại-Việt thản nhiên chở kho tàng về. Lệnh dặn Mỹ-Linh, Thiệu-Thái cứ đến Quảng-Nam lộ, rồi tới Khúc-giang. Tới đó, cơ sở Lạc-long giáo sẽ tiếp đón. Những trưởng lão Lạc-long giáo, cùng cao thủ phái Đông-a, Sài-sơn, Tiêu-sơn, cũng âm thầm tới sau.

Bây giờ Mỹ-Linh mới biết tại sao trên mấy con thuyền của bang Đông-hải lại có chim ưng của phò mã Đào Cam-Mộc. Nàng nhận thêm lệnh không được xử dụng võ công, ắt trên thuyền có gian nhân Tống. Cũng có thể vương mẫu cùng đi một thuyền.

Từ bên chiến hạm thứ nhì, ba người đeo kiếm tiến sang thuyền bang Hồng-hà. Mỹ-Linh nhận ra người già, gầy là Đông-Sơn lão nhân, người mập mập là Triệu Huy, và một người nữa trang phục theo lối thủy quân Việt. Nàng đưa mắt cho Đễ-lệ-Thanh với Thiệu-Thái, ngụ ý "phải cẩn thận". Bọn Triệu-Huy đi từng hàng ghế quan sát hết mọi hành khách, rồi lên sàn thuyền. Thấy bọn Mỹ-Linh, đã hoá trang thành một phụ nữ già, một thiếu phụ, một trung niên nam tử. Triệu-Huy đưa mắt cho viên võ quan. Viên võ quan hỏi Vũ Ngọc:

- Ba người này là ai?

Vũ Ngọc thản nhiên đáp:

- Họ gốc người Thăng-long, đáp thuyền sang Trung-quốc.

Viên võ quan tiến lại hỏi Đỗ Lệ-Thanh:

- Bà cho xem thẻ bài.

Đỗ Lệ-Thanh trình thẻ bài ra. Viên võ quan cầm lấy xem xét, rồi trao cho Triệu Huy. Y hỏi Mỹ-Linh, Thiệu-Thái:

- Ông bà tên gì? Bao nhiêu tuổi?

Mỹ-Linh đáp:

- Tôi họ Đỗ tên Linh, ba mươi tuổi. Còn người này là anh em cô cậu với tôi tên Thái Thân, ba mươi lăm tuổi.

Triệu Huy cầm thanh kiếm của Mỹ-Linh, Thiệu-Thái quan sát, rồi đưa mắt ra hiệu cho viên võ quan. Viên võ quan nói:

- Bản chức họ Đoàn tên Thông, chỉ huy hạm đội tuần tra các cửa biển cho đến Ngọc-sơn. Vì các vị có một vài vết nghi ngờ. Xin mời các vị sang chiến hạm để lấy khẩu cung.

Mỹ-Linh biết cạnh nàng, Đông-Sơn lão nhân cùng Triệu Huy đang theo dõi, nàng tránh nói nhiều. Chỉ cần sơ xuất một chút, có thể bị lộ hình tích, hỏng kế hoạch của Khu-mật viện. Nàng ra hiệu cho Lệ-Thanh, Thiệu-Thái tỏ ý không phản đối. Nàng hỏi lại:

- Chúng tôi có hành lý. Vậy mang theo hay để ở đây?

Triệu Huy đáp thay viên võ quan:

- Mang theo hết.

Ba người theo bọn Triệu Huy sang chiến hạm. Hai chiến hạm tách rời thuyền của bang Đông-hải, Hồng-hà, rồi kéo buồm hướng về phía Đông. Viên võ quan đưa ba người vào một khoang thuyền lớn. Y chỉ Triệu Huy:

- Vị này làm việc tại Khu-mật viện, được phái theo thủy quân, hầu tra xét, bắt một số gian nhân Tống sang Đại-Việt làm gian tế. Yêu cầu các người thành thực trả lời, nếu sai trái, chiếu luật chặt đầu.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

- Không biết bọn này giả thủy quân Đại-Việt hay chúng đánh chiếm chiến hạm Đại-Việt, rồi bầy ra trò này. Ta cứ im lặng, như người dân xem sao?

Triệu Huy hất hàm, một thủy thủ mở hành lý Mỹ-Linh ra khám. Trong túi hành lý của nàng chỉ có quần áo, ít tiền, vàng, bạc. Ngoài ra còn quyển kinh Lăng-già, do chính nàng chép tay.

Tên thủy thủ khám hành lý Thiệu-Thái, chúng cũng không tìm thấy gì hơn. Khám đến hành lý Đỗ Lệ-Thanh, y thấy có hơn năm mươi bình nhỏ đựng thuốc. Triệu Huy hỏi:

- Các người đáp thuyền bang Hồng-hà, định đi đâu?

Mỹ-Linh đáp:

- Chúng tôi vốn hành nghề thầy thuốc. Nay sang Tống học thêm.

- Người nói lạ. Hiện y học Đại-Việt thịnh hơn Tống, mà người lại sang Tống học ư?

Lệ-Thanh đáp thay Mỹ-Linh:

- Đành rằng y học Việt hơn y học Tống. Song mỗi nơi có một sở trường riêng. Chúng tôi cần học thêm hầu mở mang kiến thức.

Triệu Huy hỏi bằng tiếng Quan-thọai:

- Các người có biết tiếng Trung-quốc không, mà định sang học nghề thuốc?

Đỗ Lệ-Thanh cười thầm:

- Mi hỏi ta điều gì, chứ hỏi điều đó, thì thực ngu.

Bà đáp bằng tiếng Quảng:

- Dĩ nhiên chúng tôi biết nói, biết viết, mới dám di xa tìm thầy học chứ!

Triệu Huy nhìn viên võ quan lắc đầu, tỏ ý thất vọng:

- Đem bọn này theo, hay gọi thuyền Hồng-hà trả về?

- Giữ chúng lại, tránh lộ tung tích.

Triệu Huy nói:

- Các người đó nhiều điều khả nghi. Vì vậy bản chức giữ lại để điều tra thêm. Trong thời gian ở đây, ta giam các người dưới lòng chiến hạm. Các người sẽ phải phụ trách nấu bếp, lau chùi. Đợi sau chuyến tuần hành, ta sẽ thả các người ra.

Y gọi:

- Đội trưởng Đam đâu?

Một viên đội trưởng thủy quân bước vào, đứng chờ lệnh:

- Ta giao cho mi quản thúc ba người này. Cung cấp thực phẩm nuôi dưỡng đầy đủ, dùng họ vào việc bếp núc.

Đam vâng dạ, dẫn ba người đến trước cái cửa. Sau cửa hiện ra cầu thang xuống dưới lòng chiến hạm. Lòng chiến hạm không tối lắm, vì có nhiều cửa sổ. Y đẩy cửa, chỉ xuống dưới:

- Đây là lòng chiến hạm. Trong có mười phòng giam tù và một phòng công cộng. Các người ở phòng công cộng. Đừng tò mò vào mười phòng giam tù. Trái lệnh sẽ bị ném xuống biển. Các người ngủ ở dưới này. Khi có việc, ta sẽ gọi lên.

Nói rồi y đóng cửa lại. Thiệu-Thái theo cầu thang đi trước. Mỹ-Linh, Đỗ Lệ-Thanh theo sau. Thiệu-Thái dùng Lăng-không truyền ngữ nói vào tai Mỹ-Linh, Lệ-Thanh:

- Phải cẩn thận, chúng đang rình ta đó.

Mỹ-Linh nói lớn:

- Thủy quân thực lạ lùng. Chúng mình không có tội, mà sao lại bị giam thế này?

Lệ-Thanh vờ đáp:

- Họ nghi ngờ chúng ta làm gian tế cho Tống?

Thiệu-Thái hùa theo:

- Nếu nghi ngờ, sao không bắt tất cả mấy trăm người trên thuyền bang Hồng-hà?

Mỹ-Linh thở dài:

- Chắc chỉ chiều hay mai chúng mình sẽ được tha ra.

Lệ-Thanh kiếm chỗ sạch, cùng Mỹ-Linh, Thiệu-Thái vờ nằm ngủ. Nội công Thiệu-Thái rất cao. Chàng áp tai vào van thuyền, nghe rõ tất cả những âm thanh người ta nói ở phía trên. Nào âm thanh của thủy thủ nói truyện với nhau, nào âm thanh của đám tù nhân. Lại có âm thanh của Triệu Huy với viên hạm trưởng. Triệu Huy băn khoăn:

- Chúng ta canh phòng trên sông này, đến hôm nay đã mười ngày, như vậy chắc chúng nó không đi theo đường thủy. Phải báo cho vương gia biết, mà theo dõi đường khác.

Tiếng viên võ quan nói:

- Tin tức cho biết, chúng xuống chiến thuyền ở bến Tiềm-long, rồi lên bộ đi ngựa. Không lẽ chúng về Mê-linh thực?

Triệu Huy tiếp:

- Nhất định Khu-mật viện dính vào vụ này. Khi thấy Bình-Dương, Thiệu-Thái từ chiến hạm lên bờ Bắc sông Hồng đi Mê-linh. Đoàn do thám của Vương đại nhân theo bén gót. Đêm xông thuốc mê bắt được chúng. Sau khi khám xét, thì ra chúng không phải Thiệu-Thái, Bình-Dương. Thằng con trai thú nhận tên Thiệu-Cực, em Thiệu-Thái. Đứa con gái là tình nhân của nó. Hai đứa khai rằng chúng hoá trang thành Bình-Dương, Thiệu-Thái mục đích ăn cắp phổ, chưởng phổ cùng bản đồ kho tàng rồi trốn đi. Vương đại nhân cùng Đông-Sơn lão nhân luyện kiếm, chưởng thử, thấy không kết quả. Vì vậy vương gia mới truyền cho chúng ta bắt bằng được hai đứa nó, mới mong luyện thành.

Tiếng Đông-Sơn lão nhân nói:

- Trong chiến hạm này, chúng ta bắt oan đến hơn hai mươi người rồi. Thôi, liệu đến Ngọc-sơn thả họ ra cho rồi.

Tiếng Dư Tĩnh nói:

- Phải giết hết chúng để phi tang. Thả chúng ra, ắt chúng nói ầm lên. Khu-mật viện biết Dực-Thánh vương hành sự cho Thiên-triều thì nguy tai.

Bây giờ, Thiệu-Thái, Mỹ-Linh mới tỉnh ngộ:

- Thì ra thế. Hôm ở Thiên-trường về Thăng-long, mình đã thấy Dực-Thánh vương dùng chiến thuyền hỗ trợ bọn Tống. Mình cáo với cậu hai, nào ngờ ra cậu biết rồi. Cậu tâu lên ông ngoại. Đáng lẽ ông ngoại làm tội. Nhưng vì trong buổi giỗ Bắc-bình vương, ông ngoại ban chỉ đại xá thiên hạ. Tưởng như vậy Dực-Thánh vương ắt thôi, không dám đi với bọn Tống nữa. Đâu biết ngựa quen đường cũ, vương còn lộng hành, sai thủy đội hỗ trợ bọn Tống chống Khu-mật viện. Thế là công khai làm phản rồi.

Ba người nháy nhau, rồi ngủ đi lúc nào không hay. Bỗng có tiếng gõ cửa ầm ầm, rồi đội Đam vào trong khoang nói:

- Ba người đi học thuốc đâu, mau ra làm việc.

Bọn Mỹ-Linh tỉnh dậy, theo chân đội Đam ra ngoài, leo lên tầng thứ nhất. Một khoang khá lớn dùng làm bếp. Đội Đam nói:

- Các người phải giúp hoả đầu quân nấu bếp.

Có ít nhất hơn hai mươi thủy thủ phụ trách hoả đầu quân, tất cả đặt dưới quyền một trưởng bếp tên Triệu Tu. Mỹ-Linh liếc mắt nhìn Triệu Tu, gương mặt y vàng ủng, trông như người bị bệnh. Chợt nàng để ý thấy lưng y quen vô cùng, mà trong nhất thời không biết nàng đã gặp y ở đâu.

Chúng giao cho ba người làm cá. Đỗ Lệ-Thanh, Thiệu-Thái từng ra ngoài, việc làm cá tuy chưa trải qua bao giờ, nhưng ít ra cũng thấy đôi lần. Còn Mỹ-Linh đây là lần đầu tiên nàng làm cá. Tuy vậy, bản chất thông minh, lại khéo tay, chỉ liếc qua, nàng làm được ngay.

Mỹ-Linh đưa mắt nhìn ra, bốn bề mênh mông, nước biển xanh ngắt. Chiến thuyền của nàng đi thứ tư, ở giữa. Hai bên còn hai chiến thuyền đi kè song song. Phía sau còn năm cặp, phía trước cũng năm cặp chiến thuyền nữa đi hàng đôi. Nàng nhủ thầm:

- Phải rồi, đây là một thủy đội. Mỗi thủy đội có mười hai chiến hạm, và một soái hạm. Dường như thủy đội này đang đi về phía Bắc.

Trên cột buồm, hai con chim ưng đậu cạnh nhau. Mỹ-Linh cười thầm:

- Chú hai thực tinh tế. Nếu người dùng chim ưng của Khu-mật viện, e Dực-Thánh vương biết. Người dùng chim ưng của Vạn-hoa sơn trang, ai cũng tưởng chim hoang. Được, ta phải dấu mấy cục than, hầu viết thư cho chú hai.

Đỗ Lệ-Thanh dùng Lăng-không truyền ngữ nói với Mỹ-Linh:

- Công chúa, nếu công chúa muốn, tiểu tỳ bỏ chút thuốc độc vào chum nước, ắt chúng mê man hết.

Mỹ-Linh dùng Lăng-không truyền ngữ trả lời:

- Không nên. Trong chiến thuyền này, ít ra hơn ba trăm thủy thủ. Nếu họ đều bị đánh thuốc mê hết, ai là người lái thuyền? Ai là người căng buồm?

Sau khi làm bếp xong, đám thủy thủ cho ba người ăn rất tử tế, rồi đội Đam đem giam xuống khoang thuyền. Đỗ Lệ-Thanh dùng Lăng-không truyền ngữ nói nhỏ:

- Thế nào chúng cũng theo dõi mình. Vậy mình không nên có hành vi gì cho chúng nghi ngờ. Tạm thời ngủ đã.

Mỹ-Linh bàn nhỏ:

- Tôi thấy dường như thủy thủ không biết gì về việc làm ám muội của Dực-Thánh vương với bọn Tống. Họ cứ tưởng chúng ta phạm pháp. Vì vậy, nếu phải ra tay, chẳng nên đả thương họ.

Ba người nằm xuống ngủ ngay. Hôm sau, tiếng chim hải âu kêu trên biển, khiến ba người tỉnh giấc. Nhìn qua cửa sổ ra ngoài, Mỹ-Linh thấy thuyền đậu trên một bãi biển. Nàng nhận ra bãi biển Ngọc-sơn. Vì năm trước, nàng đã có dịp theo Khai-Quốc vương duyệt thủy quân ở đây một lần.

Ba người ở dưới hầm thuyền hơn ngày, thuyền lại ra khơi. Lệ-Thanh bàn:

- Tối nay chắc chúng không theo dõi mình nữa đâu. Mình thử tìm cách xem mười phòng này chúng giam những ai?

Ba người tiến tới phòng giam đầu tiên. Mỹ-Linh gõ cửa mấy cái. Thiệu-Thái hỏi vọng vào:

- Ai bị giam trong này?

- Ai hỏi đó?

Tiếng nói rất quen. Thiệu-Thái đáp:

- Tôi cũng bị giam, nhưng được ở phòng phía ngoài.

Người bên trong nói:

- Tôi bị đánh thuốc mê, rồi khi tỉnh dậy, thấy bị giam ở đây. Chân tay bị khoá bằng xích. Đây là đâu?

Thiệu-Thái tường thuật tỷ mỷ những gì ở trên thuyền cho người đó. Trong khi ấy Mỹ-Linh gõ cửa phòng thứ nhì. Nàng hỏi vọng vào, mà trong phòng không có tiếng trả lời. Nàng hỏi nữa, thì giọng phụ nữ, nói tiếng Quảng:

- Tôi không có tội gì cả. Tôi người Khúc-giang, sang Đại-Việt buôn bán. Trên đường từ Khâm-châu đi Thăng-long thì bị bắt giam. Họ không nói cho biết tôi bị tội gì.

Chương 13: Trên Vịnh Hạ-long

Trên vịnh Hạ-long - -

Mỹ-Linh gõ cửa phòng thứ ba, một giọng nói quen thuộc vọng ra:

- Ai đó?

Rõ ràng tiếng Lê Thiếu-Mai, con gái Hồng-Sơn đại phu. Mỹ-Linh hỏi nhỏ:

- Có phải cô nương Thiếu-Mai không?

Thiếu-Mai giật bắn người lên:

- Cô là ai?

Biết rằng mình ngậm thuốc của Đỗ Lệ-Thanh, tiếng đổi đi, thành ra Thiếu-Mai không nhận được. Mỹ-Linh nói lảng:

- Chúng tôi đã được cô nương trị bệnh cho ở Vạn-thảo sơn trang.

Thiếu-Mai trị cho hàng ngàn, hàng vạn người, làm sao nhớ hết. Nàng hỏi lại:

- Tiểu cô nương tên gì?

- Tôi già rồi, tôi họ Đỗ tên Linh-Mỹ.

- Đỗ phu nhân, đây là đâu vậy?

Mỹ-Linh nói nhỏ:

- Chúng ta bị giam ở trong một chiến hạm của Đại-Việt bị bọn Tống cướp mất. Chiến hạm đang đậu ở Ngọc-sơn. Tại sao cô nương bị giam ở đây?

- Tôi không biết tại sao nữa. Tôi đang từ Thăng-long đáp thuyền ra biển. Đêm ngủ, khi tỉnh dậy, thấy mình bị giam trong phòng này.

- Cô nương bị giam mấy ngày rồi?

- Tám ngày tất cả.

- Họ có thẩm vấn cô nương không?

- Không! Họ đưa mực, bút bảo tôi viết thư về cho bố tôi. Họ dặn muốn viết gì thì viết. Tôi viết thư trao cho họ. Hôm qua, họ đưa ra ba trang sách bằng chữ Khoa-đẩu, bắt tôi dịch sang Hán văn. Tôi dịch rồi.

- Cô nương có nhớ nội dung mấy trang sách đó không?

- Nhớ! Theo tôi biết, ba trang này rời rạc, không liên tiếp nhau. Tuy vậy tôi cũng biết trong đó dạy hành binh bố trận.

- Cô nương chỉ bị giam thôi, hay còn bị cùm nữa?

- Tôi bị cùm hai chân, khó cử động lắm. Phu nhân giải cứu cho tôi. Nguyện không quên ơn.

- Giải cứu thì được rồi, có điều võ công chúng tôi thấp lắm, không biết mình cô nương địch lại bọn họ không?

Thiệu-Thái nghe có tiếng bước chân lại gần cửa phòng. Chàng suỵt một tiếng, rồi cùng Mỹ-Linh nằm dài ra ván. Cánh cửa mở, mấy thủy thủ mang cơm vào cho tù nhân ăn. Họ không quan tâm đến bọn Mỹ-Linh. Thì ra dưới hầm chỉ có ba tù nhân với bọn Mỹ-Linh nữa thành sáu.

Mỹ-Linh vờ hỏi đội Đam:

- Này ông đội trưởng! Bao giờ chúng tôi được tha ra?

Đội Đam lắc đầu:

- Tôi không biết nữa. Tôi phụ trách hỏa đầu quân, cùng trông coi tù.

Nàng vờ hỏi:

- Đây là đâu? Bao giờ thuyền về Thăng-long?

- Tôi không được quyền nói. Đêm nay thuyền nhổ neo hướng lên Bắc. Có lẽ tiến về biên giới. Mỗi chuyến tuần biển như thế này ít ra hơn tháng.

Chiều hôm đó, thuyền nhổ neo ra khơi. Vào khoảng giờ Thân, cánh cửa hầm lại mở. Triệu Huy cùng với viên thuyền trưởng tên Trịnh Sơn xuất hiện. Chúng đem người đàn ông, đàn bà đi. Lát sau trở lại, chúng mở cửa phòng Thiếu-Mai, nói vọng vào:

- Công chúa! Mời công chúa rời khỏi nơi đây. Chủ nhân của tôi muốn thưa truyện với công chúa.

Thiếu-Mai nhận ra Triệu Huy, nàng kinh ngạc:

- Triệu an phủ sứ! Tại sao người cũng có mặt ở đây? Đây là đâu?

Triệu Huy tỏ vẻ kính cẩn:

- Ty chức biết công chúa bị nạn, nên đến đây giải cứu.

Đội Đam tiến đến mở gông chân cho nàng. Tuy bị giam mấy ngày, mà nhan sắc Thiếu-Mai vẫn đẹp. Cái đẹp tươi hồng của người khoẻ mạnh.

Thiếu-Mai nói với Triệu Huy:

- Này Triệu an phủ sứ. Tôi chỉ là con gái một thầy thuốc, chứ không phải công chúa, quận chúa gì cả.

Nàng chỉ bọn Mỹ-Linh:

- Ba người này từng tới sơn trang trị bệnh. Họ vốn thuộc lương dân. Tôi yêu cầu an phủ sứ thả họ ra ngay.

Triệu Huy lắc đầu:

- Ty chức nhận lệnh giải cứu công chúa, chứ không được can thiệp vào việc của Giao-chỉ. Hiện công chúa đang ở trên chiến hạm Giao-chỉ. Chiến hạm này tuân lệnh của Khu-mật viện bắt giam công chúa. Bình-Nam vương được tin, gửi thư thống mạ tên Lý Công-Uẩn. Vì vậy Uẩn cho người theo ty chức đến đây bắt phóng thích.

Mỹ-Linh nghe Triệu Huy nói láo quá, nàng không chịu được, định vung chưởng tát y. Nhưng Thiệu-Thái đoán được ý nàng. Chàng đưa mắt ngỏ ý can ngăn.

Thiếu-Mai không tin:

- An-phủ sứ nói sai rồi! Tôi không tin Khai-Quốc vương làm truyện đó. Phụ thân tôi đang trợ giúp Vương đắc lực, Vương ngu gì mà giam tôi? Chẳng hóa ra mình tự hại mình sao? Mà dù phụ thân tôi có chống Vương, bản chất anh hùng Vương cũng không làm truyện đó. Lại nữa, Vương làm bất cứ việc gì cũng hỏi ý kiến chị Thanh-Mai. Mà chị Thanh-Mai vừa là cháu, vừa là đệ tử yêu nhất của bố tôi, đời nào chị ấy nỡ hại tôi?

Nghe Thiếu-Mai biện hộ cho chú mình, Mỹ-Linh muốn chạy lại ôm lấy nàng, để tỏ lòng biết ơn, nhưng nàng kiềm chế lại được.

Nàng khẳng định:

- An-phủ sứ ạ! Người có thể nói mặt trời mọc phương Tây, quạ bạc đầu, ngựa mọc sừng... tôi còn thể tin, chứ nói Khai-Quốc vương bắt giam tôi, tôi không tin.

Triệu Huy không ngờ Thiếu-Mai lại lý luận giỏi đến thế. Y nói lảng:

- Mời công chúa lên gặp chủ nhân của tôi.

- Là ai?

- Phụ-quốc thái-úy tổng đốc quân mã, quản Khu-mật viện, Bình-Nam vương nhà đại Tống.

Thiếu-Mai hỏi lại:

- Ông Triệu Thành cầu kiến với Lê Thiếu-Mai, tôi gặp ông ta. Còn như Bình-Nam vương tuyên triệu Lê Thiếu-Mai thì không được đâu! Tôi không đi.

Triệu Huy biết cô thiếu nữ Việt này không vừa, y nói lại:

- Dù thế nào chăng nữa, chủ nhân tôi cũng đã giải cứu công chúa. Chủ nhân tôi muốn gặp công chúa.

Đỗ Lệ-Thanh bước đến trước mặt Thiếu-Mai, bà đưa cho Thiếu-Mai cái khăn ướt:

- Tiểu thư hãy lau tay, lau mặt cho sạch sẽ đã.

Thiếu-Mai cầm khăn lau mặt. Khi đưa khăn lên mũi, nàng thoáng thấy mùi thơm kỳ lạ, không phải mùi nước hoa, cũng không phải mùi son phấn. Thừa hưởng kiến thức y khoa từ phụ thân. Nàng từng ngửi hàng ngàn thứ hoa, cùng cây cỏ. Nhưng sau khi bị xông thuốc mê, bị giam tám ngày liền, bực tức, mệt mỏi, làm đầu óc kém sáng suốt, nàng không nhận ra mùi gì.

Lau tay xong, Thiếu-Mai không coi Triệu Huy vào đâu, nàng bước đi trước. Triệu Huy cùng đội Đam đi sau.

Mỹ-Linh bàn:

- Dù chú hai dặn không được xử dụng võ công. Nhưng trường hợp này không thể nín nhịn nổi. Chúng ta thử dò thám xem, bọn chúng định làm trò gì?

Thiệu-Thái dùng con dao đưa vào kẽ cửa khẽ nậy. Then cửa từ từ mở ra. Ba người rời hầm, cài then cửa, rồi vọt lên nóc thuyền. Mỹ-Linh nhìn ra xa, đội hình của hạm đội vẫn không đổi. Gió lùa vào cánh buồm căng no. Sóng biển rì rào vỗ vào mạn thuyền. Nàng đưa mắt nhìn sang trái, xa xa, trong lục địa, một vài ánh sáng leo loét, chứng tỏ thuyền không xa bờ làm bao.

Như đã phân chia, Đỗ Lệ-Thanh núp vào đống dây canh gác phía sau. Thiệu-Thái vọt mình lên cột buồm quan sát phía trước. Còn Mỹ-Linh lần theo mạn thuyền lại chỗ có ánh sáng chiếu ra. Nàng móc chân lên mạn thuyền, lộn ngược đầu xuống, ghé mắt nhìn qua khe hở của sổ dòm vào.

Bên trong, bọn Triệu Thành, không thiếu một người nào, đang ngồi trước bàn tiệc. Ngoài ra còn Dực-Thánh vương. Cạnh vương, một người to béo, mặc quần áo theo kiểu nông dân. Nàng kinh hãi tự nghĩ:

- Không biết Dực-Thánh vương tuân chỉ triều đình, hộ tống bọn Triệu Thành hay tự ý? Nếu ông ấy tuân chỉ, thì chỉ mượn cớ thi hành mệnh lệnh, rồi trợ giúp bọn Tống. Còn trường hợp tự ý thì vương công khai phản triều đình rồi?

Có tiếng nói vọng vào:

- Khải tấu vương gia, có công chúa Thiếu-Mai chờ chỉ dụ.

Cánh cửa mở, Thiếu-Mai bước vào. Tuy bị giam cầm, đầu bù tóc rối, nhưng nàng vẫn đẹp. Từ dáng đi, cho tới nét mặt, đều tỏa ra vẻ khoan thai, nhẹ nhàng. Triệu Thành đứng dậy chắp tay hành lễ:

- Tiểu vương xin tham kiến công chúa điện hạ.

Y kéo ghế mời Thiếu-Mai ngồi. Thiếu-Mai nghĩ thầm:

- Trong khi ta chưa biết sự thực ra sao, mà bọn này dùng lễ tiếp ta. Ta cũng phải tỏ ra ôn nhu với chúng. Nàng thản nhiên ngồi xuống:

- Tiểu nữ đa tạ vương gia.

Nàng quay sang hỏi Dực-Thánh vương:

- Vương gia, chiến hạm này phải chăng của Đại-Việt ta? Vương gia hiện lĩnh chức đại đô đốc thống lĩnh thủy quân, vậy chiến hạm này có thống thuộc quyền của Vương gia không?

Dực-Thánh vương không ngờ Thiếu-Mai nhận được mặt mình. Vương hơi thoáng vẻ bối rối:

- Đúng như lời cô nương nói.

Thiếu-Mai giận dữ:

- Tiểu nữ trên thuyền từ Thăng-long vượt sông Hồng ra biển. Đang đêm bị xông thuốc mê, giam ở hầm tối trong chiến hạm này đã tám ngày. Xin Vương gia cho tiểu nữ biết, tiểu nữ phạm tội gì?

Dực-Thánh vương chưa biết trả lời sao, Triệu Thành đáp thay:

- Người ra lệnh bắt giam cô nương chính Lý Long-Bồ, tước phong Khai-Quốc vương. Chân tay của y xông thuốc mê bắt cóc cô nương. Viên thủy sư đề đốc hạm đội Âu-Cơ nhận lệnh làm vụ đó. Tiểu vương biết được, viết thư thống mạ Lý Công-Uẩn. Vì dưới mắt tiểu vương, chỉ lệnh tôn mới xứng đáng thừa kế nghiệp nhà Lê, làm hoàng đế Đại-Việt, nên coi cô nương như công chúa. Cớ sao y để con y lộng quyền như vậy? Công-Uẩn kinh hãi, vội sai Dực-Thánh vương tạ lỗi với tại hạ, rồi đi cùng tại hạ, đến đây đòi cô nương.

Thiếu-Mai đã có vẻ hơi tin Triệu Thành. Nàng nghĩ thầm:

- Không chừng Lý Long-Bồ làm thực cũng nên. Để ta thử cật vấn lại xem sao.

Nàng đưa mắt nhìn, thấy viên võ quan thủy quân ngồi cạnh Dực-Thánh vương. Nàng hỏi:

- Phải chăng đại nhân họ Đoàn tên Thông, lĩnh chức thủy sư đề đốc hạm đội Động-đình này?

Đoàn Thông gật đầu:

- Quả đúng như cô nương nói.

Thiếu-Mai nhìn thẳng vào mặt y:

- Xin đề đốc cho biết, chính đề đốc nhận lệnh từ Khai-Quốc vương hay nhận lệnh từ ai, để bắt tiểu nữ?

Dáng người Đoàn Thông gầy, mũi hơi hếch lên, mày rậm, môi cong, mặt dài. Nghe Thiếu-Mai hỏi, y đáp:

- Bản chức không bắt cóc cô nương. Bản chức tuy làm đề đốc, coi hạm đội Động-đình, nhưng dưới quyền Vương gia đây. Bản chức được thượng cấp gửi cô nương, giam dưới hầm chiến hạm mà thôi. Người bắt cô nương là ai, bản chức không biết. Xin cô nương thỉnh Vương gia thì hơn.

Thiếu-Mai hiểu ngay. Nàng chửi thầm:

- Như vậy ta hiểu rồi. Dực-Thánh nhận lệnh triều đình hộ tống bọn Triệu Thành về nước. Y xử dụng hạm đội Động-đình. Y cùng bọn Triệu Thành bắt cóc ta, mưu sự gì đây. Y nói dối Đoàn rằng ta là tù nhân, gửi Đoàn giam ta.

Thiếu-Mai cười nhạt:

- Đa tạ đề đốc.

Nàng nhìn Triệu Thành cùng Dực-Thánh vương cười nhạt, tỏ vẻ khinh bỉ:

- Này Triệu vương gia, Dực-Thánh vương! Về tuổi tác, tôi thua các vị xa. Về võ công, tôi lại càng không phải đối thủ của các vị. Các vị tước tới vương, danh vang Hoa-Việt. Song các vị chủ quan, khinh thường tôi quá. Các vị xông thuốc mê, bắt tôi để dịch sách cho các vị thì cứ nói thẳng ra có được không? Tại sao lại đổ cho Khai-Quốc vương?

Địch Thanh đứng dậy nói:

- Dù gì chăng nữa, cô nương cũng đang ở trong tay chúng tôi. Cô nương nên tự hiểu. Nếu bây giờ, tôi cho cô nương một đao, ném xác xuống biển, dù Hồng-Sơn đại phu có bản lĩnh nghiêng trời lệch đất cũng không cứu được cô nương đâu.

Thiếu-Mai vẫn giữ vẻ bình tĩnh:

- Địch trạng nguyên, bất cứ ai cũng có thể nói được câu đó, trừ người. Dù gì người cũng đoạt võ trạng Đại-Tống, ắt võ đạo phải cao lắm. Võ đạo Hoa-Sơn có cho phép người đe dọa ta không?

Thình lình nàng chụp chung nước trà trước mặt ném vào Địch Thanh. Địch-Thanh vung tay bắt. Khi cái chung sắp tới trước mặt y, Thiếu-Mai chĩa ngón tay chỏ một cái, chỉ lực phát ra, tiếng bốp vang lên, cái chung vỡ tan tành. Địch Thanh bắt hụt. Y vội cúi đầu xuống, cho mấy mảnh sành bay qua, rơi xuống phía sau:

- Dù võ công người cao đến đâu, võ đạo Lĩnh-Nam không cho bản cô nương khuất phục người.

Nàng quay lại hỏi Đoàn Thông:

- Đoàn đề đốc. Đề đốc được cử chỉ huy hạm đội Động-đình, tuần phòng lãnh hải, bảo vệ lương dân. Thế mà ngay trên chiến hạm của hoàng gia, bọn Tống cướp nước công khai đe dọa, nhục mạ lương gia phụ nữ. Đề đốc nghĩ sao?

Đoàn Thông làm đề đốc, dưới quyền Dực-Thánh vương. Từ mấy hôm nay, y được lệnh Vương đem hạm đội tuần hành từ Thiên-trường tới ranh giới Hoa-Việt. Việc tuần hành như vậy, thường mỗi tháng một lần. Nhưng lần này sớm hơn dự liệu mười ngày. Vương giải thích rằng trong chuyến đi, hạm đội phải hộ tống sứ đoàn Tống về nước. Chính Vương tháp tùng sứ đoàn. Lệnh còn nói rõ, phải thù thiếp sứ đoàn cực kỳ chu đáo.

Hạm đội khởi hành từ bến Tiềm-long. Dực-Thánh vương cùng mấy gia tướng được đón vào soái hạm, không thấy sứ đoàn đâu. Đoàn thắc mắc, vương trả lời rằng sứ đoàn sẽ xuống hạm dọc đường. Khi hạm đội đi nửa đường, Dực-Thánh vương chỉ vào một thuyền buôn khách trú, truyền lệnh cho Đoàn kè chiến hạm vào đón sứ đoàn.

Sau khi sứ đoàn xuống thuyền, Triệu Thành truyền gửi y giam ba người bị đánh thuốc mê. Trong đó có Thiếu-Mai. Dọc đường Thành luôn ra lệnh cho Dực-Thánh vương đón đường khám xét thuyền buôn Đại-Việt. Thông kinh ngạc không ít. Y đã từng tống tiễn sứ đoàn nhiều lần. Dọc đường sứ đoàn không có bất cứ quyền hành gì trên đất Việt. Thế mà Triệu Thành ra lệnh bắt giam người, khám xét thuyền buôn, làm y nảy ra mối bất mãn.

Bây giờ tới vụ, người bị bắt cóc, chính là con gái Hồng-Sơn đại phu, một người y đã từng thọ ơn cứu mệnh. Rồi bọn sứ đoàn còn đe dọa nàng nữa, nàng dùng đại nghĩa trách cứ Thông, khiến y không nhịn được. Y liếc nhìn Dực-Thánh vương. Vương lắc đầu tỏ ý im lặng.

Dư-Tĩnh cười nhạt:

- Võ đạo hay không võ đạo, Dư mỗ bất cần. Dư mỗ chỉ yêu cầu cô nương dịch cho bộ sách này từ văn tự Khoa-đẩu sang Hoa-văn. Sau đó, mỗ sẽ trả cô nương về với phụ thân. Bằng không mỗ sẽ rạch mặt cô nương ra, bôi thuốc vào, trên mặt cô nương sẽ có mấy vết dài, cực kỳ xấu xa.

Đoàn Thông phất tay:

- Dư an phủ sứ! Bản chức được lệnh hộ tống, thù tiếp sứ đoàn. Hai nhiệm vụ đó bản chức đã chu toàn. Trên chiến hạm này thuộc lãnh địa Đại-Việt, bản chức quyết không để An-phủ sứ đe dọa lương gia thiếu nữ đâu.

Triệu Thành đưa mắt nhìn Dực-Thánh vương. Vương nói với Thông:
- Đoàn đề đốc. Cô gia trách nhiệm tất cả những việc tại đây. Đề đốc có thể rời khỏi khoang thuyền này.

Đoàn Thông đành cúi đầu hành lễ với Dực-Thánh vương, rồi ra khỏi phòng.

Dư Tĩnh cười đắc thắng:

- Lê tiểu thư! Đây là cuốn sách viết bằng chữ Khoa-đẩu, xin Lê tiểu thư dịch sang Hán văn cho. Anh em tại hạ nguyện báo đáp.

Nói rồi y đem đến trước Thiếu-Mai tập sách. Thiếu-Mai liếc nhìn qua, thấy trên bìa đề chữ Lĩnh-Nam vũ kinh, bảo quốc trấn Bắc, bình Nam. Nàng nghĩ thầm:

- Suốt bao năm nay, võ lâm Hoa-Việt nổi lên những cơn phong ba vì bộ võ kinh này đây. Ai cũng ước ao tìm thấy nó. Tìm thấy nó, sẽ trở thành anh hùng vô địch. Chỉ có Đại-Việt Ngũ-long tự trọng, tự tin, nên không dự, vào tranh chấp. Vừa rồi nghe nói công chúa Bình-Dương cùng Bảo-Hòa, Thanh-Mai và bọn Triệu Huy tìm ra trong hầm đá. Bọn Huy sai Quách Quỳ chép lại. Bình-Dương học thuộc làu, rồi đọc yếu quyết cho Bảo-Hòa luyện Phục-ngưu thơần chưởng. Còn Bình-Dương luyện Long-biên kiếm pháp, mà thành vô địch. Bây giờ bọn này muốn ta dịch sang Hoa-văn cho chúng đây. Đã vậy ta dịch sai cho bõ ghét. Hay thình lình hủy bộ sách đi, bằng không bọn chúng luyện thành, đem quân sang đánh Đại-Việt e nguy tai!

Vương Duy-Chính như đọc được ý nghĩ của Thiếu-Mai. Y móc trong bọc ra một bộ sách, y hệt bộ trong tay Thiếu-Mai:

- Lê cô nương. Dù cho cô nương hủy bộ sách trong tay cô nương, chúng tôi cũng còn nhiều bộ khác.

Thiếu-Mai đưa mắt nhìn Quách Quỳ:

- Quách công tử còn nhỏ tuổi, mà đã thâm trầm hiếm có. Quả thực xứng đáng con giòng cháu giống, đệ tử danh gia.

Câu nói của Thiếu-Mai chỉ mình Quách Quỳ hiểu mà thôi.

Nguyên ông nội Quách Quỳ tên Quách Quân-Biện, làm đại tướng quân dưới thời Tống Thái-tông. Thái-tông sai đem quân sang đánh vua Lê Đại-Hành. Quân-Biện bị bắt làm tù binh. Trong thời gian bị giam, y nghe nói đến bộ Lĩnh-Nam vũ kinh. Trong lòng y nảy ra niềm hy vọng: Nếu một mai tìm ra, luyện thành bản lĩnh vô địch, ắt trả được mối nhục bị cầm tù. Vì vậy y học tiếng Việt cùng chữ Khoa-đẩu. Khi được tha về, y dạy lại cho con cháu, di chúc rằng cố sao sang Đại-Việt tìm bộ kinh thư cổ.

Duyên may, Quách Quỳ được thu làm đệ tử chùa Thiếu-lâm. Chưởng môn nhân giao Quỳ cho Triệu Anh dạy. Triệu Anh nghe Quách Quỳ thuật truyện tổ tiên. Y ghi trong lòng. Khi y được cử làm quan võ, phục vụ trong Khu-mật viện, y hiến phương lược đánh Đại-Việt cho Triệu Thành. Trong đó có việc tìm bộ Lĩnh-Nam vũ kinh. Vì vậy Triệu Thành sai nhiều toán tế tác sang Đại-Việt dò la.

Giữa lúc đó Đinh Toàn đến xin Tống đem binh về dành lại ngôi vua. Triệu Thành hỏi về bộ Lĩnh-Nam vũ kinh. Đinh Toàn đem chiếc áo của vua Đinh Tiên-Hoàng ra cho Thành. Thành hứa giúp Toàn đòi lại ngôi vua. Thành đem một lực lượng cao thủ mượn đường đi sứ Chiêm, qua Đại-Việt, mưu đồ chiếm kinh thư. Thành truyền Triệu Anh mang Quách Quỳ theo, vì Quỳ biết chữ Khoa-đẩu, cùng tiếng Việt.

Bọn Triệu Huy tìm thấy kinh thư trong hầm đá. Quách Quỳ nảy ra ý muốn độc chiếm. Đợi sau khi luyện thành bản lĩnh nghiêng trời lệch đất rồi, y không cần sư phụ nữa. Nên y dối sư phụ, nói chỉ biết rất ít chữ Khoa-đẩu, chép thì được, chứ không đủ khả năng địch.

Triệu Anh sai nó chép lại. Tuy không biết chữ, nhưng Triệu Anh vốn cẩn thận. Cứ mỗi khi Quỳ chép xong một trang. Y trông hình dạng chữ, so lại một lượt với các bia đá. Vì vậy Quách Quỳ không dám chép sai.

Tuy qua mặt được sư phụ, nhưng Quỳ vẫn lo lắng. Vì chữ Khoa-đẩu vốn tượng thanh. Chỉ cần học ba tháng thôi cũng đủ đọc được. Khi đọc lên, người nào biết tiếng Việt cũng hiểu hết. Nay gặp Thiếu-Mai, bọn chúng muốn ép nàng dịch. Vốn thông minh, nàng hiểu ngay ý Quàch Quỳ. Vì vậy nàng nói một câu, ngụ ý khen nó. Nó kinh hoàng, sợ nàng nói toẹt ra âm mưu, e tính mệnh nó khó toàn.

Nó nói một câu lấy lòng nàng, ý nhắn nhủ "Xin cô nương thương tình":

- Tiểu nhân kiến thức hủ lậu, lại xa song thân từ lâu, rất mong tiểu thư đoái tưởng, coi như bậc con cháu che chở cho.

Thiếu-Mai gật đầu:

- Quách công tử sao khách sáo quá.

Quách Quỳ vẫn còn run sợ, y đến trước Thiếu-Mai lạy phục xuống đất:

- Xin tiểu thư nhận ba lễ này, coi như tiểu thư ban cho cháu một kiếp mới.

Triệu Thành, Triệu Anh đều kinh ngạc không ít. Vì từ hôm sang Đại-Việt, lúc nào Quỳ cũng hống hách, coi người Việt như thứ man mọi. Không hiểu sao nay nó lại xử sự cực kỳ lễ độ với Thiếu-Mai. Thành, Anh lại tưởng Quỳ muốn Thiếu-Mai dạy thêm về chữ Khoa-đẩu, nên không cấm cản y.

Thiếu-Mai để cho Quỳ hành đại lễ xong. Nàng mỉm cười:

- Quách công tử thực đa lễ.

Nàng nghĩ thầm:

- Dụng tâm của thằng nhỏ này không tầm thường. Trong khi bọn Triệu Thành lại tưởng rằng cài Quỳ bên cạnh ta hầu dò xét. Được! Lê cô nương cho bọn bay biết tay.

Nàng nói với Triệu Thành:

- Xin Triệu vương gia để cho Quách công tử giúp đỡ tôi trong việc dịch sách này nên chăng?

Triệu Thành không ngờ Thiếu-Mai lại nhận lời dễ dàng như vậy. Nàng còn muốn có Quách Quỳ ở cạnh giúp đỡ, là điều Thành cầu mà không được. Y nói:

- Cô gia dành cho cô nương một khoang thuyền thoáng khí, ở trên cao nhất. Khoang cạnh đó, dành cho Quỳ. Y được phái để phục thị cô nương.

Từ đầu đến cuối, Minh-Thiên ngồi bất động, bây giờ ông mới lên tiếng:

- Lê cô nương. Cô nương thử lược dịch một đoạn sách này, cho mọi người được kiến thức võ công thời Lĩnh-Nam.

Văn tự Khoa-đẩu vốn tượng thanh. Nàng chỉ cần đọc lên, lập tức Dư Tĩnh, Vương Duy-Chính hiểu ngay vì bọn chúng đều biết tiếng Việt. Nhưng làm như vậy, chẳng khác gì giết Quách-Quỳ.

Nàng lật trang đầu, nói:

- Tôi xin lược dịch bài tựa.

Nàng ngẫm nghĩ:

- Kiến thức võ công bọn ngày không tầm thường. Mình muốn đọc sai đi, e chúng biết liền. Chi bằng mình cứ đọc nguyên văn.

Nàng ngắm nghía, suy nghĩ rồi đọc:

Lĩnh-Nam vũ kinh,

bảo quốc, trấn Bắc bình Nam.

Chủ biên:

Đại tư đồ, tước phong công chúa Nguyệt-Đức Phùng Vĩnh-Hoa.

Đại tư mã, tước phong Bắc-bình vương Đào Kỳ.

Tể-tướng Nguyễn Phương-Dung.

Bản số 9, dành cho phái Cửu-chân.

Bọn Triệu Thành đưa mắt nhìn nhau gật đầu. Thiếu-Mai mở qua mấy trang, đến chỗ chép Phục-ngưu thần chưởng. Nàng đọc:

"... Phục-ngưu thần chưởng, thủy do tổ sư phái Tản-viên phò mã Sơn-Tinh chế ra, gồm có ba mươi sáu chiêu dương. Khi vua An-Dương khởi binh đánh vua Hùng, phò mã Sơn-Tinh đấu với Vạn-tín hầu Lý Thân trên ba trăm chiêu bên bờ sông Hắc-long-giang bất phân thắng bại. Cuối cùng Vạn-tín hầu dùng Long-biên kiếm pháp đánh bại phò mã Sơn-Tinh. Tuy thắng đối thủ, nhưng ngài vẫn phục pho chưởng pháp huyền diệu. Nhân đó chế ra ba mươi sáu chiêu Phục-ngưu âm nhu".

Nàng bỏ qua một đoạn, đọc tiếp:

"...Phương pháp luyện chiêu Ác-ngưu nan độ"

Nàng đọc đến đâu, bọn Triệu Thành vận khí luyện đến đó.

Bên ngoài Mỹ-Linh chú ý thấy duy Đông-Sơn lão nhân thủy chung nhắm mắt luyện công, không xen vào những gì trước mắt. Chợt một âm thanh nhẹ nhàng dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai nàng:

"Công chúa Bình-Dương. Phải cẩn thận lắm. Qui tức như vậy, nhờ sóng biển, qua mặt mọi người. Coi chừng lát nữa hết gió, Minh-Thiên khám phá ra ngay."

Nàng giật mình. Vì với nội công qui tức của mình, may ra Thiệu-Thái khám phá nổi mà thôi. Không biết ai mà có nội công cao đến trình độ phát giác được. Hơn nữa trong đêm tối còn nhận ra nàng.

Trong khoang thuyền bọn Triệu Thành luyện Phục-ngưu thần chưởng, hơi thở dồn dập. Triệu Thành ngừng trước tiên. Y nói với Thiếu-Mai:

- Mong Lê cô nương dịch sang Hán văn cho.

Thiếu-Mai nói:

- Tôi bị giam lâu ngày, hình hài dơ bẩn không được tắm rửa, nên trong người mệt mỏi. Xin cho nghỉ ngơi đã.

Triệu Thành cầm cuốn sách trao cho Địch Thanh:

- Địch trạng nguyên giữ lấy. Mai đem đến để Lê tiểu thư dịch.

Địch Thanh tiếp cuốn sách.

Triệu Thành lệnh cho Quách Quỳ đưa nàng lên trên khoang thuyền phía trên. Minh-Thiên ra hiệu cho mọi người đều phát chiêu thực nhẹ hướng vào ông. Ông vung tay đỡ. Sau đó kiểm lại, tất cả đều luyện được chiêu Ác-ngưu nan độ. Nhưng khi phát ra, lại không giống nhau. Ông hỏi Đông-Sơn lão nhân:

- Lão tiền bối! Lão tiền bối đi nhiều, kiến văn rộng, xin lão tiền bối cho biết ý kiến.

Đông-Sơn lão nhân mở choàng mắt ra:

- Theo ý tại hạ, Phục-ngưu thần chưởng là thứ chưởng tối cổ. Nội lực ban sơ đơn thuần. Vì vậy ở đây chúng ta thuộc nhiều phái, nhiều trình độ, đều luyện đều thành. Thế nhưng uy lực không hoàn toàn như Đặng Đại-Khê, Đào Cam-Mộc, Bảo-Hoà vì chúng ta chưa luyện phần nội công tổng quát.

Minh-Thiên gật đầu:

- Lão nhân thực cao kiến. Hãy đợi Lê tiểu thư dịch xong rồi cùng luyện một lúc. Bây giờ các vị tiếp tục luyện đi.

Mọi người lại luyện.

Thình lình Triệu Thành kêu lên tiếng ối lớn. Y ôm lấy tay rên siết, mặt nhăn nhó. Tiếp theo tới Địch Thanh. Cả khoang thuyền náo loạn. Minh-Thiên cầm tay Triệu Thành. Ông nhìn tay đệ tử, rồi nhăn mặt: - Rõ ràng tay vương gia trúng độc.

Nhìn tay Địch Thanh, cũng tương tự, ông hỏi Dực-Thánh vương:

- Vương gia. Xin vương gia dạy cho một lời.

Dực-Thánh vương biết Minh-Thiên nghi ngờ mình phóng độc. Vương lắc đầu:

- Tiểu vương hoàn toàn không hay biết về vụ này. Ở đây toàn người của sứ đoàn. Phía Đại-Việt chỉ có Đoàn đề đốc với tiểu vương. Nếu tiểu vương đầu độc bằng nước uống, bằng thực phẩm, e tất cả mọi người đều bị, có đâu mình Bình-Nam vương với Địch trạng nguyên?

Vương Duy-Chính chỉ vào cuốn sách nói với Dực-Thánh vương:

- Vương gia. Từ nãy đến giờ chỉ có Triệu vương, Địch trạng nguyên sờ vào cuốn sách kia. Cả hai cùng bị trúng độc. Không chừng độc chất ở cuốn sách.

Minh-Thiên lấy khăn lót tay, ông móc túi Địch Thanh lấy cuốn sách ra đưa lên mũi ngửi. Nhưng ông không thấy có mùi vị gì khác lạ. Ông bỏ cuốn sách xuống, lắc đầu:

- Không có gì lạ cả.

Dư-Tĩnh chạy lại quan sát cuốn sách, rồi bàn:

- Không chừng Lê Thiếu-Mai đã phóng độc vào cuốn sách, để hại chúng ta. Nàng là con Hồng-Sơn đại phu, y học cực giỏi. Thì việc phóng độc đâu có xa lạ gì?

Minh-Thiên chau mày suy nghĩ:

- Chúng ta đang nhờ Lê tiểu thư dịch sách. Bây giờ cật vấn nàng. Đúng, không sao. Trật nàng nổi giận e không ổn.

Vương Duy-Chính đề nghị:

- Lát nữa chúng ta nhờ Lê tiểu thư trị bệnh cho Vương gia xem nàng trả lời sao?

Đoàn-Thông truyền thủy thủ dọn cơm. Dư Tĩnh bảo đội Đam:

- Phiền đội trưởng cho người mời Lê tiểu thư với Quách Quỳ xuống ăn cơm.

Một lát Thiếu-Mai xuống trước, Quách Quỳ theo sau. Nàng thấy tay Triệu Thành với Địch Thanh sưng đỏ, vội lạng người tới xem. Cả khoang thuyền có gần hai chục người, mà đều im lặng, không một tiếng động. Bên ngoài tiếng sóng vỗ ào ào vọng vào.

Thiếu-Mai nhăn mặt:

- Trong thuyền này có người của Hồng-thiết giáo, thuộc bang Nhật-hồ Trung-Quốc. Hai vị bị trúng độc của họ rồi.

Dư Tĩnh nhảy phắt dậy:

- Cô nương nói sao? Vương gia với Địch trạng nguyên bị trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng ư?

Thiếu-Mai thản nhiên:

- Dư an phủ sứ nghe lầm rồi. Tôi nói hai vị bị trúng độc của Hồng-thiết giáo, thuộc bang Nhật-hồ Trung-quốc, chứ không phải trúng Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng.

Minh-Thiên vẫy tay bắt Dư Tĩnh im lặng. Ông khoan thai hỏi:

- Lê cô nương. Xin cô nương giảng thêm cho bần tăng được rõ hơn.

Thiếu-Mai nói:

- Hồng-thiết giáo do Nhật-Hồ lão nhân mang từ Tây-vực vào Trung-thổ. Do Hồng-thiết công, lão chế ra Chu-sa độc chưởng. Chưởng này truyền rất sâu rộng trong bang Nhật-hồ Trung-quốc. Sau lão về Đại-Việt, thay đổi đi một chút, chế ra Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng. Cả hai chưởng này, phải người học Hồng-thiết mật công mới giải được.

Dư Tĩnh gật đầu:

- Thì quả đúng như vậy.

- Trong khi Nhật-Hồ lão nhân còn tại thế ở Đại-Việt, thì Hồng-thiết mật công Trung-quốc bị thất truyền. Họ chế ra phấn độc Chu-sa. Bang Nhật-hồ Trung-quốc cử chú cháu Chu An-Bình sang Đại-Việt tìm truyền nhân Nhật-Hồ lão nhân, hầu học lại Hồng-thiết Trung-quốc. Hôm các vị trên thuyền từ Thiên-trường về Thăng-long đã giao chiến với người Đại-lý. Người Đại-Lý được chú cháu Chu An-Bình trợ giúp. Các vị bị trúng phấn độc của họ. Các vị đã được bang Nhật-hồ Đại-Việt cho thuốc giải. Nhưng không khỏi hẳn, mà mỗi năm phải uống một lần. Có đúng không ?

Minh-Thiên đáp:

- Đúng thế.

- Hôm trước các vị trúng độc do phấn tung lên, truyền vào người. Hôm nay hai vị trúng loại phấn độc trên pha lẫn với độc tố Thất-trùng ngũ-hoa, vì vậy thuốc giải của bang Nhật-hồ Đại-Việt e cũng vô hiệu.

Hôm ở Thăng-long, Dư Tĩnh từng nghe Thanh-Mai bị trúng Thất-trùng ngũ hoa độc, đến nỗi Huệ-Sinh, Thiên-trường ngũ kiệt đều bó tay. Sau chính Hồng-Sơn đại phu thân hành điều trị mới cứu được. Y hỏi:

- Lê cô nương, phải chăng Thất-trùng ngũ hoa do quý phái chế ra?

Lê Thiếu-Mai cười khẩy:

- Dư an phủ sứ, liệu mà giữ lời. Bố tôi nổi tiếng cứu người, chưa từng hại ai. Bố tôi chỉ giết kẻ ác. Ngoài ra giết một con mèo, con chó, người còn không cho, huống hồ chế thuốc độc. Bố tôi mà nghe thấy An-phủ sứ nói câu đó, tôi e An-phủ sứ khó sống qua được ngày mai.

Dư Tĩnh nghe Thiếu-Mai nói, y ớn da gà. Hình ảnh Hồng-Sơn đại phu trong ngày đại hội Lộc-hà chỉ đánh hai chưởng, khiến Nhật-Hồ lão nhân phải thối lui, làm y hoảng sợ:

- Không! Tại hạ không biết mới hỏi thế.

Thiếu-Mai cười nhạt:

- Thất-trùng ngũ hoa do phái Côn-luân Trung-quốc chế ra. Nay hợp với Chu-sa Nhật-hồ độc chưởng, phải có thuốc của hai phái mới cứu được.

Dực-Thánh vương nói với Đoàn Thông:

- Đoàn đề đốc! Trong thuyền này chỉ có sứ đoàn, cô gia, đề đốc, đội Đam cùng một vài người hầu. Sứ đoàn nhất định không hại Bình-Nam vương rồi. Ngoài ra chỉ còn đề đốc với tùy tùng. Cô gia yêu cầu đề đốc tìm cho ra thủ phạm, bắt trao thuốc giải.

Lê Thiếu-Mai lắc đầu:

- Vương gia không nên lạm dụng uy quyền quá đáng. Đoàn đề đốc xuất thân danh gia đệ tử, có đâu xử dụng độc chất hại người?

Vương Duy-Chính ngạc nhiên:

- Đoàn đề đốc xuất thân phái nào? Xin cô nương cho biết?

Thiếu-Mai mỉm cười:

- Người Đoàn đề đốc hơi cúi về trước, mặt nhìn thẳng, khi nói hai cùi chỏ khép vào hông, nhất định thuộc phái Đông-a. Võ đạo phái Đông-a cấm ngặt xử dụng độc chất. Đoàn đề đốc đâu dám phạm võ đạo phái này.

Dực-Thánh vương hỏi Đoàn Thông:

- Đề đốc! Lê cô nương nói có đúng không?

- Quả đúng như Lê cô nương nói. Tiểu nhân là đệ tử của phái Đông-a. Sư phụ của tiểu nhân họ Trần huý Tự-An.

Cả khoang thuyền đều kêu lên tiếng úi chà. Vì từ lâu, người ta đồn rằng chưởng môn phái Đông-a có bẩy đệ tử. Người nào cũng vào hàng quái kiệt, võ công, kiến thức vô song. Nhưng hành tung bẩy người rất bí mật, không ai biết tên họ, cùng hành trạng thế nào. Mới đây, người ta chỉ biết đệ tử thứ sáu tên Ngô An-Ngữ, thống lĩnh đạo binh Ngự-long thuộc mười đạo Thiên-tử binh. An-Ngữ nổi tiếng sau vụ Thuận-Thiên hoàng đế cùng Khai-Thiên vương đang đêm, đem đạo binh tinh nhuệ nhất đánh úp Trường-yên. An-Ngữ chỉ huy đạo cận vệ Khai-Quốc vương chống trả, đánh thắng đạo quân tập kích, cùng bắt sống tướng chỉ huy, mà không một người bị thương hay chết.

Hiện Ngô An-Ngữ thay mặt Khai-Quốc vương tổng trấn Trường-yên trong khi Vương về kinh làm Phu-quốc thái úy. Bây giờ nảy ra đề đốc Đoàn Thông là đệ tứ đệ tử của Tự-An, thực không tầm thường.

Đoàn Thông nói với Địch Thanh:

- Trạng nguyên cho tôi coi cuốn sách một chút. Tôi nghi nguồn gốc từ đây mà ra.

Địch Thanh trao cuốn sách cho Đoàn Thông. Đoàn Thông cầm lên ngửi, rồi lắc đầu. Vừa lúc đó Quách Quỳ cũng kêu lên tiếng ai chà, vẫy vẫy tay tỏ ra đau đớn vô hạn. Tiếp theo đến đội Đam, rồi hai thủy thủ hầu trong khoang.

Đoàn Thông kinh hãi nhìn mọi người. Giữa lúc đó, chàng cũng cảm thấy tay ngứa ngáy khó chịu. Đưa tay lên coi: bàn tay chàng cũng từ từ sưng lớn. Bất giác chàng kêu lên tiếng ái chà.

Minh-Thiên kêu lên:

- Độc chất ở cuốn sách.

Nhưng ông ngừng lại ngay, vì Quách Quỳ, đội Đam cùng hai thủy thủ, không hề đụng vào sách, mà cũng bị trúng độc. Minh-Thiên ra lệnh:

- Kẻ địch đang rình rập quanh chúng ta. Dư an-phủ sứ trấn cửa trước. Vương chuyển-vận sứ trấn cửa sau. Triệu Anh, Huy, trấn hai cửa sổ. Xin Đông-Sơn lão nhân bảo vệ Vương gia.

Ông nói vọng ra:

- Cao nhân nào xin xuất hiện. Bọn bần tăng với các vị vốn không thù không oán, hà cớ các vị đánh thuốc độc hại bọn bần tăng?

Không có tiếng trả lời. Lê Thiếu-Mai cũng kinh hoàng không ít. Nàng xoa hai chưởng vào nhau, vận khí thử, thấy kinh mạch lưu thông như thường. Nàng yên tâm. Nàng chợt thấy hai chưởng của mình khô khác thường, vội đưa lên nhìn: hai chưởng của nàng thường ngày mầu hồng, bây giờ hoá ra hơi vàng. Bất giác nàng đưa lên mũi ngửi. Nàng đã tìm ra nguyên đo.

Nàng chửi thầm:

- Mình đáng chết thực. Thì ra mình bị người ta lợi dụng, để đánh thuốc độc bọn này, mà mình không biết.

Vốn thông minh, lại học đến trình độ tối cao về thuốc. Nàng tìm ra nguyên do một cách dễ dàng. Khi ở trong hầm thuyền, một thiếu phụ trao cho nàng chiếc khăn ướt lau mặt. Nàng thấy chiếc khăn có mùi thơm hơi kỳ lạ, thì ra đó là mùi ngũ hoa hợp lại. Người này dùng một dung dịch lỏng, khả dĩ chống được với phấn Chu-sa độc chất cùng Thất-trùng ngũ-hoa, rồi tẩm vào khăn cho nàng lau tay, lau mặt. Sau đó mụ phóng bột độc vào tay nàng. Khi nàng ra khỏi khoang, tay vịn vào cửa, độc chất trên tay nàng dính vào lan can. Đội Đam cùng hai thủy thủ mó vào cửa, thành ra trúng độc nhẹ, nên phát sau. Lúc nàng tới đây, tay mó vào sách, rồi Triệu Thành, Địch Thanh, Đoàn Thông sờ lên sách mà bị trúng độc. Vừa rồi Quách Quỳ lạy tạ, nàng cầm tay nâng y dậy, thành ra y cũng bị trúng độc luôn.

Nàng nghĩ thầm:

- Người này là ai, mà có bản lĩnh không thua gì bố mình làm bao. Mưu trí lại tuyệt vời như thế? Mình phải tìm bà ta, để hỏi cho ra nguyên ủy mới được. Bà ta đi với với cặp nam, nữ tuổi trung niên. Rõ ràng ba người muốn giải cứu ta, như vậy họ không có ác ý với ta.

Nàng nói với Minh-Thiên:

- Đại sư! Tiểu nữ tìm ra người phóng độc rồi. Xin đại sư yên tâm, khi thuyền tới Quảng-Đông, tiểu nữ cam đoan sẽ kiếm ra thuốc trị cho các vị. Cái đau đớn của quý vị có thể trị bằng châm cứu, trong khi chờ thuốc giải. Tiếc rằng các vị bắt cóc tiểu nữ, thành ra tiểu nữ không có kim châm cứu cho các vị.

Nàng hỏi Đoàn-Thông:

- Đề đốc, trên thuyền có tre không? Tôi vót tre làm kim cũng được. Hoặc giả có tăm, tôi dùng đỡ vậy.

Đoàn Thông gọi thủy thủ mang đến một bó tăm. Thiếu-Mai ra ngoài rửa tay, rửa mặt thực kỹ, cho sạch thuốc bị khăn ướt thấm vào. Rồi nàng vót tăm thực nhỏ, thành những cái kim.

Vốn cảm tình với Đoàn Thông, nàng vẫy y:

- Đề đốc, lại đây, tôi trị cho người trước.

Nàng mỉm cười:

- Trị bằng châm cứu, kết quả tốt, song có điều hơi đau. Đề-đốc cố chịu một lát, cái đau giảm liền. Khi tôi châm kim, Đề-đốc đừng vận khí chống lại. Vì làm như thế chân khí Đề-đốc đề kháng lại kim, khiến cái đau tăng lên.

Nàng cầm kim châm vào hai huyệt Túc-tam-lý, rồi dùng tay quay kim. Nàng quay thực mau. Đoàn Thông cảm thấy một luồng chân khí chạy rần rật từ dưới gối lên đùi, bụng, qua tỳ, vị, tâm, phế rồi tới miệng, mũi, mắt. Thoáng một cái, mặt y đang tái mét, trở thành hồng hào. Cơn đau đang cực kỳ khó chịu, giảm từ từ. Y kinh ngạc hỏi:

- Lê cô nương! Ty chức bị trúng độc ở tay, tại sao cô nương châm ở chân, mà giảm đau? Kỳ diệu thực!

Thiếu-Mai giảng:

- Đề đốc bị trúng độc ngoài da, Chất độc cực kỳ bá đạo. Trước hết tôi phải làm thế nào cho chân khí Đề-đốc từ trong, đẩy ra ngoài. Trong sáu kinh, thì Thái-âm chủ biểu tức ngoài da, lông, tóc. Kinh Dương-minh chủ nửa trong, nửa ngoài y học gọi là bán biểu bán lý. Tôi dùng kinh này, đẩy chất độc từ trong ra. Tôi đã châm huyệt Túc-tam-lý thuộc túc Dương-minh vị kinh. Bây giờ tôi dùng huyệt Hiệp-cốc thuộc thủ Dương-minh đại trường kinh nữa, độc chất mới thoát ra ngoài được.

Nàng cầm kim châm vào huyệt Hiệp-cốc rồi quay kim. Quay xong, nàng nói:

- Đề đốc ngồi vận công, khí trần đơn điền, rồi chuyển ra Dương-minh kinh, hầu hợp với châm cứu.

Trong khi đó Thiếu-Mai châm thêm huyệt Liệt-khuyết, Chiếu-hải, giảng:

- Phối hợp cặp Liệt-khuyết, Chiếu-hải gọi là chủ và khách. Liệt-khuyết thuộc thủ Thái-âm phế kinh. Phế chủ ngoài da. Liệt khuyết vai chủ. Chiếu-hải thuộc túc Thiếu-âm thận kinh vai khách. Cặp huyệt này dùng để giúp hai cặp huyệt trên, mở rộng biểu, hầu chất độc thoát ra ngoài.

Đến đó, trên người Đoàn Thông toát ra mùi thơm kỳ lạ. Triệu Thành hỏi:

- Lê cô nương! Cô gia nghe độc chất bang Nhật-hồ tiết ra mùi hôi thối. Sao người Đoàn đề-đốc tiết ra hương thơm?

- Vương gia quên mất lời tôi nói rồi. Tôi đã bảo, các vị trúng phấn Nhật-hồ độc hợp với Thất-trùng ngũ-hoa. Ngũ hoa ắt phải có mùi thơm chứ?

Rồi nàng dùng kim châm cho Triệu Thành, Địch Thanh, Quách Quỳ, đội Đam với hai thủy thủ. Nàng giảng:

- Tôi tạm dùng châm cứu ngăn chặn không cho chất độc chạy vào tâm các vị, cùng giảm đau. Đợi tới Quảng-Đông rồi tôi sẽ cắt thuốc trị tuyệt bệnh cho các vị.

Bên ngoài Mỹ-Linh hoàn toàn không biết gì về vụ Đỗ Lệ-Thanh phóng độc bọn Triệu Thành. Nàng đang định lui về hầm, có tiếng ai dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai:

- Công chúa! Mau lui đi thôi.

Mỹ-Linh kinh hoảng nhảy lên khoang, cùng Thiệu-Thái, Lệ-Thanh trở về hầm giam.

Sau khi đóng cửa lại. Mỹ-Linh hỏi sẽ vào tai Lệ-Thanh:

- Đỗ phu nhân! Phải chăng phu nhân phóng độc bọn Triệu Thành?

- Đúng như thế. Không gì qua mắt được công chúa.

- Không biết ngoài bọn mình ra, trong thuyền còn cao nhân nào, biết rõ hành tung bọn mình, dùng lăng không truyền ngữ nói vào tai tôi.

Rồi nàng thuật lại chi tiết lời nói của người lạ.

Thiệu-Thái kinh ngạc:

- Không lẽ Bố-Đại bồ tát hay đại sư Huệ-Sinh?

Mỹ-Linh lắc đầu:

- Tiếng Bồ-Tát, với sư phụ em quen rồi. Tiếng người này khác hẳn. Dường như em đã nghe nhiều lần, mà lần này đoán không ra. Em nghi họ là một trong những người của sứ đoàn, âm thầm giúp ta.

- Đông-Sơn lão nhân bị sư muội đả bại, ắt y không tử tế với sư muội. Ngoài ra, nội công cao chỉ có Minh-Thiên. Không lẽ là ông?

- Em chú ý kỹ, không phải tiếng Minh-Thiên. Biết đâu không phải cao nhân nào, ẩn dưới thuyền này, giả làm thủy thủ.

Chương 14: Chính khí kẻ sĩ

Chính khí kẻ sĩ. - -

Ba người trở lại khoang thuyền giam tù.

Thiệu-Thái lại phòng giam người đàn ông. Chàng gõ cửa ba lần. Bên trong có tiếng hỏi:

- Ai đó?

- Tôi cũng bị giam như ông. Ông là ai? Có bị cùm không?

- Không!

- Ông tên gì?

- Lê Ngọc-Phách, dạy học ở Thăng-long.

- Ông có biết tại sao bị bắt giam không? Ông học võ với ai?

- Tôi không hiểu nữa. Tôi bị bắt cóc. Không biết họ bắt cóc để làm gì. Tôi không biết võ.

- Từ hôm bị bắt đến giờ. Họ có tra hỏi ông điều gì không?

- Không. Họ trao cho tôi cuốn sách bằng chữ Khoa-đẩu, bắt tôi dịch hai trang.

- Ông biết chữ Khoa-đẩu à?

- Biết. Tôi đã dịch cho họ.

- Thôi, ông cứ an tâm ở đó. Tôi sẽ cứu ông khi thuyền tới bến. Bọn Tống bắt ông với mục đích ép ông dịch sách cho chúng. Ông dịch xong, chúng sẽ giết ông để phi tang.

Ngọc-Phách nổi máu ương nghạnh của kẻ sĩ:

- Hừ! Ngọc-Phách này không dễ gì ai uy hiếp nổi. Kẻ sĩ sẵn sàng chịu chết chứ không thể bị khuất phục.

Ông ta tự nói một mình:

- Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di. Uy vũ bất năng khuất. Phách mỗ nhất định không dịch, xem bọn chúng làm gì. Con bà tụi cướp nước.

Thiệu-Thái ít đọc sách. Chàng không hiểu những câu Ngọc-Phách nói. Mỹ-Linh giảng:

- Mấy câu đó nghĩa rằng: Phàm làm kẻ sĩ, khi giầu sang không dâm, lúc nghèo hèn, chí không đổi. Uy quyền không chịu khuất phục.

Thiệu-Thái khen thầm:

- Người này chỉ nên khích, chứ không thể lấy lời thuyết phục.

Mỹ-Linh ghé miệng sát cửa:

- Tôi sợ khi chúng dí dao vào cổ ông. Ông lại phải khuất phục.

Ông ta chửi tục:

- Con mẹ nó bọn Tống. Nếu chúng đem lễ tới cửa, quỳ gối khấn Con lạy ông. Con dốt nát, mong ông ban phúc dạy con thì hy vọng. Chứ áp đảo e vô ích.

Mỹ-Linh biết Ngọc-Phách thuộc loại kẻ sĩ khí tiết. Những loại ấy, chân yếu tay mềm, mà chính khí dọc ngang trời đất. Trên toàn Đại-Việt, không thôn nào, xóm nào mà không có. Họ không phải quan, cũng chẳng giầu có. Nhưng lớp kẻ sĩ ấy được quần chúng kính phục. Họ mới đích thực lãnh đạo Đại-Việt. Khắp nơi, người ta gọi họ bằng thầy.

Nàng nói nhỏ:

- Này thầy Phách. Tôi nghe đức thánh Khổng đứng nhìn giòng nước chảy mà đưa ra thuyết tùy thời. Phàm làm kẻ sĩ, khi cương, cứng như thép. Khi nhu mềm như tơ. Trong lòng toan tính, không ai rõ được. Thầy nên tìm cách nào giữ lại tấm thân hữu ích, dùng cho mai hậu.

- Cảm ơn cô nương nhắc nhở, bằng không tôi quên mất.

Mỹ-Linh bàn với Thiệu-Thái:

- Như vậy, ý đồ bọn Tống đã rõ. Chúng bắt những người biết chữ Khoa-đẩu dịch sách cho chúng. Chúng sợ người ta dịch sai, nên bắt nhiều người một lúc, rồi cùng sai dịch. Hễ thấy giống nhau, chúng mới tin. Thầy đồ Lê Ngọc-Phách, mình chưa rõ thực hư ra sao. Còn chị Thiếu-Mai, em nhìn từ ngoài vào, thấy con mắt chị ấy thoáng nét giảo hoạt. Không chừng chị ấy sẽ dịch sai cho chúng. Nếu chúng đem so sánh với bản dịch của thầy Lê Ngọc-Phách, ắt bị lộ. Phải làm sao bây giờ?

Đỗ Lệ-Thanh nói sẽ:

- Điều cần nhất, chúng ta phải điều tra xem thầy đồ Lê Ngọc-Phách là ai đã. Lỡ ra y làm gian tế cho Tống thì sao?

Mỹ-Linh lắc đầu:

- Tôi không tin như vậy. Nếu Lê Ngọc-Phách làm gian tế cho Tống, việc gì Tống phải bắt cóc Thiếu-Mai cho thêm nguy hiểm. Tuy vậy ta cũng nên tìm hiểu y trước đã.

Mỹ-Linh lại bên phòng giam Phách:

- Thầy Phách ơi! Sáng mai, chúng tôi được lên làm bếp. Tôi lén gửi thư về nhà. Thầy có muốn viết thư báo cho nhà biết, hầu trình quan giải cứu, vậy thầy viết đi. Tôi sẽ gửi cho thầy.

- Ở đây không bút, không mực, viết sao được?

Mỹ-Linh đưa ra cục than củi:

- Hồi chiều, lúc làm bếp, tôi dấu được cục than này. Ông xé vạt áo viết thư, rồi tôi gửi cho. Ông định viết thư cho ai?

- Tôi có người bạn, hiện làm Lữ-trưởng trong đạo quân Bổng-nhật của đức Hoàng-đế. Tôi viết thư cho y. Y trình với ngài Điện-tiền chỉ-huy sứ, hy vọng mới cứu được tôi.

Mỹ-Linh nhủ thầm:

- Bổng-nhật là một trong mười đạo Thiên-tử binh. Như vậy bạn anh ta làm dưới quyền anh hai Tạ Sơn. Ta dễ xác nhận.

Nàng hỏi:

- Thầy có biết điện tiền chỉ huy sứ tên gì không?

- Dường như ngài họ Tạ tên Đức-Sơn, thường gọi tắt bằng danh xưng Tạ Đức, Tạ Sơn.

Ngọc-Phách xé áo viết liền. Viết xong, ông trao cho Mỹ-Linh. Nàng cầm lên đọc:

"Đệ Lê Ngọc-Phách, khóc chảy máu mắt viết thư cho nghĩa huynh Hoàng Hy, Lữ-trưởng sáu, thuộc đạo binh Bổng-nhật. Đệ bị sứ đoàn Tống bắt giam dưới chiến hạm thuộc hạm đội Động-đình. Sống chết trong chốc lát. Mong nhân huynh cứu đệ. Đệ khấp bái".

Mỹ-Linh lấy dao nạy cửa, chuồn lên trên sàn thuyền. Thấy con chim ưng của Khu-mật viện đậu trên cột buồm, nàng gọi nó xuống, cột mảnh vải vào chân, rồi huýt sáo ra lệnh cho nó bay đi.

Ba người lăn ra ngủ.

Có tiếng đập cửa ầm ầm. Đội Đam hiện ra, y thò đầu vào:

- Ba người đi học thuốc đâu. Mau lên làm bếp.

Mỹ-Linh ra hiệu, cả ba người chui ra khỏi hầm thuyền. Hôm nay trong bếp có tất cả hai mươi người phụ trách hỏa đầu quân. Tên trưởng bếp Tu liếc mắt nhìn ba người, rồi cúi xuống, không nói gì.

Chợt Mỹ-Linh để ý đến đội Đam, chiếc cúc áo cổ, có sợi chỉ đỏ. Nàng chửi thầm:

- Mình đáng chết thực. Người của Khu-mật viện ngay trước mắt mà không biết. Ta phải hỏi cho rõ căn cước y.

Nàng ghé tai đội Đam:

- Thầy đội! Nhà thầy đội có trồng hoa lan không?

Đội Đam giật mình:

- Không, nhà tôi không trồng hoa lan, mà chỉ trồng hoa đào. Cô cần mấy nhánh.

- Tôi cần hai nhánh.

Đội Đam kinh hãi:

- Khổ quá, nhà tôi chẳng có nhánh nào cả. Mùa này, cây đào còn bốn chiếc lá.

Mỹ-Linh hiểu ngay. Đẳng cấp võ quan nhà Lý có mười bậc. Dưới mười bậc đó còn có sáu cấp nữa, gồm ngũ, lượng, tốt, lữ, sư, quân. Đúng như đẳng trật, Đam làm chức đội, tức Lượng-trưởng. Đấy là cấp bậc che mắt, thực ra y ở cấp cao hơn tức Lữ-trưởng. Cho nên y xưng tới bốn cái lá. Mỹ-Linh xưng hai hoa đào, tức cấp tới tiết độ sứ, quá cao với đội Đam. Đội Đam kinh hãi nháy mắt một cái, tỏ ý nhận hiểu.

Mỹ-Linh hỏi Đam:

- Trên thuyền này thầy cao nhất?

- Vâng.

Nàng vào bếp nhặt rau, làm cá. Trong khi làm, nàng thấy con chim ưng đã trở về đậu trên cột buồm. Nàng huýt sáo gọi nó xuống, rồi gỡ miếng giấy ở trong ống dưới chân nó. Trên giấy vỏn vẹn mấy chữ:

Đúng như Ngọc-Phách khai. Y vốn lương thiện. Tin được.

Nàng đốt mẩu giấy đi, rồi nhặt rau. Vừa nhặt rau, nàng vừa ghé miệng vao tai đội Đam:

- Lê tiểu thư ở phòng nào?

- Tầng nhất, mé phải, phòng thứ chín kể từ mũi thuyền.

- Tôi cần ít tờ giấy. Kiếm được không?

- Dễ! Có loại bút khô đặc biệt. Cần không?

- Cần. Lát xuống hầm, thả Ngọc-Phách giam chung với bọn tôi được không?

- Dĩ nhiên được.

Sau bữa ăn, đội Đam đem Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, Lệ-Thanh xuống hầm. Ngọc-Phách được tháo gông, thả ra ngoài phòng lớn cùng với Mỹ-Linh. Đội Đam nói nhỏ với y:

- Do lời yêu cầu của mấy vị này, tôi thả anh ra ngoài, cho dãn gân cốt.

Bây giờ Mỹ-Linh đã tin Ngọc-Phách rồi. Nàng nói sẽ:

- Thầy Phách! Tôi dám quyết tính mệnh thầy được bảo đảm. Thư đã gửi đi. Tôi có mấy lời muốn dặn thầy?

- Cô nương cứ dạy.

- Chúng tôi có thừa bản lĩnh cứu thầy. Nhưng chưa đến lúc. Thầy hãy coi.

Nàng vận khí bóp cái bát ăn cơm vỡ nhỏ ra. Hai tay vo lại, lập tức cái bát biến thành đám bột. Ngọc-Phách kinh hoảng:

- Không ngờ võ công cô nương cao vậy. Bao giờ cô nương định cứu tôi?

- Khi thuyền đến bến. Có điều tôi dặn thầy trước. Nếu thầy cứng đầu, cứng cổ, chúng đánh thầy thiệt thân. Chi bằng thầy địch sai. Như vậy chúng theo đó luyện võ, sẽ đứt kinh mạch mà chết. Trong thuyền còn một người nữa biết chữ Khoa-đẩu. Người đó dịch sai, mà thầy dịch đúng. Chúng so thấy không giống nhau, ắt nghi ngờ. Chúng sẽ giết thầy chứ không giết người kia.

Ngọc-Phách hiên ngang:

- Tôi không sợ chết. Nếu tôi chết, coi như tôi chết vì nước, càng vinh hạnh cho tổ tiên, con cháu. Song tôi phải làm sao?

- Thì thầy cũng dịch sai giống người kia.

- Tôi không biết người kia dịch sai thế nào, e làm sai không giống nhau.

- Tôi dặn, thầy nhớ đây. Chỉ cần sao sai một số chi tiết là được. Về số, cứ một là sáu, hai là bẩy, ba là tám, bốn là chín, năm là mười. Xuống đổi thành ra. Lên thành vào. Hít thành đình. Thở thành tản. Như vậy đủ rồi.

Đến đó, đội Đam vào. Y nói với Mỹ-Linh:

- Nguy rồi, Dực-Thánh vương truyền ném ba vị xuống biển. Các vị tính sao?

- Bao giờ ném?

- Lát nữa.

- Ai phụ trách ném?

- Triệu Huy.

Lệ-Thanh tỏ ý cương quyết:

- Tiểu tỳ tung phấn độc đánh chúng nó. Mình chiếm thuyền này.

Mỹ-Linh lắc đầu:

- Trên thuyền có hơn ba trăm thủy thủ. Họ đều trung thành với Đại-Việt. Nếu chúng ta giết hết, thực oan uổng cho họ. Vả chúng ta chiếm thuyền, mà không biết điều khiển cũng vô ích. Lại nữa hạm đội có mười chiến hạm. Ta chiếm soái hạm, chín hạm kia quay lại đánh ta. Ta chống không nổi.

Thiệu-Thái rất bình tĩnh:

- Không sợ. Nếu chúng ném bọn tôi xuống biển, chúng tôi sẽ bám bánh lái leo lên. Ông kiếm cho chúng tôi ba bộ quần áo thủy quân. Chúng tôi giả làm lính.

Đội Đam nói với Ngọc-Phách:

- Mời thầy gặp thượng cấp của tôi. Thầy không còn bị giam ở đây nữa.

Đội Đam dẫn Ngọc-Phách đi ra.

Thiệu-Thái bàn:

- Nhược bằng Triệu Huy ném chúng ta xuống biển. Ta cứ để cho y ném. Bằng y trói chúng ta mà ném, chúng ta phải giết y trước.

Đỗ Lệ-Thanh gật đầu:

- Chúng ta cứ thế mà làm.

Một lát Triệu Huy, Triệu Anh cùng đội Đam vào. Y cười đểu dả:

- Ba vị. Đã đến lúc mỗ nói thực cho ba vị biết. Chủ nhân mỗ muốn mời các vị xuống Long-cung chơi. Các vị không nên oán mỗ.

Mỹ-Linh làm bộ run sợ:

- Trăm lạy ngài, xin ngài sinh phúc tha cho chúng tôi.

Lệ-Thanh cũng kêu:

- Lạy quan lớn! Con có tội gì mà quan lớn giết con?

Triệu Huy cười nhạt. Y hất hàm ra lệnh, rồi một tay xách Mỹ-Linh, một tay xách Thiệu-Thái. Triệu Anh xách Đỗ Lệ-Thanh. Chúng lên sàn thuyền vận sức ném ba người xuống biển.

Còn ở trên không, ba người lộn một vòng, cho cúi đầu xuống. Xuống tới nước, ba người trồi lên. Họ chỉ vọt mình mấy cái, đã tới bánh lái. Cả ba bám vào bánh lái, leo lên ngồi vào, giống như ba con chim biển.

Bấy giờ trời vào tiết tháng mười một, gió heo may luồn những sợi tơ lạnh lẽo trong không gian. Nhưng ba người đều thuộc hàng nội ngoại công tối cao. Vì vậy cái lạnh không thấm vào người họ được.

Mỹ-Linh bàn:

- Chúng ta ngồi đây chơi. Đợi trời tối, sẽ leo lên gặp đội Đam. Y kiếm quần áo, cho chúng ta giả làm thủy thủ. Tha hồ chúng ta tung hoành.

Lệ-Thanh đề nghị:

- Công chúa! Chỉ dụ của Khai-Quốc vương rằng chúng ta không nên dụng võ. Nhưng hoàn cảnh hiện tại không cho chúng ta đừng được. Lão tỳ xin công chúa để lão tỳ tung phấn độc cho bọn Triệu Thành, Dực-Thánh vương mê man. Mình làm chủ soái thuyền. Như vậy có phải yên không?

Mỹ-Linh lắc đầu:

- Không nên! Chúng ta đang tìm cách theo dõi hành động của bọn chúng, cho đến khi chúng về tới Biện-kinh. Chứ giết bọn chúng thì dễ quá rồi. Tuy vậy, nếu lần này gặp hung hiểm, phu nhân với anh Thiệu-Thái phóng độc phấn, độc chưởng giết bọn chúng vẫn chưa muộn.

Ba người nói truyện tới trời tối hẳn, rồi bám theo dây leo lên trên mặt thuyền. Trên mặt thuyền vắng không một bóng người. Mỹ-Linh gõ tay vào mạn thuyền ba tiếng. Đội Đam từ trong bóng tối nhô ra, vẫy ba người đi theo. Y mở một cửa, cho ba người vào.

Nước biển làm mất hết bột, hồ. Mỹ-Linh hiện nguyên hình với cô công-chúa đẹp như Quan-thế-âm bồ tát. Đội Đam kinh ngạc. Trong lòng y nảy ra mối nghi ngờ: - Rõ ràng ban nãy, người đàn bà này xưng chức tới tiết độ sứ. Làm gì có nữ tiết độ sứ? Mà dù có chăng nữa, cô mới mười tám, hai mươi tuổi, sao có thể làm lớn như vậy được?

Đỗ Lệ-Thanh nói nhỏ với Mỹ-Linh:

- Công chúa. Bây giờ chúng ta lại hoá trang. Cả ba thành thủy thủ. Vậy công chúa ngậm viên thuốc này cho tiếng thành ồ ồ mới được.

Mỹ-Linh cầm thuốc bỏ vào miệng. Đội Đam kinh hoảng hỏi Lệ-Thanh:

- Phu nhân! Cô nương đây là?

Lệ-Thanh nói nhỏ:

- Vị cô nương này chính thị công chúa Bình-Dương. Còn công tử đây là thế tử Thân Thiệu-Thái.

Hôm ở Thăng-long, đội Đam đã nghe đồn công chúa Bình-Dương cùng thế tử Thân Thiệu-Thái võ công vô địch. Công chúa thắng Đông-Sơn lão nhân. Thiệu-Thái đánh bại Nhật-Hồ lão nhân. Người ta còn huyền thoại đi rằng cả hai đã làm những truyện kinh thiên động địa cho Khu-mật viện. Đội Đam nghe nói, mà lòng khâm phục vô hạn. Bây giờ hai người trong huyền thoại đang ở trước mắt y. Y run run:

- Công chúa...

Mỹ-Linh ra hiệu cho y im lặng:

- Đừng đa lễ. Hãy giúp chúng tôi thành thủy thủ.

Đội Đam nói nhỏ:

- Ba thủy thủ hầu sứ đoàn bị trúng độc. Vậy tiểu nhân để ba vị thay thế chúng. Công chúa mang tên An. Thế tử mang tên Bình. Lão bà mang tên Tĩnh.

Rồi y giảng dạy những gì phải làm, cùng huấn luyện những động tác của thủy thủ. Hơn giờ sau, ba người đã thành thuộc. Mỹ-Linh hỏi:

- Thầy đồ Ngọc-Phách đâu?

- Y ở phòng thứ ba phía bên trái, tầng trên cùng.

Mỹ-Linh bàn:

- Đỗ phu nhân với anh Thái lên phòng ăn, chỗ sứ đoàn ở. Em đi tìm chị Thiếu-Mai.

Mỹ-Linh hướng mũi thuyền đi tới. Qua cầu thang, nàng xuống tầng thứ nhất. Tới phòng thứ ba, nàng ngừng lại, dơ tay gõ cửa ba tiếng. Thiếu-Mai mở cửa ra. Mỹ-Linh chắp tay:

- Tiểu nhân tên An, được chỉ định phục dịch tiểu thư. Tiểu thư cần gì không?

Thiếu-Mai thấy dáng người tên thủy thủ rất quen, rất thân ái, mà nhất thời nàng không nhận ra. Nàng hỏi:

- Anh An! Không biết tôi đã gặp anh ở đâu?

Mỹ-Linh nói nhỏ:

- Tiểu nhân từng đến Vạn-thảo sơn trang trị bệnh. Tiểu nhân muôn vàn nhớ công đức đại phu cùng tiểu thư.

Thiếu-Mai chợt nhìn thấy dưới mái tóc sau cổ thủy thủ An, một làn da trắng mịn. Cạnh đó, có mụn nốt ruồi son cực lớn. Nàng chửi thầm:

- Thì ra công chúa Bình-Dương. Hôm trước ta thấy nàng cùng hai người dưới hầm thuyền định cứu ta. Ta đã nghi. Bây giờ nàng lại giả thủy thủ hí lộng quỷ thần gì nữa đây? Đã vậy ta cũng phá lại chơi.

Thiếu-Mai kéo Mỹ-Linh vào trong phòng, rồi cài cửa lại. Nàng làm nghiêm:

- Anh thủy thủ à! Anh lên giường kia nằm xuống ta chữa bệnh cho.

- Thưa cô nương, tiểu nhân không đau yếu gì cả.

- Sao lại không. Nhất định anh bị bệnh. Bệnh nặng lắm, nguy đến nơi rồi. Lên giường mau.

Không đừng được, Mỹ-Linh phải leo lên giường.

Thiếu-Mai nghiêm mặt:

- Bệnh của anh khủng khiếp lắm. Ngực tự nhiên sưng lên hai cái bướu, lớn bằng cái bát ăn cơm. Ta muốn xem hai cái bướu này.

Nói rồi nàng định cởi áo Mỹ-Linh.

Mỹ-Linh biết đã bị lộ. Nàng choàng hai tay ôm lấy Thiếu-Mai, nói sẽ vào tai nàng:

- Coi chừng bị lộ hết.

- Mình có những ai?

- Anh Thiệu-Thái, bà Lệ-Thanh, một thầy đồ, đội Đam nữa.

Rồi nàng thuật mọi chi tiết cho Thiếu-Mai nghe. Thiếu-Mai suýt xoa:

- Không có Mỹ-Linh, e chị đánh lừa bọn Tống cũng vô ích. Thôi được, chị thức đêm nay dịch hết bộ sách này cho chúng.

Chợt nghĩ ra điều gì, nàng hỏi:

- Có phải Đỗ phu nhân đánh thuốc độc bọn Triệu Thành không? Khi ở trong thuyền, Đỗ phu nhân trao cho tôi cái khăn tôi đã sinh nghi rồi.

- Chị thông minh thực, không việc gì qua mắt được chị.

Thiều-Mai đề nghị:

- Chúng ta có nên trao thuốc giải cho bọn Triệu Thành, với điều kiện không?

Mỹ-Linh nói nhỏ:

- Em nhờ chị một việc.

- Mỹ-Linh cứ nói.

- Chị đã học ở bà Lâm Huệ-Phương thuật coi tướng. Chị làm bộ coi tướng cho Triệu Thành, khích y cướp ngôi vua Tống. Trong khi xem tướng, chị quả quyết chỉ năm ngày nữa y khỏi bệnh. Trong khi đó, đội Đam bỏ thuốc giải vào thức ăn của y. Lúc khỏi bệnh, y tin tài coi tướng của chị.

- Chị đã nhìn tướng của Triệu Thành. Y không phải người gian xảo, e việc khích y cướp ngôi vua hơi khó. Không biết nên nói thế nào cho y tin. Gay đấy chứ?

Mỹ-Linh ghé tai Thiếu-Mai nói nhỏ. Hai người nhìn nhau cười khúc khích. Thiếu-Mai chưa tin mình. Nàng nói sẽ:

- Đây quả thực một cuộc đấu trí quan trọng. Hai chị em ta cùng góp ý, mới tuyệt mỹ. Em đứng cạnh chị. Nhớ dùng Lăng-không truyền ngữ nhắc chị.

Vừa lúc đó, có tiếng nói vọng vào:

- Mời tiểu thư xuống xơi cơm.

Thiếu-Mai mở cửa đi trước, Mỹ-Linh theo sau, xuống dưới phòng hội. Bọn Triệu Thành, Dực-Thánh vương đông đủ cả. Trong phòng còn thêm thầy đồ Ngọc-Phách. Triệu Thành chỉ Lê Ngọc-Phách:

- Lê tiểu thư! Cô gia giới thiệu với tiểu thư. Vị này tên Lê Ngọc-Phách, một thầy đồ nổi tiếng ở Thăng-long. Cô gia mời thầy dịch sách với tiểu thư. Nếu như sau khi dịch, hai bản cùng giống nhau chứng tỏ hai vị thành thực. Cô gia ắt có chỗ đền đáp. Còn như hai bản khác nhau, rõ ràng hai vị dối trá. Bấy giờ cô gia buộc lòng bắt hai vị dịch lại, cho đến khi nào giống nhau thì thôi.

Thiếu-Mai, Ngọc-Phách nhìn nhau. Cả hai trong lòng cùng cảm tạ Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đã an bài. Bằng không, ắt hai người đều phải dịch đúng. Mà dịch đúng, khác gì hại dân, hại nước. Thiếu-Mai còn uyển chuyển, chứ Ngọc-Phách, nổi cơn gàn của kẻ sĩ, ắt chửi bới bọn Tống rồi chịu chết.

Dư Tĩnh liếc nhìn Thiếu-Mai:

- Lê tiểu thư. Theo tiểu thư, liệu tiểu thư có thể trị dứt bệnh của vương gia không?

- Dư đại nhân hiểu cho hoàn cảnh người thầy thuốc. Nếu như vương gia bị bệnh suyễn, hay phong thấp, tôi từng trị qua. Tôi có thể quyết đoán rằng tài sức mình có tới hay không? Trị đến bao giờ khỏi. Còn vương gia bị trúng hai thứ độc một lúc, mà hai thứ đó, tôi chỉ nghe, chứ chưa từng gặp bao giờ, sao có thể quyết đoán? Đợi đến Trung-quốc, đủ thuốc men, tôi mới thi trị. Nhưng...

Nàng thấy mặt Triệu Thành tái đi vì lo nghĩ. Lương tâm thầy thuốc khiến nàng không nỡ tàn nhẫn với y:

- Đấy là y lý. Y lý tuy đúng, song còn thua mệnh trời. Mệnh vương gia qúa lớn... Vương gia ơi! Cứ trông tướng vương gia, tiểu nữ giám quả quyết vương gia không thể chết được đâu. Vương gia yên tâm. Tương lai, lộ trình của vương gia to lớn vô cùng. Mệnh vương gia lớn hơn núi Thái-sơn, sao có thể chết được? Tiếc rằng phụ thân tôi không có đây, bằng không bệnh tình vương gia, người có coi ra gì.

Mặt Triệu Thành hiện ra nét vui vẻ. Y hỏi:

- Lệnh tôn khó tính vô cùng. Không biết cô-gia cử sứ sang mời, người có chịu dời gót ngọc đi Trung-quốc trị cho cô gia không?

Dực-Thánh vương lắc đầu:

- Khó lắm. Hồng-Sơn đại phu trị bệnh với ba điều kiện. Một, không trị cho người Hoa. Hai, không trị cho họ Lý. Ba, phải thuộc loại bệnh không ai trị được. Vương gia cho người mời e cũng vô ích.

Thiếu-Mai tiến lại bên Triệu Thành, nàng để ba ngón tay vào bộ Thốn, Quan, Xích của y, rồi suy nghĩ. Cả khoang thuyền đều im lặng.

Minh-Thiên hỏi:

- Cô nương thấy thế nào?

Thiếu-Mai thở dài:

- Mạch của vương gia thuộc loại khác thường. Hàng mấy trăm năm mới có một người. Tiến trình tương lai của vương gia vĩ đại vô cùng.

Dư Tĩnh hỏi lại:

- Vương gia hiện là hoàng-thúc, cầm binh quyền trong tay. Công danh lên đến tột đỉnh rồi. Cô nương nói, tiến trình hơn nữa, như vậy có nghĩa ???

Triệu Thành không hề có ý muốn lên làm vua. Y hằng ước mong làm lên sự nghiệp như Trương Lương, Gia-cát-Lượng hầu lưu danh thiên cổ. Y hỏi lại:

- Cô nương nói rõ hơn. Cô gia giúp thiên-tử, chí muốn gồm thâu thiên hạ, ước mong sự nghiệp bằng Trương Lưu-hầu hay Vũ-hầu, tên ghi thanh sử. Chí thì như vậy, không biết mệnh có tới hay không? Thiếu-Mai bưng chung nước uống, mắt nhìn vào không gian:

- Tiếc ơi là tiếc. Mệnh có, thời có, tài có, đức có. Song chí không có. Không có chí, sao thành được? Ôi định mệnh!

Nghe Thiếu-Mai nói xa xôi, Triệu Thành ngơ ngác:

- Cô gia sợ mệnh không có, thời chẳng đến. Trong khi cô nương nói mệnh có, thời có, tài có, đức có mà chí không có. Ý cô nương muốn nói?

Thiếu-Mai hỏi lại:

- Những người của vương gia tại đây có tin được không?

- Họ đều thâm tình với cô gia. Cô gia dãi gan ruột với họ mà không sợ.

Thiếu-Mai nghiêm mặt lại:

- Sự nghiệp vương gia bỏ xa Lưu-hầu, Vũ-hầu.

- Bằng Quản Trọng, Nhạc Nghị chăng?

- Hơn thế nữa.

- Bằng Chu-công chăng?

- Hơn nữa!

Triệu Thành như ngừng thở:

- Đến đâu? Thưa cô nương?

- Ít ra cũng bằng Quang-Vũ nhà Hán, hay Vũ-đế nhà Ngụy, Thái-tông nhà đường. Nhưng tiểu nữ e rằng không thua Lưu Bang lập lên nhà Hán. Lý Uyên lập lên nhà Đường.

Vương Duy-Chính ngơ ngẩn cả người:

- Ít ra cũng bằng Quang-Vũ, Vũ-Đế... Vậy sự nghiệp vương gia ra sao ???

- Tôi muốn ví cao hơn nữa kia, sợ các vị không tin.

Địch Thanh nhăn mặt:

- Còn ai hơn các vị hoàng-đế trên đâu?

Thiếu-Mai cười khúc khích:

- Địch trạng nguyên quên mất vua Thành-Thang nhà Hạ, vua Văn nhà Chu sao?

Cả bọn đều ồ lên. Địch Thanh chữa:

- Thang, Văn vốn là hai thánh nhân nước tôi, đức trùm hoàn vũ.

Thiếu-Mai đưa mắt nhìn Triệu Thành:

- Vì lý do nào trạng nguyên bảo vương gia không bằng vua Thang, Văn?

Địch Thanh liếc nhìn Triệu Thành, thấy mặt chủ nhân hiện ra vẻ sung sướng. Y nghĩ thầm:

- Mình không nên cãi với vị cô nương này. Hãy chờ xem y thị nói gì đã.

Thiếu-Mai chép miệng:

- Tài, đức vương gia, hiện khắp Tống, Liêu, Kim, Đại-Lý không ai sánh kịp. Vương gia thử nghĩ xem, đến như đại sư Minh-Thiên, lão nhân Đông-Sơn, khắp Hoa, Việt e không có hai. Văn võ kiêm toàn như Dư, Vương đại nhân đây, sợ trong thiên hạ đếm trên đầu ngón tay. Thế mà tất cả đều quy về dưới trướng vương gia. Nếu vương gia không đức, sao thu phục được các vị? Trong thiên hạ không ai sánh kịp với vương gia.

Triệu Thành muốn đứng tim. Y hỏi:

- Tại sao cô nương nói cô gia có mệnh, có thời, mà thiếu chí?

- Đúng thế. Dù tiểu nữ bắt mạch, dù tiểu nữ xem tướng, đều thấy vương gia thuộc loại đế vương, uy danh như Đường Thái-tông. Đó là mệnh. Mạch vương gia nhảy thông như nước sông chảy, không vướng, không mắc, thời luôn đến với vương gia. Nếu vương gia có chí, ắt sự khắc thành.

Triệu Thành mừng run lên. Y nghĩ thầm:

- Ừ nhỉ, chẳng bao giờ mình nghĩ đến làm vua. Tài, đức, mệnh, thời có cả. Nhưng mình lại không muốn làm vua.

Y hỏi lại:

- Như cô nương dạy. Thời đến, nhưng tại sao tại hạ thất bại liên tiếp ở Đại-Việt?

Thấy Triệu Thành xưng tại hạ, bỏ tiếng cô gia. Thiếu-Mai biết y đã xiêu lòng, tin lời mình. Nàng cười:

- Mệnh vương gia do trời khiến. Trời sai vương gia xuống làm vua Trung-quốc, chứ đâu có làm vua Đại-Việt? Cao-tổ nhà Hán, nhà Đường không hề chiếm Đại-Việt. Trời sai vương gia định Trung-nguyên, mà vương gia sang hoạt động ở Đại-Việt, tức ra ngoài cái hào quang của mình, vương gia thất bại là phải.

Triệu Thành im lặng suy nghĩ. Trong lòng y nổi lên cơn bão táp:

- Lê cô nương bàn thực không sai. Ta nhân đây, dò hỏi về vận số bọn Giao-chỉ xem sao, rồi mới hành động cũng chưa muộn.

Y hỏi:

- Theo cô nương, mệnh của tại hạ so với mệnh của Lý Long-Bồ, ai lớn hơn? Ai phải khuất phục ai?

Thiếu-Mai chưa kịp trả lời, đã nghe Mỹ-Linh dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai:

- Giang sơn nào, anh hùng ấy.

Thiếu-Mai đang định trả lời mệnh Khai-Quốc vương lớn hơn, nay nghe Mỹ-Linh nói, nàng vờ cầm lại mạch Triệu Thành, rồi tiếp:

- Nếu vương gia hỏi voi với cọp, con nào lớn hơn, tiểu nữ sẽ trả lời voi lớn. Còn vương gia hỏi rồng vàng với rồng đỏ, rồng nào mạnh. Tiểu nữ không thể trả lời được. Trời sai hai vị đồng tử giáng sinh. Một gồm thâu Tây-hạ, Cao-ly, Liêu, Kim, ngự trị Trung-nguyên. Một thống lĩnh Đại-Việt, Đại-lý, Chiêm-thành, Chân-lạp, Xiêm-la. Như vậy không ai lớn hơn ai cả.

Minh-Thiên thoáng vẻ nghi ngờ. Ông dùng Lăng-không truyền ngữ rót vào tai Triệu Thành:

- Coi chừng Lê cô nương bịa đặt, đưa chúng ta vào bẫy. Ta phải cẩn thận lắm mới được. Vương gia hỏi về việc Lưỡng-Quảng cùng 207 khê động xem sao.

Triệu Thành nhìn thẳng vào mặt Thiếu-Mai:

- Cứ như cô nương nói, Hoa, Việt không nên có chiến tranh. Song tại hạ biết Long-Bồ đang vận động đòi lại đất thời Lĩnh-Nam. Trong cuộc chiến này, ai thắng, ai bại?

Thiếu-Mai hiểu ý Thành. Nàng nghĩ nhanh:

- Đời nào y chiếm được ngôi vua. Chi bằng ta nói lợi cho y thì xong.

Nàng đáp:

- Không thể có chiến tranh Hoa, Việt. Tiểu nữ xem thiên văn, thấy vương gia với Khai-Quốc vương sẽ trở thành đôi bạn thân sau này. Có điều, hiện vận số hai vị đều chưa tới thời nên hiểu lầm nhau đấy thôi.

Vương Duy-Chính chau mày:

- Vương gia! Vương gia chẳng nên tin tướng số huyền hoặc, e hư việc nước.

Dư Tĩnh cũng nói:

- Dường như Lê cô nương định cài bẫy vương gia thì phải.

Triệu Thành hơi chột dạ. Y truy đến cùng:

- Cô nương thử đoán xem, bao giờ tại hạ với Long-Bồ xích lại gần nhau?

- Đến nơi rồi. Xích hay không, do vương gia. Tự vương gia chưa chính vị, sao Khai-Quốc vương đến với vương gia?

- Tại hạ không hiểu!

- Này nhé, vương gia là chính mệnh thiên tử Trung-nguyên. Nhưng vương gia chỉ vẫn cam phận làm thân vương. Như thế chưa chính vị. Vương gia ơi, phàm một chính mệnh thiên tử, có hàng trăm, hàng ngàn thần linh theo phò tá. Bởi vậy thiên tử làm gì cũng thành. Vương gia chưa nghĩ tới, tức chưa chính vị, chẳng thần nào phù trợ vương gia cả. Nếu như bây giờ, vương gia khấn trời, nguyện thuận mệnh cai trị muôn dân. Lập tức chư thần kéo đến phù trợ vương gia ngay.

Nàng ngừng lại một lát, tiếp:

- Như Khai-Quốc vương. Cho đến hôm đại hội, vương mới được anh hùng cử vào ngôi trừ quân. Đó là vương đã chính vị. Chư thần ắt đưa đường cho vương gần với thiên tử Trung-quốc.

- Cứ như cô nương luận. Nếu tại hạ khấn trời, ắt giữa tại hạ với Khai-Quốc vương sẽ gần nhau.

- Đúng thế. Ngọc-Hoàng thượng đế sai hai đồng tử giáng sinh. Ngài cũng cho thiên tướng giáng sinh theo hầu phù tá. Như Khai-Quốc vương được Đại-Việt ngũ long, công chúa Bình-Dương, thế-tử Thiệu-Thái, quận chúa Bảo-Hòa theo về. Còn vương gia, được các vị anh hùng có mặt đây qui tâm. Nếu như vương gia khấn trời xin ngồi vào chính vị xong, sau đó nếu vương gia gặp bọn Bình-Dương, Thiệu-Thái, ngay cả Khai-Quốc vương... họ đều có hành động thuận tiện cho vương gia.

Dư Tĩnh đứng lên chắp tay hướng Lê Thiếu-Mai:

- Nếu sau đây đúng năm ngày, vương gia tự nhiên khỏi bệnh, bọn tại hạ nguyện báo đáp cô nương. Bây giờ xin cô nương trở về phòng nghỉ, dịch sách cho bọn tại hạ.

Thiếu-Mai đứng lên chắp tay từ tạ, rồi trở về phòng mình. Đội Đam bảo Mỹ-Linh:

- An! Người theo hầu Lê cô nương.

Y chỉ Thiệu-Thái:

- Bình! Người theo hầu thầy đồ Ngọc-Phách.

Y chỉ Lệ-Thanh:

- Tĩnh! Người theo ta.

Ba ngày trôi qua. Thiếu-Mai, Ngọc-Phách hằng ngày dịch sách. Còn Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, Lệ-Thanh đóng vai thủy thủ theo hầu. Thuyền vẫn đi về phía Bắc. Ngày nào Thiếu-Mai cũng dùng châm cứu trị đau nhức cho bọn Tống. Hôm ấy, thủy thủ báo với Dực-Thánh vương:

- Thuyền đi vào địa phận Tiên-yên. Chỉ còn mấy giờ nữa tới lãnh hải Trung-quốc. Xin vương gia định liệu.

Dực-Thánh vương truyền lệnh:

- Cả hạm đội neo ở Tiên-yên lấy nước ngọt, thực phẩm đã, rồi hãy liệu.

Cả bọn kéo nhau lên sàn thuyền. Thiếu-Mai, Ngọc-Phách cũng được lên để hóng gió. Triệu Thành đối với Thiếu-Mai bằng tất cả sự kính trọng khác thường. Y nói với Dực-Thánh vương:

- Vương gia có thể cho chúng tôi lên bờ dạo chơi chăng?

Dực-Thánh vương cung kính:

- Nếu thiên sứ đại vương thích, tiểu vương xin kính thỉnh.

Thuyền từ từ đi vào cảng Tiên-yên.

Thời bấy giờ cảng Tiên-yên có căn cứ thủy quân Bắc-biên của Đại-Việt. Lúc nào cũng có một hạm đội đóng ở đây. Cảng Tiên-yên là nơi thuyền buôn Đại-Việt xuống hàng, rồi chở sang Trung-quốc. Nó cũng thuộc trạm thuyền buôn Trung-quốc chở hàng đến bán. Vì vậy trấn này thuyền bè đậu san sát.

Soái thuyền từ từ đi vào cảng. Thiếu-Mai nói với Triệu Thành:

- Vương gia! Tiểu nữ có thể theo vương gia dạo chơi cảng Tiên-yên không?

- Được chứ! Tại hạ hân hạnh được đi cùng cô nương.

Dực-Thánh vương cản:

- Vương gia cẩn thận. Lỡ Lê cô nương lên bờ, rồi trốn biệt thì sao?

Thiếu-Mai cười:

- Bình-Nam vương đã khấn trời, chính vị, tiểu nữ cầu theo phò tá còn không xong. Việc gì phải trốn.

Nàng nói với Triệu Thành:

- Từ nay vương gia gặp lại những người đối đầu với vương gia ở Đại-Việt, xin vương gia đổi thái độ. Bởi trước kia, họ chống một vương tước Đại-Tống. Bây giờ vương gia chính vị, tự nhiên họ qui tâm. Vương gia hãy quên truyện cũ. Như vậy mới đúng đạo đế vương.

Triệu Thanh gật đầu. Y nói với Dực-Thánh vương:

- Vương gia không nên cho dân chúng biết căn cước bọn tôi. Có như vậy, chúng tôi mới được ngao du tự do. Xin vương gia cho đội Đam dẫn chúng tôi cũng được rồi.

Dực-Thánh vương biết bọn Triệu-Thành có mưu đồ gì đây. Tuy vậy vương cũng không thể trái ý y.

Thuyền ghé vào cảng. Triệu Thành quay lại nói:

- Đội Đam! Người dẫn theo ba thủy thủ cùng bọn ta dạo cảng Tiên-yên.

Triệu Thành chỉ cho Địch Thanh, Dư Tĩnh theo y mà thôi. Còn lại tất cả ở trên thuyền. Y sóng vai Thiếu-Mai lên bờ. Phía sau y, Địch Thanh, Dư Tĩnh. Đội Đam đi trước cùng Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, Lệ-Thanh dẫn đường. Dân chúng thấy ba người mặc quần áo theo lối quý phái Tống, cùng một thiếu nữ Việt. Phía trước có ba thủy thủ dẹp đường. Họ đoán đây chắc phú thương Tống, chứ không ngờ là sứ đoàn thiên triều.

Tới một tửu lâu, Triệu Thành chỉ tay lên nói:

- Tại hạ bạo gan, muốn mời Lê cô nương lên trên kia uống chén rượu, nên chăng?

Thiếu-Mai nói nhỏ:

- Đa tạ vương ban cho ăn.

Vừa vào tửu lâu, Mỹ-Linh nhận thấy hai tửu bảo rất trẻ ra tiếp. Trên nút áo của họ đều có sợi chỉ đỏ. Đội Đam kính cẩn nói:

-- Thỉnh vương gia cùng các vị lên lầu xơi rượu. Bọn tiểu nhân xin ở dưới này canh gác.

Bọn Triệu Thành lên lầu rồi. Đội Đam kêu tửu bảo:

- Người cho ta một bàn dưới này.

Nói rồi y khoằm khoằm ngón tay làm hiệu. Tửu bảo nháy mắt với Mỹ-Linh:

- Mời đại ca vào nhà rửa tay.

Mỹ-Linh đồ chừng tửu bảo đã biết rõ nàng. Nàng đứng lên theo y. Y chỉ vào một phòng tối:

- Đại ca vào đó rửa tay đi.

Nàng vừa bước vào. Y đóng cửa lại. Nàng nhìn bên trong, dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn, có hai người. Nàng bật lên tiếng kinh ngạc.

Chương 15: Chân mệnh thiên tử

Chân mệnh thiên tử. - -

Nguyên bên trong, có hai người: Thông-Mai, Bảo-Hoà. Bảo-Hoà cười:

- Mỹ-Linh với lợn làm việc được quá. Cậu hai khen đấy. Lê Thiếu-Mai thuyết sao để tên Triệu Thành tin tưởng, như vậy ta thành công một nửa rồi. Nào chúng ta đi gặp cậu hai.

Đến đó Thiệu-Thái, Đỗ Lệ-Thanh cũng đã vào phòng.

Bảo-Hoà mở cánh cửa phía sau. Năm người ra vườn, sang ngôi nhà bên cạnh. Bảo-Hoà gõ cửa ba tiếng nhỏ, một tiếng lớn. Cánh cửa mở ra. Bên trong là một căn phòng khá lớn, có nhiều người cùng ngồi. Mỹ-Linh nhận ra Khai-Quốc vương, sư phụ, Thanh-Mai, Nùng đạo sư.

Không ngăn được cảm động, nàng chạy lại nắm tay sư phụ:

- A-Di Đà-Phật! Đức Phật hộ trì cho lão nhân gia tâm thường an lạc.

Huệ-Sinh mỉm cười:

- Những việc con làm cũng đủ cho sư phụ an lạc rồi.

Khai-Quốc vương vuốt tóc cháu:

- Con gái chú giỏi quá. Thuật cho chú nghe mọi biến chuyển trên soái hạm xem nào.

Mỹ-Linh thuật từng chi tiết một. Khai-Quốc vương gật đầu:

- Trước đây ông bàn với chú rằng, hiện binh lực Tống hùng mạnh, quốc sản dư thừa. Chúng đang lăm le xâm lăng Đại-Việt, Đại-Lý. Trong khi đó, ta chưa thống nhất được tộc Việt. Ta cần có kế hoạch làm giảm sức mạnh Tống trong khoảng mười năm. Với mười năm, ta đủ thời giờ thống nhất tộc Việt thành một khối. Bấy giờ, ta không sợ chúng nữa.

Thanh-Mai tiếp:

- Việc thống nhất, hiện ta mới được Đại-Việt, Chiêm-thành, Lão-Qua, Chân-lạp, Xiêm-la. Chỉ còn Đại-lý với Ngô-Việt nữa là xong. Nhưng chặng cuối cùng mới khó.

Khai-Quốc vương tiếp:

- Ông bàn với chú, muốn cho Tống yếu, sao phải khích cho Tống có nội loạn. Chú đưa ý kiến hiện Triệu Thành cầm binh quyền trong tay. Y lại thống lĩnh võ lâm Trung-nguyên. Ta phải vu cho y sắp cướp ngôi vua Tống. Như vậy Lưu hậu ắt cách chức y. Lực lượng võ lâm tan rã. Không ngờ bây giờ cháu với Lê tiểu thư đã thành công. Dù y không cướp ngôi, song tin này đưa về Biện-kinh ắt Lưu hậu có cớ hạ y. Thế lực y lớn, đời nào y chịu để cho bà tung hoành. Hai hổ nhất định cắn cấu nhau.

Mỹ-Linh hỏi chú:

- Chú làm thế nào mà Lê tiểu thư chịu giúp ta việc khó khăn này?

Khai-Quốc vương biết mưu kế của mình, cháu đã nhìn ra. Vương hỏi:

- Cháu thử đoán xem.

- Trong đầu óc Triệu Thành, y nghĩ rằng Hồng-Sơn đại phu thù hận triều Lý với triều Tống. Vì vậy những điều mà người thân với Hồng-Sơn đại phu nói hay cho Tống, ắt không cần nghi ngờ.

- Giỏi.

- Chú nhờ Hồng-Sơn đại phu giúp một tay. Hồng-Sơn đại phu sai chị Lê Thiếu-Mai giúp chú.

- Giỏi.

- Trong tay chú có tên Ngô Tích giả đầu hàng. Chú vô tình tiết lộ cho y biết chị Lê Thiếu-Mai giỏi chữ Khoa-đẩu. Trong thành Thăng-long có thầy đồ Ngọc-Phách cũng giỏi chữ Khoa-đẩu. Thế là Triệu Thành cho người bắt cóc Lê Thiếu-Mai, Ngọc-Phách. Như vậy Triệu Thành tin tưởng rằng Lê Thiếu-Mai vốn thù Tống, bây giờ thêm lần thù nữa. Thế mà Lê đoán rằng y vốn thực chân mệnh thiên tử thì sai sao được.

- Giỏi.

- Nhưng cháu sợ một điều.

- Điều gì?

- Chị Thiếu-Mai là người sắc nước hương trời. Triệu Thành lại quá kinh nghiệm về đàn bà. Hai người gần nhau, lỡ tình cảm sinh ra thì sao?

Khai-Quốc vương cười:

- Cháu đừng lo. Lê tiểu thư là người ôn nhu văn nhã, nhưng lại có kiến thức vô song, nàng cực kỳ tự hào về giòng giống Việt của mình. Nếu Lê tiểu thư có gì với Thành, ắt Thành phải nghiêng theo Lê tiểu thư. Đó là điều ta mong mà không được .

Vương ngừng một lát tiếp:

- Chúng ta phải làm sao cho lời của Lê tiểu thư trở thành đúng. Có như vậy Triệu Thành mới tự tin y chính vị thiên tử.

Mỹ-Linh xoa hai tay vào nhau:

- Chiều nay Đỗ phu nhân bỏ thuốc giải vào canh cho Triệu Thành ăn vào. Bệnh y tự nhiên khỏi, đúng như lời Thiếu-Mai đoán. Như thế y tin một phần. Khi sang đến Khâm-châu, chúng ta từ từ xuất hiện, người nào cũng tỏ ra cung kính, xu phụ y. Như vậy y càng tin hơn.

Thanh-Trúc hỏi:

- Lỡ ra anh hùng Trung-nguyên tin lời Thiếu-Mai, theo y đông quá, hoá ra ta chắp cánh cho hổ thì nguy tai.

Khai-Quốc vương cười:

- Khi y chuẩn bị cướp ngôi, ta sẽ thông báo kế hoạch cho Lưu hậu. Lưu hậu bắt giam y, rồi truy lùng võ lâm Trung-nguyên. Thế là Tống yếu ngay.

Thiệu-Thái hỏi:

- Mai này Triệu Thành sẽ tìm cách kết thân với cậu. Trường hợp y thực tâm kết bạn với Đại-Việt. Ta phải có thái độ nào?

Khai-Quốc vương mỉm cười:

- Ta cũng đối lại bằng tình thực với y. Nếu việc này xẩy ra thì hay biết bao. Ta giúp y nắm quyền Trung-nguyên, kết hiếu Tống-Việt.

Vương ngồi ngay ngắn lại:

- Bây giờ thế này.

Vương ngừng lại, chỉ Đỗ Lệ-Thanh:

- Đỗ phu nhân vẫn giả làm thủy thủ. Trong khi Mỹ-Linh Thiệu-Thái bỏ hoá trang. Ta đã cho hai thủy thủ khác thay thế vào chỗ hai cháu rồi. Nếu bọn Triệu Thành thấy hai thủy thủ lạ. Đội Đam nói rằng chính y cho thay người hầu. Nào bây giờ ai vào việc đó. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái thay quần áo, rồi lên lầu gặp Triệu Thành.

Vương chỉ vào bốn cái hũ lớn bên cạnh:

- Chú đem theo bốn hũ rượu đặc sản của Đại-Việt là đậu-nành, nếp cẩm cất bằng nước lá sen, cắc kè, với thập đại danh hoa. Cháu nói rằng của mạ mạ dâng Triệu Thành. Như vậy càng tăng lời của Lê tiểu thư lên.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái thay quần áo, trở thành đôi trai gái con nhà giầu, lưng đeo kiếm, hiên ngang dạo phố một vòng. Rồi hai người trở lại tửu lầu. Tửu bảo cung kính chắp tay:

- Kính mời công tử, tiểu thư lên lầu xơi rượu.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái leo lên lầu. Vừa bước vào, nàng đã thấy bọn Triệu Thành, Thiếu-Mai đang ngồi đánh chén. Nàng lờ đi, như chưa nhận ra chúng. Tửu bảo chỉ một bàn nhỏ chưng hoa rất đẹp:

- Mời cô cậu ngồi đây ạ.

Bọn Triệu Thành quay lại. Nhận ra Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, y kinh ngạc, đưa mắt cho Địch Thanh. Mỹ-Linh lờ đi, ngồi đối diện với Thiệu-Thái. Nàng gọi tửu bảo:

- Hôm nay ngày mồng một, tôi ăn chay. Xin cho hai bát canh rau đay lạt, hai đĩa rau luộc chấm với tương. Nếu có đậu phụ kho chay, cho thêm một điã.

Đến đó nàng ngửng đầu lên, thấy Triệu Thành, vội chắp tay cung kính:

- Lý Mỹ-Linh cùng Thân Thiệu-Thái kính cẩn ra mắt vương gia.

Triệu Thành mới thấy Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, những tưởng hai người sẽ thanh toán y. Y đang kinh sợ, thì Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đối với y cực kỳ cung kính. Y chưa hết ngạc nhiên, Thiếu-Mai nhắc y:

- Vương gia đừng quên mình đã chính vị. Hai người kia hành lễ, vì chư thần nhập vào họ thúc đẩy đấy.

Đúng ra, Triệu Thành cực kỳ linh mẫn, mấy lời của Thiếu-Mai dễ gì y tin? Nhưng một, y tham vọng quá lớn. Tham vọng che lương tri. Hai, lời Thiếu-Mai đoán trên thuyền, nay ứng vào sự thực. Ba là y say mê nhăn sắc của nàng, nên minh mẫn mất hết. Y tin tưởng hoàn toàn, chắp tay đáp lễ:

- Công chúa, thế tử không nên đa lễ. Hai vị đi đâu đây?

Mỹ-Linh nháy Thiệu-Thái. Cả hai đến trước Triệu Thành định quỳ gối hành đại lễ. Triệu Thành tin lời Thiếu-Mai, y nghĩ mình bây giờ đã chính mệnh thiên tử, nên hai người võ công trùm Đại-Việt, chống đối y bấy lâu, lại khom lưng, quỳ gối.

Y đỡ hai người, nói lời nhã nhặn:

- Cô gia xin mời hai vị ngồi chung bàn, nên chăng?

Thiệu-Thái càng tỏ nhũn nhặn:

- Tiểu nhân muôn nghìn lần không dám.

Hai người về bàn ngồi. Triệu-Thành hỏi:

- Công chúa, thế tử đi đâu đây?

Thiệu-Thái cung cung, kính kính:

- Đêm qua, mạ mạ tiểu nhân mơ thấy chư thần về báo mộng rằng hôm nay, đúng giờ này, sẽ có Thanh-y đồng tử giáng hạ, sau thành chính mệnh thiên tử Đại-Tống. Người cùng Vũ-khúc tinh quân, sau thành nguyên suý, thêm Văn-khúc tinh quân, mai này thành thừa tướng. Cả ba đến đây uống rượu. Vì vậy mạ mạ sai tiểu nhân cùng Mỹ-Linh phải đón tiếp. Nào ngờ... thiên tử là chính vương gia. Nguyên súy chính là Địch trạng nguyên. Tể tướng chính Dư an phủ sứ.

Triệu Thành sướng không bút nào tả siết. Y nắm tay Thiệu-Thái:

- Cô gia về bằng đường biển, không có dịp ghé Bắc-biên thăm vua Bà. Tiếc quá. Thế nào, vua Bà cùng Thân phò mã vẫn mạnh chứ?

- Đa tạ vương gia. Hai thân tiểu nhân vẫn mạnh. Người sai tiểu nhân mang bốn vò rượu, đặc sản Đại-Việt dâng vương gia. Hiện rượu để trên lưng ngựa dưới nhà. Lát nữa tiểu nhân thân mang xuống chiến hạm.

- Khai-Quốc vương đâu?

Mỹ-Linh đáp:

- Khải tấu vương gia, chú của thần hiện ở Thăng-long. Dường như người lên đường sang sứ bên Đại-Tống. Thần lên Bắc-biên thăm cô mẫu ít ngày. May mắn được gặp vương gia. Không hiểu sau lần này, biết đến bao giờ thần mới được bệ kiến.

Nói rồi nàng tỏ ra luyến tiếc vô cùng.

Nghe chữ bệ kiến, Triệu Thành run lên:

- Công chúa muốn đi cùng cô gia chăng?

Mỹ-Linh khúm núm:

- Nếu được vương gia ban ơn, thực không gì quý bằng. Tiện nữ nghĩ lại trước đây, không biết chính mệnh thiên tử, có hành động chống đối. Tội muôn thác. Mong Vương-gia đại xá cho.

Triệu Thành nghĩ thầm:

- Nếu được hai đứa này theo phò trợ, thực không gì quý bằng. Bọn Vương Duy-Chính, Dư Tĩnh bì thế nào được.

Triệu Thành gật đầu:

- Không biết là không có tội. Cô gia được công-chúa, thế-tử theo phò tá. Sau khi thành đại nghiệp, cô gia sẽ trao cho công-chúa, thế-tử cầm đại quân.

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đứng lên vái tạ.

Địch Thanh thấy Triệu Thành tỏ vẻ trọng đãi Thiệu-Thái, Mỹ-Linh, trong y nảy ra lòng ghen tỵ. Y nhủ thầm:

- Võ công bọn này tuy hơn mình. Nhưng chúng nó gốc Nam-man, ta đâu sợ chúng chiếm mất địa vị? Vả, ta vốn là Vũ-khúc tinh quân giáng thế. Hẳn hai đứa phải kính trọng ta.

Triệu Thành nói với Mỹ-Linh:

- Cô gia mời hai vị sang Trung-nguyên du hành một lần cho biết. Nào chúng ta về chiến hạm.

Mỹ-Linh làm bộ hỏi:

- Khải tấu vương gia đi ngay ư ?

- Đúng thế. Cô gia được Dực-Thánh vương hộ tống về Trung-quốc. Chúng ta xuống chiến hạm, theo đường biển tới Khâm-châu. Sau đó vượt eo biển Hải-Nam tới Quảng-Đông. Từ Quảng-Đông chúng ta đi ngựa về Biện-kinh.

Triệu Thành đi song song với Mỹ-Linh, Thiệu-Thái. Trong khi bọn Địch Thanh lẽo đẽo theo sau. Bọn Minh-Thiên, Dực-Thánh vương thấy Mỹ-Linh xuống chiến hạm, họ kinh ngạc đến trợn trừng mắt ra nhìn. Mỹ-Linh làm như không biết Dực-Thánh vương đi đêm với bọn Triệu Thành. Nàng vẫy Thiệu-Thái hành lễ:

- Thần nhi kính cẩn vấn an đại vương.

Dực-Thánh vương hỏi:

- Hai cháu đi đâu đây? Công-chúa không ở thâm cung, đi ra ngoài loạn lên như thế này, còn đạo lý gì nữa?

Mỹ-Linh chửi thầm:

- Ông này bán nước, mà còn khéo giả vờ. Mình phải khích bọn Triệu Thành đá lão mới được.

Nàng cung kính đáp bằng ngôn ngữ bình dân:

- Thưa ông, chú hai sai cháu lên thăm cô chú ở Bắc-biên. Đêm qua, cô nằm mơ thấy thần nhân báo mộng rằng sáng nay có Thanh-y đồng tử, cùng Vũ-khúc tinh quân giáng hạ, sẽ tới trấn này. Sau Thanh-y đồng tử thành Hoàng-đế Đại-Tống. Còn Vũ-khúc tinh quân thành Đại nguyên nhung. Vì vậy cô sai anh Thiệu-Thái với cháu đi chầu người, làm lễ ra mắt. Bọn cháu chờ từ sớm, mới đây gặp vương gia cùng Địch trạng nguyên.

Hồi đầu, thấy Thiếu-Mai xem tướng, bắt mạch cho Triệu-Thành. Minh-Thiên tưởng bói toán quàng xiên, không thể tin. Sau Thiếu-Mai còn quả quyết trong năm ngày, bệnh Triệu Thành tự khỏi. Ông cũng như Dư Tĩnh, Vương Duy-Chính cùng hẹn với nhau:

- Trong khi chúa công tin tưởng vào lời Thiếu-Mai, mà ba người gạt đi, ắt chúa công không nghe nào. Hơn nữa có thể nghi ngờ lòng trung thành của mình. Cái hẹn năm ngày, bệnh chúa công tự khỏi đâu có xa?

Bây giờ, họ thấy Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, một cặp thiếu niên đệ nhất đối đầu của nhà Tống, bỗng ngoan ngoãn khuất phục vương gia của mình, ắt hẳn phải có nguyên do trọng đại lắm. Mỹ-Linh làm chưởng môn phái Mê-linh, một chính phái người nhiều thế mạnh. Thân Thiệu-Thái làm giáo chủ Lạc-long giáo, sức mạnh nghiêng nước... Cả hai đều theo về vương gia, thực nằm mơ họ cũng không tưởng nổi.

Trong khi đó Mỹ-Linh nghĩ thầm:

- Nguy tai! Nếu chị Thiếu-Mai với ta cố gắng dùng tướng mệnh thuyết phục Triệu Thành cướp ngôi Đại-Tống. Lại làm cho y tin tưởng rằng chú hai cũng là chính vì thiên tử tộc Việt. Như vậy Dực-Thánh vương tuyệt vọng cướp ngôi vua Đại-Việt, ắt ông phá mưu của ta mất. Ta phải làm sao đây?

Mỹ-Linh chú ý thấy Đông-Sơn lão nhân thủy chung nhắm mắt như người ngủ gật, không chú ý đến nàng với Thiệu-Thái.

Dực-Thánh vương hỏi Mỹ-Linh:

- Mạ mạ sai cháu đón Bình-Nam vương. Vậy bao giờ mạ mạ tới?

- Mạ mạ cháu sai bọn cháu chầu chân mệnh thiên tử, chứ không phải đón. Mạ mạ dặn sau đó chờ người ban chỉ dụ. Nay người truyền cho anh Thiệu-Thái với cháu theo hầu người. Cháu đâu dám vi chỉ?

Triệu Thành nghe Mỹ-Linh coi mình như Hoàng-đế thực thụ rồi. Trong lòng y mừng không bút nào tả siết. Y nói với Dực-Thánh vương:

- Trước kia công chúa Bình-Dương với cô-gia có chỗ hiểu lầm. Nay chỗ hiểu lầm đã xóa bỏ hết. Vương gia không nên nghi ngờ công-chúa làm chi.

Thiếu-Mai lắc đầu:

- Sự thực, trước kia vương gia chỉ là Bình-Nam vương, sao có thể để thần linh, cùng anh hùng thiên hạ qui phục. Nay vương gia chính vị, tự nhiên chúng nhân hướng về. Không hề có hiểu lầm hay chống đối gì cả, mà chỉ vì mệnh của vị thân vương với hoàng-đế khác nhau mà thôi.

Suốt mấy ngày qua, cứ đến giờ Ngọ, bọn Triệu Thành, Dư Tĩnh, Vương Duy-Chính đều bị lên cơn, đau đớn cùng cực. Thiếu-Mai phải dùng châm cứu tạm thời trấn tĩnh cơn đau. Bây giờ hạn năm ngày tới, bọn Minh-Thiên chờ xem có thấy Triệu Thành lên cơn không, để còn phán xét lời Thiếu-Mai.

Quả nhiên sắp tới giờ Ngọ, Quách Quỳ lên cơn trước, rồi tới Đoàn Thông, Dư Tĩnh, Địch Thanh v.v. Duy Triệu Thành, trái lại, mặt y hồng hào tươi tỉnh vô cùng.

Sự thực Đỗ Lệ-Thanh đã bỏ thuốc giải vào bát canh của Triệu Thành. Bệnh y khỏi rồi. Trong khi ăn sáng ở tửu lầu, đầu bếp khéo léo nấu món canh gà, đã thêm nước cốt Phục-linh, Sa-sâm, Đỗ-trọng, Kỷ-tử vào cho cả bọn ăn. Triệu Thành vừa khỏi bệnh, ăn vào càng thêm khoẻ mạch. Còn Địch Thanh, Dư Tĩnh trong người có độc chất, ăn phải vị bổ, lại đau thêm.

Thiếu-Mai lại dùng kim trấn tĩnh cơn đau cho mọi người. Triệu Thành đứng dậy chắp tay vái Thiếu-Mai:

- Lê cô nương! Đúng như lời cô nương đoán, bệnh quả nhân tự khỏi. Sau này thành đại nghiệp, cô gia sẽ phong cô nương làm ngự y. Còn các vị này, bao giờ mới khỏi bệnh?

Thiếu-Mai lắc đầu:

- Khó lắm. Tự nhiên, e mấy vị này không thể khỏi được. Trừ khi vương gia truyền chư thần cứu họ, thì trong năm ngày nữa sẽ khỏi bệnh.

Triệu Thành tưởng mình làm vua thực thụ rồi. Y phán:

- Hỡi chư thần. Chư thần hãy vì giang sơn vạn dậm Đại-Tống mà trị bệnh cho những vị phò trợ trẫm. Trẫm nguyện sẽ phong tặng xứng đáng cho chư thần.

Y nói với Thiếu-Mai:

- Đa tạ Lê tiểu thư.

Thiếu-Mai vờ chắp tay tạ ơn.

Chiến thuyền nhổ neo, rời cảng, hướng Khâm-châu. Đường biển từ cảng Tiên-yên đi Khâm-châu phải qua vùng vịnh có nhiều núi đá mọc lởm chởm. Thuyền không dám dương buồm, sợ chạy mau chạm phải đá ngầm. Vì vậy các thủy thủ ngồi vào vị trí, kéo mái chèo.

Nơi mà chiến thuyền đi đó, sau này đặt tên là vịnh Hạ-long. Ngoài khơi có hàng trăm ngàn núi đá, thạch nhũ, đủ mọi hình thù kỳ dị. Ánh nắng chiếu vào thạch nhũ, phản chiếu thành muôn mầu vạn sắc long lanh. Mọi người có cảm tưởng như đang đi vào thế giới Bồng-lai.

Dực-Thánh vương truyền bắc ghế lên sàn thuyền, sai bầy tiệc rượu để Triệu Thành vừa uống vừa ngắm cảnh. Bây giờ Địch Thanh đã tin lời Thiếu-Mai, y vốn là Vũ-khúc tinh quân giáng thế. Y hỏi:

- Lê tiểu thư. Tại hạ là Vũ-khúc tinh quân. Dư sư huynh là Văn-khúc tinh quân. Vương chuyển vận sứ là Văn-xương tinh quân. Thế còn Minh-Thiên đại sư vốn là sao nào?

Thiếu-Mai lắc đầu:

- Đại sư không ở trên Thiên-cung. Người vốn là một vị Bồ-tát ở Tây-phương cực lạc, tuân lệnh Phật-tổ đầu thai giúp Thanh-y đồng tử.

Minh-Thiên không định được tâm, ông ngơ ngác cả người:

- Bần tăng là?

- Bồ-tát Đại-Huệ.

Mọi người ồ lên. Quách Quỳ hỏi:

- Thái sư phụ! Bồ tát Đại-Huệ hành trạng ra sao?

- Đại-Huệ dịch từ tiếng Phạn Mahâmati. Hồi đức Thích-ca Mâu-ni đến núi Lăng-già. Bồ-tát ngồi làm Thượng-thủ, kính cẩn xin Phật thuyết pháp. Nhân đó ngài giảng kinh Lăng-già.

Đến đây ông đưa mắt nhìn Mỹ-Linh:

- Công chúa! Nghe công chúa làu thông kinh Lăng-già, nên luyện thành Vô-ngã tướng Thiền-công. Có phải không?

Đối với vị đại sư này, Mỹ-Linh kính trọng hơn cả. Nhất là hôm đại hội, ông bị Nhật-Hồ đánh bại, mà thản nhiên như không. Rõ ràng tư cách đó chỉ người đắc quả mới có. Nàng cung kính :

- Bạch đại sư, đệ tử được sư phụ giảng dạy thực nhiều. Song ngộ tính cũng như duyên phận chưa đủ, thành ra chỉ dậm chân ở ngưỡng cửa Bồ-đề mà thôi.

- A-di Đà-Phật! Công chúa thực khiêm tốn. Công chúa mới bằng này tuổi đầu, mà võ công, mưu trí khó ai sánh kịp. Ắt hẳn sau này tiến trình còn xa lắm.

Mỹ-Linh nói thực:

- Tiểu nữ mong báo hiếu Quốc-tổ, Quốc-mẫu, nội tổ, song thân, thúc phụ xong, rồi vào chốn Không-môn tìm lẽ giải thoát, chứ cái thân vô-thường này đâu có đáng gì?

Dư Tĩnh hỏi:

- Hiện giờ công chúa biết chúa công tôi là chính vị Thiên-tử, nên theo phò. Nếu như sau này, giữa Khai-Quốc vương với chúa-công tôi có sự tranh chấp. Công chúa sẽ giúp ai?

Mỹ-Linh lắc đầu:

- Không thể có truyện đó. Vương gia là chính vị Thiên-tử Bắc. Chú tiểu nữ là chình vị Thiên-tử Nam. Nam không xâm Bắc. Bắc chẳng đánh Nam. Ai trái lại mệnh trời, sẽ bị chu diệt. Tuy nhiên...

Mỹ-Linh im lặng suy nghĩ, tìm lời giải thích, Triệu Thành tưởng nàng chưa muốn nói hết. Y gặng:

- Tuy nhiên sao?

- Tuy nhiên hiện thời của Thiên-tử Bắc đã tới. Cho nên tiểu nữ phải theo phò tá. Sau khi vương gia thành đại nghiệp, mãi hơn hai mươi năm sau thời của thúc phụ tiểu nữ mới tới. Bấy giờ tiểu nữ về nước phò tá người cũng vừa.

Lúc đầu, nghe Thiếu-Mai bói cho Triệu Thành, Dực-Thánh vương ghét lắm. Ông cho rằng nàng bịa đặt. Bây giờ, thấy mọi việc xẩy ra có thứ lớp, khiến ông cũng tin:

- Lê cô nương! Vận mạng tương lai của lão phu ra thế nào xin cô nương dạy cho.

Thiếu-Mai ngắm nhìn ông một lúc rồi nói:

- Vương gia vốn họ Lý. Họ Lý được ngôi mộ Cổ-pháp, phát tới hơn hai trăm năm. Sự nghiệp rạng rỡ vô cùng. Vương gia cũng được hưởng phúc trạch ấy. Sau này vương gia sẽ làm vua Đại-Việt.

Địch Thanh lắc đầu:

- Hôm qua, cô nương nói Khai-Quốc vương là chính mệnh Thiên-tử Nam. Bây giờ cô nương lại bảo Dực-Thánh vương làm vua Đại-Việt. Vậy ra nước có hai vua sao?

Thiếu-Mai cười :

- Vũ-khúc tinh quân nghe không kỹ mất rồi. Tiểu nữ nói Dực-Thánh vương làm vua Đại-Việt. Còn Khai-Quốc vương làm vua tộc Việt tức bao gồm Đại-lý, Đại-Việt, Chiêm-thành, Lão-qua, Chân-lạp, Xiêm-la. Tức một vị Hoàng-đế. Như Hoàng-đế Đại-Tống, dưới còn có vua Tây-hạ, Cao-ly v.v.

Dực-Thánh vương nghe Thiếu-Mai nói, trong lòng ông vui không bút nào tả siết. Ông nghĩ thầm:

- Mình chỉ ao ước làm vua Đại-Việt cũng đã vượt ra ngoài ước vọng rồi.

Thình lình viên thuyền trưởng đến trước Đoàn Thông:

- Trình đề đốc, phía trước có hai con thuyền đang chạy ngược chiều với ta, dường như thuyền buôn. Xin đề đốc ban lệnh.

Đoàn Thông đứng dậy, leo lên trên viễn vọng đài quan sát: Xa xa, quả có hai con thuyền khá lớn, đang chạy ngược chiều lại. Song vì xa quá, không thấy rõ cờ hiệu, cũng không phân biệt được dân thuyền hay chiến hạm. Y ra hiệu thuyền cứ thẳng tiến tới. Một mặt y cho lệnh báo động.

Thủy quân đời Lý tuy không mạnh bằng đời Lĩnh-Nam. Nhưng từ cổ, người Việt vốn giỏi thủy tính. Cho nên đời nào thủy quân cũng hùng mạnh. Thời Lĩnh-Nam, công chúa Gia-hưng Trần Quốc làm Đại đô-đốc, phá tan hạm đội Hán ở Nam-hải, giết Đại đô-đốc Hán là Nam-an hầu Đoàn Chí. Sau còn đánh cho Mã Viện một trận nghiêng ngửa ở hồ Lãng-bạc.

Thời Ngô, Ngô-vương phá Nam-hán ở Bạch-đằng. Thời Lê, lại phá Tống cũng ở Bạch-đằng nữa. Thủy quân luôn luyên tập. Vì vậy một hồi tù và báo lên. Lập tức mỗi người ngồi vào vị trí của mình. Kẻ thủ cung tên. Người thủ máy phóng lao.

Hai cánh buồm nhỏ dương lên, bọc gió căng no. Thuyền vùn vụt tiến tới.

Bọn Triệu Thành cũng đứng dậy quan sát. Mỗi lúc hai chiếc thuyền một tới gần hơn. Viên thuyền trưởng la lớn:

- Một thuyền lạ, đang đuổi theo thuyền của bang Hồng-hà bên Đại-Việt.

Dực-Thánh vương ra lệnh:

- Cho thuyền mình dàn ngang, chờ xem sự thể ra thế nào đã.

Mỹ-Linh nhìn kỹ, thấy con thuyền của bang Hồng-hà như chở nặng, khẳm hẳn xuống, nên đi rất chậm. Còn con thuyền kia dường như không chở gì, phăng phăng lướt rất nhẹ nhàng.

Hạm đội Động-đình dàn hàng ngang ra một tuyến dài chờ đợi. Khi còn cách xa soái thuyền hơn ba dặm. Con thuyền sau đuổi kịp thuyền trước, ép lại như uy hiếp. Hai bên dùng tên bắn sang nhau.

Dực-Thánh vương truyền lệnh cho soái thuyền xông thẳng tới. Các thủy thủ ra sức chèo.

Một người đứng trên đài chỉ huy con thuyền nhỏ lên tiếng:

- Chúng ta đang có việc làm ăn riêng tư. Thuyền nào kia, mau tránh ra chỗ khác. Địch Thanh la lớn:

- Chúng ta nhân đi qua đây, thấy sự lạ, ngừng lại xem. Các người đang đánh giết nhau, xin cứ tiếp tục. Chúng ta muốn coi chơi cho vui vậy mà.

Có tiếng từ con huyền lớn nói vọng sang:

- Bọn Đường-lang các ngươi thật là quân mặt dầy. Từ trước đến nay, giữa bang Hồng-hà chúng ta với bang của người, mỗi bên một giang sơn. Hà cớ hôm nay các người ỷ đông bức chúng ta. Mối hận này các người hãy nhớ lấy.

Mỹ-Linh nhận ra người nói đó là Sử Anh, bang chủ bang Hồng-hà. Một người trên thuyền bang Đường-lang cười khành khạch:

- Chết đến gáy rồi, mà còn già họng. Hôm nay ta đưa các người xuống Đông-hải long cung chơi, không cho một mống nào sống sót. Bang chúng các người có tài kinh thiên động địa cũng không biết người chết trong trường hợp nào.

- Tào-Minh! Nếu mi có giỏi, hãy cùng chúng ta một chọi một mới là anh hùng. Còn lấy số đông áp đảo, ta không phục.

Triệu Huy kinh lịch giang hồ nhiều, y nói nhỏ với Triệu Thành:

- Vương gia! Sử Anh giữ chức bang chủ Hồng-hà. Y gốc người đất Mân sang Đại-Việt buôn bán đã hai đời. Thế lực bang Hồng-hà rất lớn. Dưới quyền y có hơn năm trăm thương thuyền buôn bán khắp sông ngòi, biển Hoa-Việt. Hôm trước y có về dự đại hội Thăng-long.

Triệu Thành gật đầu:

- Cô gia đã nhận ra y.

- Còn Tào Minh, trước đây phụ thân y làm Đại đô-đốc thủy quân của nước Ngô-Việt. Sau khi Ngô-Việt bị vua Thái-tông bản triều diệt vào niên hiệu Thái-bình hưng quốc thứ ba (978). Y đem thủy quân ra biển lập bang Đường-lang, không chính, không tà. Y chết, con y là Tào Minh lên thế vị. Thế lực bang Đường-lang rất lớn.

- Cái tên Đường-lang sao ta nghe quen quá.

Minh-Thiên gật đầu xác nhận:

- Đường-lang là con bọ ngựa. Tổ tiên Tào Minh tên Tào Động, xuất thân đệ tử phái Thiếu-lâm. Y làm nghề bảo tiêu. Một hôm trên đường đi săn. Y thấy con se sẻ mổ con bọ ngựa. Con bọ ngựa dùng hai càng chống lại. Từ đó y ly khai phái Thiếu-lâm, lập ra phái Đường-lang. Võ công Đường-lang rất hiểm độc. Trong cái chính gốc Thiếu-lâm, có cái tà môn của côn trùng.

Tào Minh, tức người chỉ huy con thuyền nhỏ cười khành khạch:

- Được. Ta với người đánh cuộc. Bên ta cử ra ba người. Bên người cử ra ba người đơn đấu. Nếu bên ta thắng hai. Bên người phải trao cái ấy cho ta. Còn ngược lại, bên người thắng. Chúng ta nguyện rút lui.

Sử Anh cười ha hả:

- Được, người cử ra trước đi.

Triệu Thành bảo Địch Thanh:

- Đây thuộc lãnh hải Trung-quốc. Cô-gia giữ chức Phụ-quốc thái-úy. Cô-gia hiện diện, nhất thiết mọi việc đều do cô-gia xử lý. Người dạy bảo chúng đi.

Địch Thanh hô lớn:

- Xuất hiện!

Ba tiếng pháo hiệu nổ. Hai lá cờ Tống, Việt cùng kéo lên chót vót cột cờ. Thủy thủy gươm giáo sáng choang đồng xuất hiện. Uy thế cực kỳ dũng mãnh. Sử Anh, Tào Minh cùng kinh ngạc.

Tào Minh hỏi:

- Là binh thuyền nào? Ai ở trên thuyền ấy?

- Phụ-quốc thái-úy, Tổng-đốc quân mã trọng sự Bình-Nam vương nhà Đại-Tống.

- Bình-Nam vương ở kinh sư, chứ đời nào lại đi một con thuyền trên biển. Chắc bọn mi thuộc phường trộm cướp xưng láo rồi.

Tuy nói vậy, mà giọng Tào Minh có vẻ núng thế. Soái thuyền ép sát vào thuyền bang Đường-lang. Địch Thanh, Dư Tĩnh cùng nhảy sang. Tào Minh quát:

- Hai người thông báo tên họ đi.

Địch Thanh nói lớn:

- Dư Tĩnh, An-phủ sứ Quảng-Tây lộ. Địch Thanh, võ trạng.

Tào Minh ủa lên một tiếng kinh ngạc. Y hành lễ:

- An-phủ sứ cùng Địch trạng-nguyên ở đây thực hay quá. Xin hai vị chủ trì cho một việc.

Y chỉ sang thuyền bang Hồng-hà:

- Thuyền kia thuộc bang Hồng-hà. Chúng chỉ được phép đến Khâm-châu buôn bán. Thế mà chúng lén vượt biển lên tới trên này. Đã thế chúng còn chống lại người của thiểm bang. Vì vậy thiểm bang đuổi theo, bắt y phải chịu lỗi. Y cứng đầu, chống trả.

Dư Tĩnh đã gặp Sử Anh hôm đại hội Lộc-hà. Y được biết thế lực bang Hồng-hà rất lớn, bao trùm sông, biển Đại-Việt. Trong kế hoạch thu dụng nhân tâm, Triệu Thành chú ý đến bang này rất nhiều, mà chưa có dịp. Nay thấy Tào Minh tố cáo vậy, Tĩnh hỏi:

- Sử bang chủ! Lâu nay vẫn mạnh giỏi chứ. Thời gian qua mau thực. Mới hôm nào gặp Sử bang chủ tại đại hội Thăng-long, thấm thoắt mấy tháng qua rồi.

Sử Anh thấy Dư Tĩnh, Địch Thanh, ông đồ chừng hai người này hiện diện, ắt Triệu Thành có mặt. Ông tươi mặt, kính cẩn hành lễ:

- Dư đại nhân. Tiểu nhân xin bạo gan hỏi thăm đại nhân, hiện Bình-Nam vương gia có đây không? Tiểu nhân mong được yết kiến người.

Dư Tĩnh chỉ sang chiến thuyền:

- Vương gia hiện ở bên kia. Nào mời Tào, Sử bang chủ sang để người phán xét.

Bất đắc dĩ Tào Minh phải cùng Sử Anh sang chiến thuyền Đại-Việt. Lên đến nơi, thấy quân khí hùng tráng. Y đâm hoảng.

Thiếu-Mai nói nhỏ vào tai Triệu Thành:

- Vương gia lấy lễ đãi kẻ sĩ, thu phục nhân tâm, dùng vào đại sự.

Triệu Thành đang định hạch sách theo thói quen của người cầm đại quân. Nghe Thiếu-Mai nhắc nhở, y đứng dậy kéo ghế, nói:

- Hai vị bang chủ có gì tranh chấp nhau mà phải dụng võ? Hãy ngồi đây uống mấy chung rượu đã.

Sử Anh, Tào Minh từng nghe danh Phụ-quốc thái-úy Bình-Nam vương, quyền nghiêng nước, ắt hẳn phải hách dịch, bang bạnh lắm. Không ngờ trước mặt họ, chỉ thấy một trung niên nam tử rất ôn nhu, khiên cung.

Triệu Thành đi một vòng giới thiệu những người hiện diện. Vì y nghĩ: muốn khuất phục hai tên nửa lương dân, nửa đầu trộm đuôi cướp này, cần phải có sức mạnh. Y giới thiệu những Đông-Sơn, Minh-Thiên, Địch Thanh đã đành, mà còn giới thiệu Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nữa.

Quả nhiên, Sử Anh thấy Mỹ-Linh, Thiệu-Thái, thì kính cẩn hành lễ:

- Tiểu nhân Sử Anh thuộc bang Hồng-hà xin tham kiến giáo chủ cùng công chúa.

Tào Minh cũng chắp tay:

- Tiểu nhân buôn bán dọc một giải biên thùy Tống-Việt, hằng nghe đại danh giáo chủ cùng công-chúa. Hôm nay mới được yết kiến.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

- Sử bang chủ tuân lệnh chú ta, lập ra bang Hồng-hà, với mục đích thu lượm tin tức. Như vậy Sử làm việc gì, thì việc đó đều do lệnh chú ta. Ta phải gỡ rối cho y.

Nghĩ vậy nàng phất tay:

- Tào bang chủ. Không biết Sử bang chủ có điều gì làm bang chủ buồn lòng, đến nỗi xích mích như vậy? Đây thuộc lãnh hải Đại-Tống, bang chủ hãy đem đầu đuôi câu truyện ra, để Bình-Nam vương gia xử lý cho.

Triệu Thành thân bưng hũ rượu rót đầy các chung, tay cầm chung rượu dơ lên:

- Khoan nói ai phải, ai trái. Chúng ta hãy uống chung rượu ghi lần tao ngộ trên biển Đông này đã. Nào mời các vị cùng cô-gia uống rượu đã. Truyện gì đâu còn đó. Nào đầu bếp đâu, mau đọn đồ nhắm tốt ra đây, để chúng ta đồng ẩm.

Mỹ-Linh cầm chung rượu trao cho Tào Minh:

- Tào bang chủ! Tôi theo đạo đức Thế-tôn, giới tửu. Chung rượu này xin bang chủ đỡ dùm.

Tào Minh đỡ chung rượu:

- Đa tạ công chúa ban thưởng.

Tào Minh uống can chung rượu. Y ngẫm nghĩ một lúc, rồi hỏi:

- Không biết rượu vương gia ban đây là rượu gì? Tiểu nhân chưa từng nếm qua. Rõ ràng nồng độ rượu cao, mà hương thơm lại dịu. Rượu nhập vị, lập tức tỏa ra thực mau. Sau khi uống, hương, vị còn đậm đà một lúc mới hết.

Vừa nói, y vừa xốc lại cái áo khoác ngoài. Mỹ-Linh lét thấy nút áo trên ngực y có sợi chỉ đỏ. Nàng chửi thầm:

- Tào-Minh, Sử Anh đóng kịch hay quá. Đến mình mà còn tưởng họ gây sự với nhau, e rằng Triệu Thành khó mà biết được. Thì ra cả hai cùng tuân mệnh lệnh Khu-mật viện đây. Im xem họ làm gì?

Đối với thứ rượu Mỹ-Linh mang tới, Triệu Thành không biết gì hơn. Y đưa mắt nhìn Dực-Thánh vương. Vì lần đầu tiên y uống thứ rượu này.

Vương chỉ Mỹ-Linh:

- Đây là một trong bốn hũ rượu Bình-Dương mang theo, tiểu vương cũng không biết nó tên gì.

Mỹ-Linh chỉ Thiệu-Thái:

- Vua Bà Bắc-biên truyền anh em tiểu nữ mang theo bốn hũ rượu cực kỳ trân quý, gọi là chút thổ sản dâng vương gia. Nếu vương gia thấy xơi đựợc, người sẽ cử sứ sang dâng tiếp.

Nàng bưng ra hũ thứ nhì, mở nắp, để tay trái lên hũ, vận khí truyền vào. Lập tực rượu vọt lên như cái vòi hướng mấy cái chung trống. Tuyệt ở chỗ, sau khi đầy, vòi lại hướng chúng khác, không một giọt bắn ra ngoài.

Mọi người vỗ tay hoan hô.

Triệu Thành cầm chung rượu đưa lên, miệng đọc hai câu thơ của Lý Bạch:

Xử thế nhược đại mộng,

Hồ vi lao kỳ sinh.

Nào chúng ta cạn chén.

Thiệu-Thái ít đọc sách, chàng không hiểu ý hai câu thơ, hỏi nhỏ Mỹ-Linh:

- Vương gia đọc thơ gì vậy?

- Đó là hai câu thơ của Lý-Bạch nghĩa là:

Ở đời như giấc chiêm bao.

Tội chi mà phải lao đao nhọc nhằn.

Dư Tĩnh xuất thân tiến sĩ. Y có chút danh vọng trên văn đàn thời bấy giờ. Hôm trước nghe Triệu Huy nói Mỹ-Linh đấu văn, thắng Ngô Tích. Y không tin một cô gái Nam-man có thể thông văn học Trung-quốc. Nay thấy Triệu Thành ngâm hai câu thơ Lý Bạch, mà Mỹ-Linh hiểu thấu, dịch sang tiếng Việt. Y hỏi:

- Ty chức nghe công-chúa điện-hạ thuộc giới bút mặc văn tự quán thế Đại-Việt. Không biết bài thơ trên của Thanh-liên cư-sĩ công chúa còn nhớ không? Lâu ngày ty chức quên mất rồi.

Nghe Dư Tĩnh hỏi, Mỹ-Linh cười thầm trong tâm:

- Tên này muốn thử mình đây. Y đã đậu tiến sĩ, thơ hay, lại nổi danh thích rựơu chẳng lẽ không thuộc bài "Xuân nhật túy khởi ngôn chí" (Ngày xuân ngủ say, khi tỉnh dậy nói chí mình)? Hiện chú hai đang dàn mọi phương tiện, khiến Triệu Thành phản chúa, cướp ngôi. Chú an trí ta với Thiếu-Mai cạnh Thành. Ta cần phải chinh phục bọn tùy tùng của Thành, mới mong mỗi lời nói, không bị chúng bác bỏ. Về võ công, đương nhiên ta bỏ xa chúng. Bây giờ cần khuất phục chúng bằng văn chương. Tuy vậy phải khéo léo, bằng không hoá ra gây thù chuốc oán với chúng.

Nghĩ vậy nàng mỉm cười:

- Dư tiến sĩ thực khéo ban lời khen tặng, khiến cho tôi cảm thấy thẹn thùng. Tuy nhiên người đã hỏi, tôi đâu dám không thưa? Về bài Xuân nhật túy khởi ngôn chí rằng hay thì thực là hay. Song đối với chúng ta, lại không hợp tý nào cả.

Triệu Thành không thuộc bài thơ này. Y hỏi:

- Không biết bài thơ đó ra sao mà công chúa bảo không hay đối với chúng ta?

Mỹ-Linh cất cao giọng ngâm:

Xử thế nhược đại mộng,

Hồ vi lao kỳ sinh.

Sở dĩ chung nhật túy,

Đồi nhiên ngọa tiền doanh.

Giác lai miện đình tiền.

Nhất điểu gian hoa minh.

Tá vấn thử hà nhật,

Xuân phong ngữ lưu oanh.

Cảm chi dục thán tức,

Đối tửu hoàn tự khuynh.

Hạo ca đã minh nguyệt,

Khúc tận dĩ vong tình.(1)
Mọi người vỗ tay hoan hô. Thiếu-Mai quay sang nói với Dư Tĩnh:

- Dư đại nhân thấy không? Chúng ta muôn dặm phò tá quân vương, gây sự nghiệp Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang. Xưa kia Chu công đang ăn cơm, thấy hiền tài tới, vội nhả cơm, tiếp khách. Người xưa như vậy, ta phải học theo. Thơ Lý hay thì thực hay, song chúng ta chẳng nên theo gương Lý, coi đời như giấc mộng phù ảo.

Nàng bưng hũ rót một lượt vào các chung. Vương Duy-Chính nói:

- Thánh nhân xưa dùng rượu để tế trời, cúng tiên vương, ban thưởng sĩ tốt. Cho nên nói: Nam vô tửu như kỳ vô phong. Nhưng uống rượu nhiều quá, thần minh bị lấp. Rượu làm hại gan, đốt cháy phổi. Chúng ta, những người thức thời, lấy rượu để đàm văn luận võ, đó chính cái thú phong nhã vậy. Lý Bạch coi rượu là thánh, là thần, e quá đáng. Nào công chúa, xin công chúa ngâm thêm bài thơ nữa của Lý Bạch làm hứng ẩm tửu.

Mỹ-Linh ngâm tiếp:

Khuyến quân mạc cự bôi,

Xuân phong tiếu nhân lai.

Đào lý như cựu thức,

Khuynh hoa hướng ngã khai.

Lưu oanh đề bích thụ,

Minh nguyệt khuy kim bôi.

Tạc nhật chu nam tử,

Kim nhật bạch phát thôi.

Cước sinh Thạch-hổ điện,

Lộc tẩu Cô-tô đài.

Quân nhược bất ẩm tửu,

Tích nhân an tại tai?

Cử tọa chưa kịp vỗ tay, Mỹ-Linh chuyển dịch, ngâm Sa-mạc:

Khuyên anh đừng khước rượu mời,

Gió Xuân phây phẩy như cười với ta.

Hoa đào hoa mận nở to,

Cùng nhau nghiêng cánh về ta mỉm cười.

Chim oanh ca hót cành ngoài,

Trăng khuya rọi ánh sáng ngời chén say.

Hôm nào, còn khóc oa oa,

Hôm nay tóc bạc, nghĩ mà thảm thương.

Nếu anh chẳng uống cho cùng,

Người xưa đâu tá, ta ngồi nhớ nhung:

Cô-tô dấu cũ, hươu lồng,

Lâu đài Thạch-hổ, cỏ chồng lên nhau.

Vương Duy-Chính hỏi Mỹ-Linh:

- Dường như công chúa thích thơ Lý lắm thì phải? Lý là đại thi hào thời thịnh Đường, được người đương thời tặng cho danh hiệu thi tiên. Còn Đỗ Phủ được phong làm thơ thánh, mà công chúa lại không ưa nghĩ cũng lạ...

Mỹ-Linh lắc đầu:

- Tôi không mấy thích thơ Lý. Ngược lại tôi thích Đỗ hơn. Đỗ như một người lăn xả vào giúp đời. Còn bảo thơ Lý hay nhất, e còn phải bàn lại. Như khi qua lầu Hoàng-hạc, Lý đã phải chịu thua Thôi Hạo.

Triệu Anh không biết nhiều về giai thoại văn chương. Y hỏi:

- Công chúa! Lý chịu thua Thôi ra sao?

- Nguyên Thôi Hạo qua lầu Hoàng-hạc ở Bắc thành Vũ-xương, có làm bài thơ như sau:

Tích nhân dĩ thừa Hoàng-hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng-hạc lâu.(2)

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tải không du du.

Tình xuyên lịch lịch Hán-dương thụ.(3)

Phương thảo thê thê Anh-vũ châu.(4)

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng xử nhân sầu. (5)

... nhưng kém Thôi nhiều.

Triệu Thành nghe Mỹ-Linh luận bàn, y thích quá:

- Công chúa có thuộc bài thơ đó không?

- Khải tấu vương gia có.

Rồi nàng cất tiếng ngâm:

Phượng hoàng đài, phượng hoàng du,(6)

Phượng khứ đài không giang tự lưu.

Ngô cung hoa thảo mai u kính,(7)

Tấn đại y quan thành cổ khâu.(8)

Tam sơn bán lạc, thanh thiên ngoại,(9)

Nhị thủy chung phân Bạch-lộ châu.(10)

Tổng thị phù vân năng tế nhật,

Trường-an bất kiến xử nhân sầu.(11)

Cử tọa vỗ tay. Mỹ-Linh hỏi Vương Duy-Chính:

- Vương chuyển-vận sứ. Không biết trong các thi hào Trung-quốc, Vương tiên sinh thích vị

nào nhất?

Vương Duy-Chính trầm ngâm nhìn trời một lát, rồi đáp:

- Kể ra thích, thì ty chức thích nhiều lắm. Thơ văn Trung-quốc như rừng như biển. Tuy vậy ty chức thích nhất Sở từ Khuất Nguyên.

Mỹ-Linh nghĩ thầm:

- Thằng cha này khôn hơn Dư Tĩnh nhiều. Y nói thích Sở từ của Khuất Nguyên, vì Khuất-Nguyên có chân tài, bị Sở Hoài-Vương phụ lòng, mà ông không thay đổi chí hướng. Cho đến chết vẫn còn tưởng nhớ quân vương. Bản lĩnh làm quan của tên này cao thực.

Nghĩ vậy nàng cất tiếng ngâm một đoạn trong bài Ly-tao, rồi nói:

- Thiên kinh, địa nghĩa, nam nhi đại trượng phu, gánh vác hai chữ trung-quân thực đáng khen thay.

Nàng bưng hũ rượu thứ ba, rót đầy vào các chung, rồi bưng một chung trao cho Vương Duy-Chính:

- Mời vương chuyển vận sứ cạn chung này.

Duy-Chính nói câu cảm tạ, rồi bưng rượu uống.

Mỹ-Linh trao chung rượu cho Tào Minh:

- Tào bang chủ, mời bang chủ cạn chung này, xin phẩm bình cho rượu có ngon không?

Tào Minh uống cạn, ngẫm nghĩ một lúc, rồi nói:

- Chà thứ rượu này khác hẳn với thứ rượu ban nãy. Hương vị thoang thoảng như hương sen, mùi vị như có như không, mà tan vào tỳ vị mau hơn nữa.

Mỹ-Linh mỉm cười:

- Tào bang chủ thực xứng đáng với danh hiệu Vạn chung lang mà giang hồ tặng cho. Thứ rượu đầu tiên là rượu đậu nành. Thứ rượu sau là rượu nấu bằng nước lá sen.

Triệu Huy làm quan đã lâu. Y nếm không thiếu gì loại rượu. Rượu đậu nành, rượu lá sen, y từng nếm qua. Song mùi vị không giống loại rượu Mỹ-Linh mang tới. Y hỏi:

- Công chúa! Tiểu tướng đã từng uống rượu đậu nành, rượu nước lá sen, song không giống thứ rượu này.

Mỹ-Linh đã từng nghe ngự trù giảng giải cùng nấu rượu. Nàng thuộc lòng tính chất cùng cách nấu. Nghe Triệu Huy hỏi, nàng nghĩ thầm:

- Tên này khôn thực. Hôm trước Tự-Mai thẩm vấn Quách Quỳ. Quỳ khai rằng hiện mỗi năm Tống đòi Đại-Việt phải cống các loại rượu: đậu nành, cắc kè, thập đại danh hoa và nếp than nấu bằng nước lá sen. Tên này đã làm thị-vệ hoàng-cung. Chắc y muốn tò mò, để hiểu về thuật cất rượu của Đại-Việt đây. Tội gì ta nói cho chúng nghe nhỉ?

Nàng đánh trống lảng:

- Triệu thống chế quả thực kinh lịch. Rượu đậu nành tuy cùng dùng chất liệu giống nhau, nhưng cách cất cùng tính chất thổ ngơi khác nhau. Nên mùi vị khác nhau, có gì là lạ.

Nàng rót rượu thập đại danh hoa mời mọi người, tay bưng chung rượu của mình mời Tào Minh:

- Tào bang chủ. Không hiểu nguyên do nào bang chủ cùng với Sử bang chủ đây sinh ra bất hoà vậy? Bang chủ có thể trình Vương-gia. Vương-gia xử lý cho chẳng hay ư?

Tào Minh cầm chung rượu uống cạn, rồi kính cẩn hướng vào Triệu Thành:

- Khải tấu Vương-gia! Từ trước đến giờ tệ bang với bang Hồng-hà vạch biển chia vùng. Bang Hồng-hà hoạt động từ eo biển Hải-nam trở xuống. Tệ bang hoạt động từ eo biển Hải-nam trở lên. Thế mà lần này bang Hồng-hà vi ước, dám vượt eo biển lên vùng Mân-Việt, không hỏi tệ bang lấy một lời. Như vậy thực khinh nhau quá đáng.

Triệu Thành hỏi Sử Anh:

- Trên chốn giang hồ, bọn võ lâm chúng ta lấy chữ tín làm trọng. Sử bang chủ đã ước hẹn với người sao còn vi phạm?

Sử Anh chắp tay:

- Khải tấu vương gia. Tiểu nhân thực có vi phạm ước với bang Đường-lang, nên đã cung kính xin lỗi, nhưng Tào bang chủ không chịu. Xét cho cùng, tiểu nhân vi phạm cũng có lý do trọng đại.

Triệu Thành ngắt lời:

- Sử bang chủ thử nói rõ lý do xem nào?

Sử Anh cung cung kính kính nói:

- Thưa vương gia. Cách đây mấy ngày, tiểu nhân đang đi trên vùng Ngọc-sơn. Lúc ấy vào giữa đêm, thấy đức Quan-thế-âm bồ tát hiện trên mây. Anh em tiểu nhận thụp xuống lạy. Ngài phán rằng hôm nay, vào khoảng giờ này, Thanh-y đồng tử, Văn-khúc tinh quân, Vũ-khúc tinh quân tuân chỉ Ngọc-Hoàng thượng đế giáng sinh. Sau Thanh-y đồng tử sẽ thành chính mệnh thiên tử. Văn-khúc tinh quân thành tể tướng, Vũ-khúc tinh quân sẽ thành nguyên nhung. Ngài lại dạy: bồ tát Đại-Huệ tuân chỉ Phật-tổ giáng sinh, để trợ giúp Thanh-y đồng tử. Vì vậy anh em tệ bang mới xin phép quan đề đốc Khâm-châu lên đây tiếp giá.

Triệu Thành nghe Sử Anh nói, y run lên:

- Quan-thế-âm có tả hình dạng ba vị đó ra sao không?

Sử Anh nói:

- Ngài trao cho tiểu nhân cuốn trục, dặn rằng đúng giờ Ngọ hôm nay mới được mở ra. Cho nên khi gặp anh em bang Đường-lang, đòi phải trao cuốn trục. Tiểu nhân nhất định không trao, vì vậy mới sinh ra cãi vã, rồi động thủ.

Dư Tĩnh cười:

- Tưởng gì chứ việc đó cũng dễ thôi. Bây giờ đúng Ngọ rồi. Sử bang chủ đem cuốn trục mở cho mọi người xem nào?

Sử Anh, Tào Minh bất quá là bang trưởng một bang hội. Ngày thường gặp viên quan huyện, đã phải khép nép. Bây giờ họ đứng trước một Bình-Nam vương, Phụ-quốc thái-úy, lại được mời uống rượu cùng nói năng nhỏ nhẹ. Nên hai người không dám cãi cọ nhau nữa.

Sử Anh trở về thuyền mình. Một lát y cầm sang một ống bằng bạc. Y cung cung kính kính dâng cho Triệu Thành. Thành tiếp lấy đưa cho Triệu Huy:

- Triệu thống chế. Người mở ra coi, xem hình thiên tử ra sao?

Triệu Huy cầm con dao nhỏ, tiện một vòng. Hộp bạc đứt ra làm hai. Bên trong có cuốn trục. Y cầm cuốn trục mở ra. Mọi người cùng bật kêu lên tiếng úi chà.

Y dơ cho mọi người xem. Trong hình vẽ một con rồng vàng, đầu giống hệt đầu Triệu Thành. Con rồng vàng đang bay lượn trên không. Cạnh đó, có con bạch hổ bay phía sau. Đầu con bạch hổ giống hệt Địch Thanh. Xa chút nữa, có hai vị văn quan, sắc phục thừa tướng. Một người mặt giống hệt Dư Tĩnh. Một người giống hệt Vương Duy-Chính. Phía trước một vị Bồ-tát, mặt giống hệt Minh-Thiên.

Sử Anh, Tào Minh cùng quỳ gối trước Triệu-Thành:

- Bọn hạ thần xin khấu đầu trước thánh thiên tử.

Triệu Thành mừng không bút nào tả xiết. Y đỡ hai người dậy:

- Việc này cần giữ kín. Bằng không cô-gia sẽ bị hại.

Sử, Tào cùng tâu:

- Bệ hạ ban chỉ, bọn hạ thần xin hết sức giữ kín.

Triệu Thành nhỏ nhẹ:

- Hai vị đã biết ta, nên kết thân với nhau, cùng ta xây đại nghiệp. Từ nay đừng gây với nhau nữa.

Tào Minh nắm tay Sử Anh:

- Mong sư huynh thứ tội cho đệ.

Triệu Thành thân mời mọi người uống rượu. Cuối tuần rượu y nói:

- Sử, Tào bang chủ về chỉnh bị lại anh em trong quý bang. Đợi khi cô-gia khởi sự, phải hưởng ứng. Sau này các vị sẽ là khai quốc công thần. Cô-gia trao cho hai vị thống lĩnh anh em giang hồ trên mặt biển từ vùng Mân-Việt tới Giao-chỉ.

Nói dứt y sai Dư Tĩnh viết một mệnh lệnh trao cho hai người. Lấy ấn đóng vào, rồi y ký tên.

Sử Anh cầm lên đọc:

Bình-Nam vương, Phụ quốc thái úy, quản Khu-mật viện, Tổng đốc quân mã trọng sự, lệnh cho Sử Anh, Tào Minh kinh lý trên biển một giải từ Mân-Việt tới Giao-chỉ. Bá quan văn võ từ cấp Đề đốc, Tuyên-vũ sứ phải tuân lệnh điều động của hai người.

Hai người cúi đầu lậy tạ. Sau bữa cơm, Sử Anh hai tay dâng lên Mỹ-Linh một cuốn sách:

- Khải tấu công chúa điện hạ. Thần xin kính dâng công chúa điện hạ bộ kinh Lăng-già, mà hạ thần mới thỉnh được ở chùa Chế-chỉ ở Quảng-châu.

Mỹ-Linh hai tay tiếp kinh, tỏ ý cảm ơn:

- Quý quá! Sử bang chủ thỉnh kinh cho tôi, thực không gì phúc đức bằng.

Hai bang chủ trở về thuyền, rồi cất buồm, kẻ Nam, người Bắc.

Dư Tĩnh nói với Triệu Thành:

- Sự thể thần linh báo mộng khắp nơi. Thần sợ truyện tới tai Lưu hậu, e nguy cho vương gia.

Thiếu-Mai cười:

- Tôi nghĩ khi Vương-gia là thiên-tử, chính Lưu hậu cũng phải khuất phục. Tuy vậy chúng ta cần đề phòng vẫn hơn.

Dư Tĩnh hỏi Mỹ-Linh:

- Công chúa! Anh hùng trong thiên hạ hiện chỉ có chúa công tôi với Khai-Quốc vương. Mệnh trời định, mỗi người một giang sơn. Hôm trước đây, vì không biết, nên chúng tôi có chút mạo phạm với Khai-Quốc vương. Ty chức mong công-chúa đứng trung gian giảng hoà giữa chủ nhân tại hạ với Khai-Quốc vương được chăng?

---------------------------

Ghi chú

(1)Trần-trọng-Kim dịch như sau:

Ở đời tựa giấc chiêm bao,

Làm chi mà phải lao đao nhọc nhằn.

Suốt ngày mượn chén khuây tình,

Say rồi nghiêng ngửa bên mành hằng ba.

Tỉnh ra trông mé trước nhà,

Một con chim hót trong hoa ngọt ngào.

Hỏi xem ngày ấy, ngày nào?

Chim oanh ríu rít đón chào gió Đông.

Thở than cảm xúc nỗi lòng.

Chuốc thên ít chén, say cùng cảnh vui.

Hát ngao chờ bóng trăng soi,

Ca vừa dứt khúc, đã nguôi mối tình.

(2)(3)(4)(5)Trần Trọng-Kim dịch như sau:

Lên Phượng-Hoàng đài ở Kim-lăng.

Phượng-hoàng đến Phượng-hoàng đài,

Phượng đi, đài bỏ, nước trôi lạnh lùng.

Cỏ hoa lấp lối Ngô cung,

Y quan đời Tống, nay trông thấy đồi.

Mịt mù ba núi mầu trời.

Bãi kia Bạch-lộ nước trôi hai giòng.

Đám mây che khuất vầng hồng,

Trường-an không thấy, nỗi lòng băn khoăn.

(6) Phượng-hoàng đài, tương truyền thời Nam-Bắc triều, khoảng niên hiệu Nguyên-gia (424-452) đời Tống. Nhân người ta thấy ở núi gần Kim-lăng có thứ chim ngũ sắc đến đậu. Người đương thời gọi chim ấy là phượng-hoàng. Chỗ chim đậu, người ta dựng một đài kỷ niệm, đặt tên đài Phượng-hoàng. Nay thuộc nội thành Nam-kinh.

(7) Ngô-cung, cung điện triều Ngô. Ý chỉ thời gian qua mau, cảnh trí tang thương.

(8)Tấn đại, thời Tấn. Ý như chú thích (7)

(9) Tam-sơn, có nhiều núi mang tên Tam-sơn. Thứ nhất nằm trên mạn Bắc hồ Động-đình. Tương truyền Quốc-tổ Lạc-long-Quân cưới Quốc-mẫu Âu-Cơ, rồi lên núi Tam-sơn hưởng thanh phúc ba năm. Khi hai ngài lên núi, có chín vạn bông Tầm-xuân nở. Núi Tam-sơn mà Lý nói đến trong bài, thuộc phía Nam thành Nam-kinh.

(10)Bạch-lộ châu, cù lao con cò trắng. Cù lao Bạch-lộ nằm trên sông Tần-hoài thuộc Nam-kinh.

(11) Trường-an, kinh đô thời Tây-Hán của Trung-quốc.

Nên dùng (←) hoặc (→) chuyển chương

Chương trước
Chương sau